Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN ĐỊNH

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18 - 02 - 2025

V/v: ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Hồng Đức

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Viết Nguyên; 2. Ông Trịnh Ngọc Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 139/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc "ly hôn, nuôi con chung", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị L, sinh năm 1990; Vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trịnh Duy T, sinh năm 1989; Vắng mặt.

Đều trú tại: thôn P, xã Y ( nay là xã Y), huyện Y, Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 27 tháng 9 năm 2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trịnh Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Trịnh Duy T qua tìm hiểu, kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới theo phong tục và làm đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y ( nay là xã Y), huyện Y, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 21/10/2011, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 13 năm thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã lẫn nhau; nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, anh T không tu chí làm ăn, hay bài bạc. Đến đầu năm 2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng vợ chồng đã sống ly thân đến nay. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trịnh Duy T.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là: Trịnh Duy T1, sinh ngày 17/7/2012; Trịnh Thanh N, sinh ngày 04/10/2016; Trịnh Mai A, sinh ngày 12/6/2019. Chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trịnh Mai A, sinh ngày 12/6/2019. Giao hai con chung của vợ chồng là Trịnh Duy T1, sinh ngày 17/7/2012 và Trịnh Thanh N, sinh ngày 04/10/2016 cho anh Trịnh Duy T trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.

Về tài sản và công nợ: Chị L xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Trịnh Duy T trình bày trong Bản tự khai và trong các buổi làm việc với Tòa án:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị L qua tìm hiểu, kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới theo phong tục và làm đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y ( nay là xã Y), huyện Y, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 21/10/2011, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 13 năm thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã lẫn nhau; nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, anh không đồng ý ly hôn đối với chị L vì xác định mâu thuẫn của vợ chồng không lớn.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là: Trịnh Duy T1, sinh ngày 17/7/2012; Trịnh Thanh N, sinh ngày 04/10/2016; Trịnh Mai A, sinh ngày 12/6/2019. Nếu phải ly hôn thì anh xin được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu Trịnh Duy T1, sinh ngày 17/7/2012 và Trịnh Thanh N, sinh ngày 04/10/2016. Giao con chung của vợ chồng là Trịnh Mai A, sinh ngày 12/6/2019 cho chị Trịnh Thị L trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.

Về tài sản và công nợ: Anh T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 10/01/2025, tại nhà riêng ông Trịnh Duy T2, địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện Y, Thanh Hóa là Bố đẻ của anh Trịnh Duy T, ông Trịnh Duy T2 cung cấp nội dung như sau: Chị Trịnh Thị L và anh Trịnh Duy T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 21/10/2011 tại UBND xã Y( nay là xã Y), huyện Y, Thanh Hóa. Sau khi vợ chồng anh T, chị L kết hôn thì về nhà ông sinh sống, được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, khi mâu thuẫn xảy ra thì ông và gia đình hai bên đã hòa giải cho anh chị nhưng không được, hiện nay vợ chồng anh T, chị L đã sống ly thân. Nay anh T và chị L muốn ly hôn thì gia đình cũng tùy theo quyết định của anh chị.

Về con chung: Vợ chồng anh T, chị L có 03 con chung là: Trịnh Duy T1, sinh ngày 17/7/2012; Trịnh Thanh N, sinh ngày 04/10/2016; Trịnh Mai A, sinh ngày 12/6/2019. Hiện nay cháu T1, cháu N đang ở với anh T tại nhà ông bà. Cháu Trịnh Mai A đang ở với chị Trịnh Thị L.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị L được ly hôn với anh Trịnh Duy T;

- Về tài sản và công nợ: không xem xét;

- Về con chung: Đề nghị HĐXX tuyên giao 02 cháu là Trịnh Duy T1, sinh ngày 17/7/2012; Trịnh Thanh N, sinh ngày 04/10/2016 cho anh Trịnh Duy T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao cháu Trịnh Mai A cho chị Trịnh Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Hai bên không yêu cầu cấp dưỡng việc nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Thực hiện theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Trịnh Thị L khởi kiện đề nghị giải quyết xin được ly hôn với anh Trịnh Duy T, cư trú tại: xã Y ( nay là xã Y), huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Định.

Qúa trình giải quyết vụ án Nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Nguyên đơn và bị đơn đều đến Tòa án làm việc nhưng không đến cùng nhau theo các Giấy triệu tập của Tòa án nên Tòa án không có biên bản hòa giải của hai vợ chồng. Tại phiên tòa hôm nay Nguyên đơn, bị đơn xin được xét xử vắng mặt vì đều đang làm việc ở xa không thể về tham dự phiên tòa được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt Nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Trịnh Thị L và anh Trịnh Duy T tự nguyện kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 21/10/2011, nên xác định quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T là hôn nhân hợp pháp. Nay chị L có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết xin được ly hôn với anh T với lý do tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T đã không còn hạnh phúc mà có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, công việc, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, chị L và anh T đã sống ly thân từ đầu năm 2024. Trong quá trình chung sống, chị L và anh T đã có chung với nhau 03 người con là: Trịnh Duy T1, sinh ngày 17/7/2012; Trịnh Thanh N, sinh ngày 04/10/2016; Trịnh Mai A, sinh ngày 12/6/2019. Trong đơn khởi kiện chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 cháu, tuy nhiên tại Bản tự khai ngày 12/11/2024 chị L yêu cầu Tòa án đồng ý với ý của anh T là giao hai cháu Trịnh Duy T1, sinh ngày 17/7/2012; Trịnh Thanh N, sinh ngày 04/10/2016. Chị xin được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trịnh Mai A, sinh ngày 12/6/2019. Về tài sản chung và công nợ chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án anh T trình bày: Anh và chị L đăng ký kết hôn vào ngày 21/10 /2011 tại UBND xã Y ( nay là xã Y), huyện Y. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Anh không đồng ý ly hôn với chị L vì anh cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng không lớn. Về con chung: anh T và chị L đã có chung với nhau 03 người con là: Trịnh Duy T1, sinh ngày 17/7/2012; Trịnh Thanh N, sinh ngày 04/10/2016; Trịnh Mai A, sinh ngày 12/6/2019. Nếu phải ly hôn thì anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu là Trịnh Duy T1, sinh ngày 17/7/2012; Trịnh Thanh N, sinh ngày 04/10/2016. Giành quyền cho chị L được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trịnh Mai A, sinh ngày 12/6/2019, không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và công nợ: vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hội đồng xét xử xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của chị L, xử cho chị Trịnh Thị L được ly hôn với anh Trịnh Duy T.

[3] Về con chung: Chị Trịnh Thị L và anh Trịnh Duy T có 03 con chung, là: Trịnh Duy T1, sinh ngày 17/7/2012; Trịnh Thanh N, sinh ngày 04/10/2016; Trịnh Mai A, sinh ngày 12/6/2019. Công nhận sự thỏa thuận của hai vợ chồng: Giao hai cháu Trịnh Duy T1, sinh ngày 17/7/2012; Trịnh Thanh N, sinh ngày 04/10/2016 cho anh T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao cháu Trịnh Mai A, sinh ngày 12/6/2019 cho chị Trịnh Thị L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.

[4] Về phần tài sản và công nợ: Chị L, anh T xác định vợ chồng không có tài sản chung và công nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Trịnh Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81. Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trịnh Thị L. Chị Trịnh Thị L được ly hôn với anh Trịnh Duy T.
  2. Về con chung: Chị Trịnh Thị L và anh Trịnh Duy T có 03 con chung, là: Trịnh Duy T1, sinh ngày 17/7/2012; Trịnh Thanh N, sinh ngày 04/10/2016; Trịnh Mai A, sinh ngày 12/6/2019.
  3. Giao cháu Trịnh Mai A, sinh ngày 12/6/2019 cho chị Trịnh Thị L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao hai cháu Trịnh Duy T1, sinh ngày 17/7/2012; Trịnh Thanh N, sinh ngày 04/10/2016 cho anh T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục, ko ai cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.

  4. Về tài sản chung và công nợ: Không xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Trịnh Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003620 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định. Chị Trịnh Thị L đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Yên Định;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Định;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Yên Ninh, H, Yên Định;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cao Hồng Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 02/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger