Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 11-3-2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Minh

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Dương
  2. Bà Nguyễn Thị Hoan

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Huế – Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Hoàng Thị P, sinh năm 1984; nơi đăng ký HKTT: tổ dân phố G, phường Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở hiện nay: số nhà B, đường Q, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình.(có mặt)
  2. Bị đơn: anh Phạm Văn T, sinh năm 1980; nơi đăng ký HKTT: tổ dân phố G, phường Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở hiện nay: số nhà B, đường Q, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị P và anh Phạm Văn T được tự do tìm hiểu, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 29/8/2003 tại UBND xã Y, thị xã T (nay là phường Y, thành phố T), tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 12 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh T thường xuyên uống rượu và đánh chửi vợ con. Chị P đã nhiều lần báo chính quyền địa phương giải quyết, nhiều lần góp ý, trao đổi với anh T nhưng anh T vẫn không thay đổi thường xuyên chửi bới, đe dọa chị P và các con. Gần đây nhất là vào tháng 7 năm 2024 giữa chị P và anh T có cãi chửi nhau, đánh nhau và Công an phường T có triệu tập chị P và anh T lên trụ sở Công an phường T lập biên bản làm việc. Anh chị chính thức ly thân từ tháng 7/2024 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân cả hai anh chị đều không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Chị P xác định không còn tình cảm với anh T, mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị P đề nghị Tòa án giải quyết cho chị P được ly hôn với anh Phạm Văn T.

Về con chung: Chị P và anh T có 03 con chung là cháu Phạm Mai L, sinh ngày 11/4/2004; cháu Phạm Hương L1, sinh ngày 25/10/2006 và cháu Phạm Hoàng H, sinh ngày: 22/9/2014. Hiện nay, cháu L, cháu L1 đã thành niên, có khả năng lao động nên chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi dưỡng cháu. Chị P đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Hoàng H vì cháu H có nguyện vọng ở với chị P, chị P là người trực tiếp chăm sóc cháu từ bé cho đến nay. Từ tháng 7/2025, cháu H không còn chung sống cùng anh T nữa.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại chị P làm nghề lắp đặt điện nước cho các công trình xây dựng của nhà dân, thu nhập khoảng 10.000.000đ/tháng nên chị có đủ điều kiện kinh tế để nuôi con do đó chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị P xin chịu trách nhiệm nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Theo biên bản lấy lời khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn anh Phạm Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh T nhất trí như lời trình bày của chị Hoàng Thị P về thời gian tìm hiểu, việc đăng ký kết hôn của hai vợ chồng. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không có cùng quan điểm về xây dựng kinh tế gia đình, chị P không công khai về tài chính gia đình, ngoài ra anh T hay uống rượu dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm cãi chửi nhau, đánh nhau. Gần đây nhất là vào tháng 7 năm 2024 giữa anh T và chị P có cãi chửi nhau, đánh nhau và Công an phường T có triệu tập anh T và chị P lên trụ sở Công an phường T lập biên bản làm việc. Anh chị cũng chính thức ly thân từ tháng 7/2024 cho đến nay, trong thời gian ly thân anh chị không còn quan tâm tới nhau nữa. Anh T xác định tình cảm với chị P vẫn còn, vợ chồng co khả năng về đoàn tụ nên anh không đồng ý ly hôn với chị Hoàng Thị P.

Về con chung: Anh T nhất trí với lời trình bày của chị Hoàng Thị P, anh T và chị P có 03 con chung là cháu Phạm Mai L, sinh ngày 11/4/2004; cháu Phạm Hương L1, sinh ngày 25/10/2006 và cháu Phạm Hoàng H, sinh ngày: 22/9/2014. Nếu Tòa án giải quyết cho anh T và chị P ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết giao cho anh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phạm Hoàng H, còn cháu Phạm Mai L và Phạm Hương L1 đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con: anh T nhất trí với ý kiến của chị P, hiện nay anh T và chị P đều làm nghề điện nước, cụ thể là lắp đặt điện nước cho các công trình xây dựng của nhà dân, thu nhập khoảng 10.000.000đ/tháng.

Từ khi các cháu còn bé cho đến nay thì anh T và chị P đều chăm sóc các cháu. Từ tháng 7/2024, chị P và các con không ở cùng với anh T nữa. Từ đó anh T cũng chưa đưa tiền cho chị P nuôi con vì anh T chưa thanh toán được tiền các công trình. Chị P là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu từ đó cho đến nay. Nếu anh T được nuôi cháu H, anh T cũng không yêu cầu chị P phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh T không đồng ý ly hôn nên không chịu trách nhiệm nộp án phí.

Tại Biên bản xác minh ngày 27/12/2024, UBND phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình cung cấp: anh Phạm Văn T và chị Hoàng Thị P đăng ký tạm trú và sinh sống tại phường T, thành phố T từ năm 2015. Trong thời gian anh T và chị P sống tại địa phương thường xuyên xảy ra va chạm, cãi chửi nhau, đánh nhau, nguyên nhân là do anh T thường xuyên uống rượu. Tổ dân phố nhiều lần gặp mặt nhắc nhở nhưng không lập biên bản. Ngày 13/7/2024, chị P và anh T đánh nhau, công an phường và tổ dân phố đã lập biên bản làm việc. Từ khoảng tháng 7/2024, chị P và anh T không sống cùng nhau.

Tại Biên bản xác minh ngày 27/12/2024, Công an phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình cung cấp: trong thời gian chị P và anh T sống tại phường T xảy ra đánh chửi nhau, nguyên nhân là do anh T thường xuyên uống rượu. Ngày 13/7/2024, anh T và chị P có xảy ra đánh chửi nhau. Ngày 15/7/2024, công an phường T đã lập biên bản làm việc với anh T và chị P.

Tại Biên bản ghi ý kiến con chưa thành niên: Cháu Phạm Hoàng H có nguyện vọng muốn ở với mẹ nếu bố mẹ cháu ly hôn vì mẹ cháu quan tâm đến cháu hơn.

Tại đơn trình bày ngày 13/11/2024, cháu Phạm Mai L và cháu Phạm Hương L1 đều trình bày: từ năm 2019 cho đến nay anh T và chị P thường xuyên đánh chửi nhau khiến cho tâm lý các con không được ổn định. Từ khi chị P và 3 con ra ngoài ở riêng, anh T vẫn uống rượu say và đến quấy phá khiến cho tâm lý 4 mẹ con bị ảnh hưởng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự.

Quan điểm về việc giải quyết nội dung vụ án: áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị P, xử cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị P và anh Phạm Văn T.

Về nuôi con chung: giao cháu Phạm Hoàng H, sinh ngày: 22/9/2014 cho chị Hoàng Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: anh T không phải cấp dưỡng nuôi cháu Phạm Hoàng H.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị P và anh Phạm Văn T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hoàng Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng. Chị Hoàng Thị P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp nhận định:

  1. Về thẩm quyền:

    Chị Hoàng Thị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Phạm Văn T, anh Phạm Văn T có nơi cư trú tại thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

  2. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

    Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị P và anh Phạm Văn T đăng ký kết hôn vào 29/8/2003 tại UBND xã Y, thị xã T (nay là phường Y, thành phố T), tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự nguyện đến với nhau, không vi phạm điều cấm của pháp luật là hôn nhân hợp pháp.

    Cả chị P và anh T đều xác định vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều bất đồng trong xây dựng kinh tế gia đình, anh T hay uống rượu nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau thậm chí còn đánh nhau. Hai vợ chồng chính thức ly thân từ tháng 7/2024 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Đây là những tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Anh T không đồng ý ly hôn với chị P nhưng bản thân anh T cũng không có biện pháp hiệu quả để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Tòa án cũng tạo điều kiện về thời gian và tổ chức phiên hòa giải để anh T, chị P có thể cảm thông cho nhau cùng nhau đoàn tụ nhưng anh T lại vắng mặt tại phiên hòa giải chứng tỏ anh T cũng không tha thiết trong việc muốn đoàn tụ với chị P. Qua lời trình bày của chị P, anh T, của cháu L1, cháu L, xác nhận của chính quyền địa phương và công an phường T có thể thấy chị P, anh T thường xuyên xảy ra va chạm, đánh chửi nhau nên cả hai không có sự thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Mặt khác, anh chị đã ly thân từ tháng 7/2024 đến nay khiến cho tình cảm vợ chồng càng thêm xa cách, trong thời gian ly thân hai vợ chồng cũng không còn quan tâm đến nhau cũng như không có biện pháp để khắc phục mâu thuẫn. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vi phạm quy định tại Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu xin ly hôn anh Phạm Văn T của chị Hoàng Thị P là có cơ sở cần chấp nhận, xử cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị P và anh Phạm Văn T.

    Về nuôi con chung: Chị P và anh T đều thống nhất, anh chị có 03 con chung là cháu Phạm Mai L, sinh ngày 11/4/2004, cháu Phạm Hương L1, sinh ngày 25/10/2006 và cháu Phạm Hoàng H, sinh ngày: 22/9/2014. Cháu Phạm Mai L và cháu Phạm Hương L1 đã thành niên, có khả năng lao động nên chị P, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi dưỡng các cháu.

    Chị P và anh T đều có việc làm, thu nhập ổn định nên đều đủ điều kiện về kinh tế để nuôi con. Tuy nhiên, qua lời trình bày của cháu H cũng nhận thấy rằng thường ngày chị P là người quan tâm, chăm sóc cháu nhiều hơn, cháu H có sự gắn bó với chị P nhiều hơn nên cần xem xét nguyện vọng của cháu H để cho cháu được ổn định tâm lý, yên tâm học tập, hạn chế sự xáo trộn về môi trường sống. Do đó, cần giao cháu Phạm Hoàng H cho chị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn là phù hợp với quy định khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Tòa án đã giải thích các quy định của pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng chị P khẳng định có đủ điều kiện kinh tế để nuôi con nên không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Do đó, anh T không phải cấp dưỡng nuôi cháu H cùng chị P.

    Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị P và anh T đều không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:

    Về án phí dân sự sơ thẩm: trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên chị Hoàng Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 272; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 19; Điều 21; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị P về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Phạm Văn T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị P và anh Phạm Văn T.
  2. Về nuôi con chung:

    Giao cháu Phạm Hoàng H, sinh ngày: 22/9/2014 cho chị Hoàng Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi cháu Phạm Hoàng H.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Chị Hoàng Thị P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000459 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. Chị Hoàng Thị P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND thành phố Tam Điệp;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS thành phố Tam Điệp;
  • - UBND phường Yên Bình;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Thị Thu Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 02/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị P và anh Phạm Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger