|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 02/2025/HNGĐ-ST Ngày: 01 - 7 - 2025. “Về tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Liêm;
- Bà Hoàng Thị Thiện Lai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Khiêm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 832/2024/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 12 năm 2024 về: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 322/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 312/2025/QĐST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trương Kim N, sinh năm: 1997 (CCCD [...] cấp ngày 11/05/2023); địa chỉ cư trú: Xã C (Số C, ấp B, xã B, huyện C cũ), tỉnh An Giang (Vắng mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Triều V, sinh năm: 1996 (CCCD [...] cấp ngày 13/06/2021); địa chỉ cư trú: Xã C ( Số A, ấp B, xã B, huyện C cũ), tỉnh An Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện ngày 09/12/2024 với các tài liệu kèm theo cũng như quá trình tố tụng tại Tòa, nguyên đơn bà Trương Kim N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà với ông V được hình thành là do tự tìm hiểu, gia đình hai bên đồng ý đứng ra tổ chức đám cưới cho hai người vào năm 2022, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện C, tỉnh An Giang, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 101 ngày 13/12/2024. Cuộc sống chung hạnh phúc đến đầu 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường xuyên gây cãi và mỗi lần gây cãi thì ông V lại càng ăn chơi, bỏ nhà đi và gây nợ, công việc gia đình bỏ mặt cho bà lo, bà không chịu đựng được nên ly thân với ông V từ tháng 5/2024 đến nay. Trong thời ly thân gia đình không đứng ra hàn gắn. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà xin ly hôn với ông V.
Về quan hệ con chung: Bà với ông V có 01 con chung tên Nguyễn Trương Hữu Đ, sinh ngày 29/12/2022, hiện do bà nuôi. Khi ly hôn, bà yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Đ không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung: Bà với ông V không có tài sản chung.
Về quan hệ nợ chung: Bà với ông V không có nợ chung.
Tòa án đã thông báo hợp lệ cho ông Nguyễn Triều V để tham gia phiên họp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải, nhưng ông vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa, bà N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bảo lưu ý kiến.
Quan điểm của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Bà N – ông V chung sống có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, theo đó bà N cho rằng do bất đồng quan điểm, ông V không quan tâm gia đình, thường xuyên gây cãi ...và ly thân nhau, nên bà N xin ly hôn là có căn cứ. Về con chung Nguyễn Trương Hữu Đ hiện chưa đủ 3 tuổi và đang do bà nuôi, đề nghị giao cháu Đ cho bà N tiếp tục nuôi; về tài sản chung, nợ chung không có, nên không xem xét. Từ phân tích trên đề nghị HĐXX quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục: Bà N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; riêng ông V được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông vắng mặt không lý do, nên HĐXX xét xử vắng mặt bà N, ông V, theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền: Bà N khởi kiện ly hôn với ông V là thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; ông V có địa chỉ cư trú tại xã C, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà N – ông V kết hôn và chung sống với nhau vào năm 2022, hôn nhân có đăng ký kết hôn, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 101 ngày 13/12/2022, nên xem là hôn nhân hợp pháp.
Tại phiên tòa, bà N có đơn xét xử vắng mặt nhưng bảo lưu ý kiến của mình, thể hiện do ông V không quan tâm gia đình, thường xuyên gây cải và mỗi lần gây cải, ông V bỏ nhà đi và gây nợ, gia đình không hàn gắn, hiện tình cảm vợ chồng không còn.
Qua trình bày của bà N, mặc dù ông V đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng về yêu cầu xin ly hôn của bà N, nhưng ông không có ý kiến phản đối, chứng tỏ trình bày của bà N là có căn cứ, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài nhiều năm, gia đình hàn gắn nhưng không thành, nên khả năng đoàn tụ lại không thể, mục đích hôn nhân không đạt được, HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà N.
[3]. Về quan hệ con chung: Xét thấy, cháu Nguyễn Trương Hữu Đ hiện do bà N nuôi, tính đến nay cháu Đ chưa đủ 03 tuổi rất cần sự nuôi dưỡng và chăm sóc của người mẹ, nên việc bà N yêu cầu tiếp tục nuôi là hoàn toàn phù hợp, HĐXX chấp nhận yêu cầu này của bà.
HĐXX cũng giải thích cho bà N biết: Trong thời gian nuôi con, bà N cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng bà N không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.
[4]. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà N khai bà với ông V không có tài sản chung và không có nợ chung. Tuy nhiên do ông V vắng mặt, nên HĐXX không xem xét và không đề cập ở phần quyết định. Nếu sau này ông V có chứng cứ khác chứng minh có tài sản chung và có nợ chung và ông V có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.
[5]. Về án phí: Bà Trương Kim N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; các bên không phải chịu án phí nào khác.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Trương Kim N.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Kim N được ly hôn với ông Nguyễn Triều V.
Về quan hệ con chung: Bà Trương Kim N được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Trương Hữu Đ, sinh ngày 28/12/2022, ông V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà N cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: Bà Trương Kim N phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0023786 ngày 09/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới (bà N nộp đủ).
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (01/7/2025), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Huệ |
Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 01/07/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 02/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/07/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Ngân xin ly hôn với ông Vỉ
