|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I- QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST Ngày 02 - 7 - 2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Định.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Cường và bà Trần Thị Tuyết.
- Thư ký phiên toà: Bà Phùng Hương Giang -Thư ký Toà án nhân dân khu vực I -Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực I- Quảng Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Trương Thị Khánh Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2025 tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân khu vực I – Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 55/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2025/QĐXX-ST ngày 02/6/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 131/2025/QĐ-TA ngày 24/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1993
Địa chỉ: tổ D, khu A, phường H, thành phố H, (nay là phường H), tỉnh Quảng Ninh; hiện ở: tổ D, khu D, phường C, TP. (nay là phường C), tỉnh Quảng Ninh, văng mặt (có đơn xin xử án vắng mặt).
-
Bị đơn: Anh Lê Văn D, sinh năm 1987
Địa chỉ: tổ D, khu A, phường H, thành phố H (nay là phường H), tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 15/9/2023 cùng lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn D đăng ký kết hôn vào ngày 04/02/2013 tại UBND phường H, TP. (nay là phường H), tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Trước khi kết hôn anh chị có thời gian tìm hiểu nhau hơn 2 năm, khi đó chưa ai có vợ có chồng. Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh D có lỗi, thường xuyên đi chơi, uống rượu bia và về nhà có hành vi bạo hành chửi bới, xúc phạm chị H. Mâu thuẫn xảy ra có hàng xóm, cậu mợ, anh chị và mẹ chồng chị biết, gia đình nhà mẹ chị có lên can ngăn. Chị và anh D đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2024 đến nay, hiện tại chị đang ở nhà mẹ đẻ tại số nhà A tổ D, khu D, phường C, TP . (nay là phường C), tỉnh Quảng Ninh, còn anh D vẫn ở địa chỉ tại số nhà H tổ D, khu A, phường H, TP . (nay là phường H), tỉnh Quảng Ninh.
Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy chị H làm đơn này đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D.
- Về con chung: vợ chồng chị có 01 con chung là: Lê Khánh N, sinh ngày 04/9/2013. Chị đề nghị Toà án giao con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về tài sản chung và công nợ chung: vợ chồng chị không có tài sản chung, không vay nợ chung cá nhân hay tổ chức nào, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và công nợ chung.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, anh Lê Văn D không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập của Toà. Ngày 05/5/2025 Toà án tiến hành làm việc với anh D, anh D có trình bày: anh D đã nhận được thông báo thụ lý, giấy triệu tập của Toà án, nhưng do anh đi làm xa nhà, phụ thuộc vào công việc nên không đến Toà án theo giấy triệu tập được. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị H, anh đề nghị Toà án hoà giải cho anh và chị H về đoàn tụ, do anh không muốn ly hôn với chị H, giữa vợ chồng anh không có mâu thuẫn gì lớn, khoảng cuối năm 2024 chị H về nhà mẹ đẻ sinh sống nên vợ chồng anh sống ly thân từ đó đến nay. Nếu chị H kiên quyết ly hôn thì anh đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: anh có quan điểm sẽ giao con cho chị H được nuôi dưỡng con chung, anh không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: anh chị không có tài sản và không vay nợ chung cá nhân hay tổ chức nào, anh cũng không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ngày 17 tháng 4 năm 2025 Tòa án đã tiến hành xác minh tại tổ dân khu phố nơi anh D và chị H chung sống thì bà Phạm Thị K – Tổ trưởng tổ D, khu A, phường H cho biết: anh Lê Văn D và chị Vũ Thị H có đăng ký kết hôn và chung sống với nhau tại tổ D, khu A, phường H, thành phố H (nay là phường H), tỉnh Quảng Ninh từ tháng 02/2013, đến khoảng cuối năm 2024 thì chị H chuyển đến nơi khác sinh sống. Khi chị H chuyển đi thì chị H không nói với ai trong gia đình, cũng không thông báo với tổ dân khu phố. Trong thời gian chị H và anh D chung sống tổ dân khu phố không biết việc anh chị có mâu thuẫn với nhau, anh chị cũng không thông báo với chính quyền địa phương.
Bà Chu Thị U là mẹ đẻ anh D cũng cho biết thêm: trong thời gian chung sống, chị H và anh D sống cạnh nhà bà (cả hai căn nhà đều nằm trên cùng một thửa đất của bà). Giữa chị H và anh D cũng thi thoảng có cãi nhau. Hiện nay anh D vẫn cư trú tại tổ D, khu A, phường H, tuy nhiên anh D đang làm ăn tại M, Quảng Ninh. Vợ chồng anh D chị H đã sống ly thân từ cuối năm 2024 đến nay. Nay chị H có đơn khởi kiện xin ly hôn anh D tại Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án lấy lời khai con chung chưa thành niên - cháu Lê Khánh N, sinh ngày 04/9/2013 thể hiện: cháu hiện đang sống cùng mẹ tại địa chỉ tổ D, khu D, C, H, Quảng Ninh. Cứ cuối tuần thì cháu lại sang ở với bố tại tổ D, khu A, Hồ N, H, Quảng Ninh. Nếu bố mẹ ly hôn thì cháu muốn ở với mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực I- Quảng Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đó tiến hành đúng các thủ tục tố tụng; Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực I- Quảng Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025.
Về sự vắng mặt của đương sự: tại phiên tòa ngày 24/6/2025 anh D và chị H được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng anh D văng mặt không có lý do, chị H có đơn xin xử án vắng mặt. Tại phiên toà hôm nay chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh D vắng mặt không có lý do. Do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án khi vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: tại đơn xin ly hôn và tại các bản tự khai tại Tòa án, chị H khẳng định tình cảm giữa chị và anh D thực sự không thể hàn gắn được, vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 10/2024 đến nay, không còn quan tâm đến nhau và không còn khả năng đoàn tụ, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D.
Anh Dũng mong muốn được Toà án tiến hành hoà giải cho vợ chồng được đoàn tụ nhưng không đến Toà án theo giấy triệu tập và thông báo phiên hoà giải của Toà, đồng thời anh có quan điểm nếu chị H cương quyết xin ly hôn thì anh cũng đề nghị Toà án giải quyết theo quy định.
Hội đồng xét xử xét thấy, chị H và anh D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì mâu thuẫn đã xảy ra. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh D thường xuyên đi chơi, uống rượu bia và về nhà có hành vi bạo hành chửi bới, xúc phạm chị H. Quá trình mâu thuẫn anh chị không nhờ chính quyền địa phương hay gia đình hoà giải để vợ chồng về đoàn tụ, anh chị đã sống ly thân nhau mỗi người sống một nơi từ tháng 11 năm 2024 đến nay, không còn quan tâm đến đời sống tình cảm của nhau nữa. Bản thân anh D mong muốn được Toà án tiến hành hoà giải cho vợ chồng được đoàn tụ nhưng anh không đến Toà án để tham gia phiên hoà giải do Toà án triệu tập, điều này chứng tỏ anh D không có thiện chí hòa giải. Do đó thấy rằng tình trạng vợ chồng chị H và anh D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị H là có cơ sở phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận.
[3] Về con chung: Trong thời gian chung sống chị H và anh D có 01 con chung là: Lê Khánh N, sinh ngày 04/9/2013. Chị H đề nghị Toà án giao con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Quá trình giải quyết vụ án, anh D cũng có quan điểm nếu phải giải quyết ly hôn thì đề nghị Toà án giải quyết giao con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh D không cấp dưỡng nuôi con cùng chị H.
Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Lê Khánh N là con gái, đang sống ổn định với mẹ, cháu N có nguyện vọng ở cùng với mẹ, chị H có công ăn việc làm ổn định, đang làm Trưởng phòng nhân sự của công ty TNHH D1 có thu nhập ổn định với mức lương 10.000.000đồng/tháng, ngoài ra chị H còn có nhà riêng đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho con, nên việc giao con cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng sẽ thuận tiện hơn cho việc chăm sóc, đảm bảo phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Do đó, nguyện vọng nuôi con của chị H là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận việc chị H không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.
[4] Về tài sản chung và các khoản vay nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn khai không có tài sản chung, không vay nợ chung cá nhân hay tổ chức nào, không đề nghị Tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị H phải nộp án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025;
- - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H được ly hôn với anh Lê Văn D.
- Về con chung: Giao con chung Lê Khánh N, sinh ngày 04/9/2013 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Dũng không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H, nhưng có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001780, ngày 10/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực I- Quảng Ninh).
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Đ |
Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 02/07/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I - QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 02/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I - QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, giữa các đương sự: 1.Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1993 2. Bị đơn: Anh Lê Văn D, sinh năm 1987
