Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 15 - 12 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Nghiêm.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Vương và ông Lò Việt Huấn.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Sơn la.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Mùi Thị Quyên- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Sơn la; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 24/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc: Xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXX - HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phàng Thị X, sinh ngày 03/7/1999. Địa chỉ: Bản B, xã L, tỉnh Sơn La. Số CCCD : [...], ngày cấp 06/5/2025, có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Anh Hạng A N, sinh ngày 10/11/1996. Địa chỉ: Bản B, xã L, tỉnh Sơn La. Số CCCD : [...], có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Trong đơn khởi kiện ngày 09/10/2025, và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phàng Thị X trình bày:

Về tình cảm : Chị Phàng Thị X và Hạng A có tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã L, tỉnh Sơn La từ ngày 07/02/2017. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Anh chị sống ly thân từ tháng 3 năm 2025 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, anh chị không thể tiếp tục chung sống, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hạng A N.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chúng anh chị có 02 con chung là cháu Hạng Thị Nhật L, sinh ngày 08/09/2016 và cháu Hạng Tuấn M, sinh ngày 07/4/2018. Nguyện vọng của chị X sau khi ly hôn là trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai cháu Nhật L và Tuấn M cho đến khi hai cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Không đề cập đến vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Công việc chính hàng tháng của chị X là trồng trọt, chăn nuôi tại địa phương, thu nhập hàng tháng của bản thân làm ra là 10.000.000 đồng ( mười triệu đồng ).

Tại phiên tòa chị Phàng Thị X đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hạng Thị Nhật L, anh H A N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hạng Tuấn M cho đến khi các cháu trưởng thành, anh chị không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị đã tự thỏa thuận được, không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai trong các ngày 17, 22/10 /2025 và quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh H A N có ý kiến như sau:

Anh và chị Phàng Thị X có tìm hiểu và đi đăng ký kết hôn tại UBND xã L, tỉnh Sơn La vào ngày 07/02/2017, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng anh chị nhiều lúc cũng có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn anh N không nhất trí ly hôn với chị Phàng Thị X.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chúng anh chị có 02 con chung là cháu Hạng Thị Nhật L, sinh ngày 08/09/2016 và cháu Hạng Tuấn M, sinh ngày 07/4/2018. Nguyện vọng của của anh N sau khi ly hôn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai cháu Hạng Thị Nhật L và Hạng Tuấn M cho đến khi hai cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh N Yêu cầu chị Phàng Thị X cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền là 1.000.000 đồng/tháng/cháu. Thu nhập hàng tháng của anh N là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Về tài sản chung, nợ chung: Anh, chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Tại biên bản ghi lời khai ngày 22/10/2025 về việc lấy ý kiến của cháu Hạng Thị Nhật L, và Hạng Tuấn M đều có nguyện vọng là nếu bố mẹ các cháu ly hôn các cháu muốn ở cùng với mẹ là chị Phàng Thị X.

Tại biên bản xác minh ngày 03/11/2025 trong quá trình chung sống anh N và chị X thường xuyên mâu thuẫn, đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả.

- Ý kiến phát biểu của đại diên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, tại phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, tham gia tố tụng tuân theo và chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Đề nghị:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Phàng Thị X. Xử cho chị Phàng Thị X được ly hôn với anh Hạng A N.
  • - Về con chung: Giao cháu Hạng Thị Nhật L, sinh ngày 08/9/2016 cho chị Phàng Thị X được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Giao cháu Hạng Tuấn M, sinh ngày 07/4/2018cho anh Hạng A N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  • - Về tài sản chung, vay nợ chung: Chấp nhận việc các đương sự không yêu cầu xem xét giải quyết.
  • - Về án phí: Chị Phàng Thị X được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] - Về tố tụng: Bị đơn cư trú và làm việc tại xã L, tỉnh Sơn La nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] - Về hôn nhân: Chị Phàng Thị X và anh H A N kết hôn với nhau từ ngày 07/02/2017, trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Sơn La. Quan hệ hôn nhân giữa chị Phàng Thị X và anh H A N là hợp pháp theo quy định của pháp luật. Anh và chị chung sống hòa thuận hạnh phúc với nhau được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn của anh chị đã được gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Từ tháng 3 năm 2025 đến nay anh chị đã sống ly thân vợ chồng không ai quan tâm đến nhau. Chị Phàng Thị X cương quyết xin ly hôn, anh H A N không nhất trí, muốn quay về đoàn tụ. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Phàng Thị X và anh H A N không còn, tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xử cho chị Phàng Thị X được ly hôn với anh Hạng A N, theo quy định khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] - Về con chung: Trong thời gian chung sống chị Phàng Thị X và anh H A N sinh được 02 con chung là cháu Hạng Thị Nhật L, và Hạng Tuấn M, hiện nay các cháu đang ở cùng anh Hạng A N. HĐXX xét thấy yêu cầu của anh H A N và chị Phàng Thị X đều mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu đến tuổi trưởng thành. Xét điều kiện thực tế để nuôi dưỡng các con của chị X và anh N là ngang nhau, cũng như quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát tại phiên tòa. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho các cháu Hạng Thị Nhật L, và Hạng Tuấn M, đảm bảo cho hai cháu phát triển về mặt thể chất và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần. Giao cháu Hạng Thị Nhật L, sinh ngày 08/9/2016 cho chị Phàng Thị X được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Giao cháu Hạng Tuấn M, sinh ngày 07/4/2018cho anh Hạng A N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung, nhưng có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] - Về tài sản chung, nợ chung; Chị Phàng Thị X và anh Hạng A N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] - Về án phí; Chị Phàng Thị X là người dân tộc thiểu số sinh sống ở bản B, xã L, tỉnh Sơn La nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí, căn điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Q. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Phàng Thị X.

Về quyền kháng cáo: Chị Phàng Thị X và anh H A Nu có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, khoản 1, 2 Điều 81, Khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Q. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phàng Thị X.

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phàng Thị X được ly hôn với anh Hạng A N.
  2. Về con chung: Giao cháu Hạng Thị Nhật L, sinh ngày 08/9/2016 cho chị Phàng Thị X được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Giao cháu Hạng Tuấn M, sinh ngày 07/4/2018 cho anh H A N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phàng Thị X và anh Hạng A N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm cho chị Phàng Thị X.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Phàng Thị X và anh H A N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 15/12/2025./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKS khu vực 6 (2 bản );
  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh
  • - Phòng THADS khu vực 6 tỉnh Sơn La;
  • - UBND xã Lóng Sập;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Hồng Nghiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA về xin ly hôn

  • Số bản án: 02/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Phàng Thị X và anh Hạng A N kết hôn với nhau từ ngày 07/02/2017, trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Lóng Sập, tỉnh Sơn La. Quan hệ hôn nhân giữa chị Phàng Thị X và anh Hạng A N là hợp pháp theo quy định của pháp luật. Anh và chị chung sống hòa thuận hạnh phúc với nhau được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn của anh chị đã được gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Từ tháng 3 năm 2025 đến nay anh chị đã sống ly thân vợ chồng không ai quan tâm đến nhau. Chị Phàng Thị X cương quyết xin ly hôn, anh Hạng A N không nhất trí, muốn quay về đoàn tụ. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Phàng Thị X và anh Hạng A N không còn, tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xử cho chị Phàng Thị X được ly hôn với anh Hạng A N,
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger