|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH TỈNH HÀ GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/HNGĐ - ST
Ngày 25/3/2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Phương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Bảo Long
2. Bà Nguyễn Thị Mai Hương
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Đánh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quang Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Quan Thị Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST - HNGĐ ngày 04/3/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang; nơi ở hiện nay: Thôn T, xã N, huyện X, tỉnh Hà Giang; số CCCD: [...], cấp ngày 16/4/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; vắng mặt.
Bị đơn: Anh Hoàng Văn Q, sinh ngày 26/01/1981; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang; số CCCD: [...], cấp ngày 21/9/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
Về quan hệ hôn nhân
Trong đơn khởi kiện ngày 07/10/2024, bản tự khai ngày 19/12/2024 nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày: Chị Hoàng Thị L và anh Hoàng Văn Q kết hôn với nhau từ ngày 23/4/2015 trên cơ sở tự nguyện và có tổ chức đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Thời gian đầu chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2017 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách không hòa hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi vã, xúc phạm đến danh dự của nhau. Vợ chồng cũng đã cùng nhau cố gắng khắc phục nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, sống không còn quan tâm đến nhau. Chị L đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở thôn T, xã N, huyện X, tỉnh Hà Giang để sinh sống. Nay chị L nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể tiếp tục, vì vậy chị L đề nghị Toà án giải quyết cho chị L được ly hôn với anh Q.
-
Về con chung:
Chị Hoàng Thị L trình bày: Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung, cháu thứ nhất là Hoàng Thiên Quỳnh L1, sinh ngày 04/11/2010, cháu thứ hai là Hoàng Nhật L2, sinh ngày 25/01/2015, cháu thứ ba tên là Hoàng Trung H, sinh ngày 24/10/2016. Do chị L và anh Q chung sống trước với nhau nên cháu L1 và L2 sinh ra trước thời điểm chị L và anh Q tổ chức đăng ký kết hôn, chị L khẳng định cháu L1 và L2 là con chung của chị L và anh Q. Hiện nay cả ba cháu đang ở với chị L. Khi ly hôn chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng cả ba cháu L1, L2, H. Chị L không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con.
Các cháu Hoàng Thiên Quỳnh L1, Hoàng Nhật L2 và Hoàng Trung H có nguyện vọng được ở với mẹ.
-
Về phần tài sản, công nợ: Chị L trình bày: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác của Tòa án cho anh Q nhưng nhưng anh Q đi làm thuê cho công ty Ngoại tỉnh, không có mặt ở địa phương nên Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản theo thủ tục tố tụng tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quang Bình, trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, trụ sở thôn L, xã T, nơi cư trú của anh Q nhưng từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa hôm nay anh Q không đến Tòa án để trình bày yêu cầu của mình, cũng không có ý kiến bằng văn bản, tài liệu chứng từ gì cung cấp cho Tòa án. Anh Q đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Tại biên bản xác minh ngày 25/10/2024 và ngày 24/12/2024 đại diện Ủy ban nhân dân xã T, Trưởng thôn L, Công an xã T và Chủ tịch Hội phụ nữ xã T cho biết:
Anh Hoàng Văn Q có nơi cư trú tại thôn L, xã T nhưng hiện nay anh Q đang đi làm thuê cho công ty Ngoại tỉnh không có mặt tại nơi cư trú, anh Q không thông báo với chính quyền địa phương, nên hiện nay chính quyền địa phương không biết anh Q đang làm gì và địa chỉ cụ thể chỗ ở, chỗ làm việc của anh Q. Anh Q chỉ về nhà khi gia đình có công việc và ngày lễ, ngày tết. Qúa trình sinh sống gia đình anh Q gồm anh Q, chị L và các con của anh Q, ngoài ra không có người thân thích khác sống cùng nơi cư trú với anh Q. Chị L vợ anh Q hiện tại đã chuyển về nhà ngoại sinh sống.
Chị Hoàng Thị L và anh Hoàng Văn Q kết hôn với nhau từ ngày 23/4/2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Sau khi kết hôn chị L và anh Q làm ăn, sinh sống tại thôn L, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Quá trình sinh sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, còn nguyên nhân cụ thể dẫn đến mâu thuẫn thì chính quyền địa phương không biết, chỉ thấy hai vợ chồng không còn chung sống với nhau, không quan tâm gì đến nhau, chị L đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Quá trình chung sống chị L và anh Q có 03 con chung, cháu thứ nhất là Hoàng Thiên Quỳnh L1, sinh ngày 04/11/2010, cháu thứ hai là Hoàng Nhật L2, sinh ngày 25/01/2015, cháu thứ ba tên là Hoàng Trung H, sinh ngày 24/10/2016. Hiện nay các cháu đều theo chị L về nhà ông bà ngoại sinh sống. Về nguyện vọng khác của vợ chồng con thì chính quyền đại phương không nắm được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71,72, 96 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Viện kiểm sát đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56; các Điều 58, 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị L, giao cháu Hoàng Thiên Quỳnh L1, sinh ngày 04/11/2010, Hoàng Nhật L2, sinh ngày 25/01/2015 và cháu Hoàng Trung H, sinh ngày 24/10/2016 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Hoàng Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về phần tài sản, công nợ không xem xét đến và buộc đương sự phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn chị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Q và việc nuôi con chung của vợ chồng. Do đó Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và bị đơn anh Hoàng Văn Q cư trú tại thôn L, xã T, huyện Q nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quang Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L và anh Hoàng Văn Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh Q là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Về nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng tuy anh Q không đến Tòa án để trình bày và cũng không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án nhưng đại diện chính quyền địa phương cho biết quá trình chung sống giữa chị L và anh Q đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể thì chính quyền địa phương không nắm được, chị L và anh Q đã sống ly thân nhau, chị L về nhà ngoại sinh sống. Chị L khẳng định tình cảm vợ chồng không còn, sống không còn tôn trọng nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay không còn quan tâm đến nhau vì vậy không thể tiếp tục cùng nhau chung sống. Như vậy đã đủ cơ sở để kết luận quá trình chung sống giữa chị L và anh Q đã phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị L đề nghị được ly hôn với anh Q là có căn cứ, đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: Chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị L là người trực tiếp nuôi cả ba cháu Hoàng Thiên Quỳnh L1, Hoàng Nhật L2, Hoàng Trung H. Hiện tại cả ba cháu đang ở với chị L. Các cháu L1, L2, H đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Chị L khẳng định hiện nay điều kiện kinh tế của chị đủ để đảm bảo được cuộc sống của con. Vì vậy nguyện vọng được nuôi con sau khi ly hôn của chị L là để đảm bảo mọi mặt về quyền lợi của con chưa thành niên. Đề nghị được nuôi con của chị L là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Chị L không có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[5]. Về tài sản, công nợ: Chị L trình bày không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết phần tài sản chung, công nợ chung. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét đến.
[6].Về án phí: Chị Hoàng Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 238, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L ly hôn với anh Hoàng Văn Q.
Về con chung: Chị Hoàng Thị L là người trực tiếp nuôi dưỡng các cháu Hoàng Thiên Quỳnh L1, sinh ngày 04/11/2010, Hoàng Nhật L2, sinh ngày 25/01/2015, Hoàng Trung H, sinh ngày 24/10/2016. Anh Hoàng Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Hoàng Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002351 ngày 07/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.
Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, Điều 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Ngoài ra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình thi hành án có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 7b Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Hải Phương |
Bản án số 02/2025/HNGĐ - ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 02/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị Lên - Hoàng Văn Quang ly hôn
