trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7-VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 02-7-2025.

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Mộng Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Phương Nga.
  2. Ông Nguyễn Xuân Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thu Trúc – Thư ký viên của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: bà Võ Thị Minh T – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 160/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1990;
  2. Địa chỉ thường trú: Số D, ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre. (sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã có tên gọi là xã T, tỉnh Vĩnh Long)

    Địa chỉ liên hệ: Số C Đ, Khu phố C, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã có tên gọi là phường B, tỉnh Vĩnh Long)

  3. Bị đơn: ông Lê Văn K, sinh năm 1986;
  4. Địa chỉ: Số B, ấp T, xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre. (sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã có tên gọi là phường A, tỉnh Vĩnh Long)

Tại phiên tòa, bà L và ông K vắng mặt (bà L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thanh L trình bày:

Sau một khoảng thời gian quen biết và tìm hiểu, bà và ông Lê Văn K đã tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 65, quyển số 01/2008 vào ngày 14/11/2008.

Trong thời kỳ hôn nhân ông bà có 01 người con chung là cháu Lê Minh K1, sinh ngày 04/03/2008, hiện tại cháu K1 đang sống cùng với bà và do bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cũng trong quá trình chung sống, bà và K bắt đầu xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cách sống, thường xuyên tranh cãi với nhau. Dù ông bà đã nhiều lần cố gắng nhằm duy trì mối quan hệ vợ chồng, mong hàn gắn tình cảm nhưng không đạt được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, không thể chung sống và hòa hợp trở lại được nữa. Bà nhận thấy sự bất đồng quan điểm trong cuộc sống ngày càng gay gắt, cuộc sống vợ chồng ngày càng bất hòa, mâu thuẫn của ông bà ngày càng trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích và kết quả hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục chung sống sẽ gây thiệt hại cho cả hai bên.

Hiện, bà và ông K đã ly thân với nhau từ khoảng tháng 11/2024 cho đến nay. Việc không còn sống cùng nhau càng làm cho những mâu thuẫn của ông bà không thể giải quyết được. Nay, mỗi người đều có cuộc sống riêng và không còn ai quan tâm đến nhau nữa. Do đó, ly hôn là cách tốt nhất để ông bà có cuộc sống tự do cho mỗi người. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết yêu cầu khởi kiện như sau:

  • Về hôn nhân: bà yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn K.
  • Về con chung: sau khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K1, bà không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung: bà và ông K tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: bà và ông K không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bà bận công việc nên không thể sắp xếp trực tiếp đến tham gia giải quyết việc ly hôn với ông K tại Tòa án được. Vì vậy, bà đề nghị xin vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, các buổi hòa giải, công khai chứng cứ của Tòa án cũng như được vắng mặt trong tất cả các phiên xét xử của Tòa án các cấp.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: nguyên đơn bà L thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Bà L có đơn xin xét xử văng mặt; bị đơn ông K không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù được tống đạt hợp lệ nên chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Về việc giải quyết vụ án: căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh L:

  • Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Thanh L được ly hôn với anh Lê Văn K.
  • Về con chung: giao cháu Lê Minh K1, sinh ngày 04/3/2008 cho bà Nguyễn Thị Thanh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận việc bà L không yêu cầu ông K cấp dưỡng cho con.
  • Về tài sản chung: bà L trình bày tự thỏa thuận nên không yêu cầu xem xét giải quyết.
  • Về nợ chung: bà L trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh L khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7-Vĩnh Long) giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Lê Văn K, cư trú tại xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre (sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã có tên gọi là phường A, tỉnh Vĩnh Long). Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7-Vĩnh Long.

Bà L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ theo quy định tại các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà L và ông K.

[2] Về quan hệ hôn nhân: bà L và ông K tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận kết hôn số 65, quyển số 01/2018 ngày 14/11/2008 nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

Tuy nhiên, theo lời trình bày của bà L thì trong quá trình chung sống, bà và ông Khởi phát S nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cách sống, thường xuyên tranh cãi với nhau. Dù ông bà đã nhiều lần cố gắng nhằm duy trì mối quan hệ vợ chồng, mong hàn gắn tình cảm nhưng không đạt được. Mâu thuẫn giữa ông bà ngày càng trầm trọng hơn và ông bà đã không chung sống với nhau từ tháng 11/2024 cho đến nay. Do ông bà không thể chung sống và hòa hợp trở lại được nữa, hôn nhân không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông K.

Đối với ông K thì sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo và tổ chức các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, đồng thời mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng ông K đều vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của bà L, bỏ mặc cho bà L tự giải quyết.

Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Tình nghĩa vợ chồng”:

“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”

Hội đồng xét xử xét thấy, bà L và ông K không còn tình nghĩa vợ chồng do không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và đã không chung sống với nhau trong thời gian dài. Như vậy, tình trạng hôn nhân của bà L và ông K đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà L xin ly hôn với ông K là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: theo hồ sơ vụ án và lời trình bày của bà L thì bà L và ông K có 01 người con chung là Lê Minh K1, sinh ngày 04/3/2008. Hiện cháu K1 đang sống với bà L và bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu K1. Về phía ông K thì không có ý kiến phản đối yêu cầu này của bà L và không có yêu cầu được trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con."

Xét thấy, hiện cháu K1 đang sống với bà L nên có sự gắn bó, thân thiết với bà L và để bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn trong môi trường sống, giáo dục của con nên Hội đồng xét xử xét thấy việc giao cháu K1 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về việc cấp dưỡng cho con: tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con” và tại khoản 1 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này...”. Do đó, bà L có quyền yêu cầu ông K cấp dưỡng cho cháu K1. Tuy nhiên, do bà L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: bà L trình bày bà và ông K tự thỏa thuận tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với ông K thì vắng mặt, không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà L phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010548 ngày 10/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh L.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Thanh L được ly hôn với ông Lê Văn K.

1.2. Về con chung: bà Nguyễn Thị Thanh L và ông Lê Văn K có 01 người con chung là Lê Minh K1, sinh ngày 04/3/2008.

Giao cháu Lê Minh K1, sinh ngày 04/03/2008 cho bà Nguyễn Thị Thanh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.

Ghi nhận bà Nguyễn Thị Thanh L không yêu cầu ông Lê Văn K có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc cấp dưỡng cho con.

Trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

1.3. Về tài sản chung, nợ chung: bà Nguyễn Thị Thanh L trình bày bà và ông Lê Văn K tự thỏa thuận tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với ông Lê Văn K thì vắng mặt, không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc bà Nguyễn Thị Thanh L phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010548 ngày 10/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm (nay là Phòng Thi hành án dân sự - Vĩnh Long).

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND khu vực 7-Vĩnh Long;
  • - THADS tỉnh Vĩnh Long;
  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - UBND xã Tân Hào, tỉnh Vĩnh Long;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Mộng Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 02/07/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 02/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger