|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH B |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2025/HNGĐ-PT Ngày 25/6/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Hữu Truyền
Các Thẩm phán: 1. Bà Vi Thị Tuyết Mai
2. Bà Lý Thị Thúy
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh B
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị C - Kiểm sát viên.
Ngày 25/6/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Kạn mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình phúc thẩm thụ lý số: 01/TLPT-HNGĐ về việc tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 03/2025/HNGĐ-ST, ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh B bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:05/2025/QĐ-PT, ngày 06/06/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Hoàng Ngọc T; sinh năm 1959. Có mặt
- - Bị đơn: Bà Nông Thị T1; sinh năm 1962. Có mặt
- Cùng địa chỉ: Thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Hoàng Thị Ngọc Q; sinh năm 1987.
- Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. có mặt.
- Chị Hoàng Thị N; sinh năm 1993.
- Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt (Có đơn xin vắng mặt).
- Anh Hoàng Ngọc N1; sinh năm 1992.
- Địa chỉ: Thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, vụ án được tóm tắt như sau:
Ông T và bà Nông Thị T1 chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1991, đến ngày 16/6/2004 mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn theo Nghị định số 77/2001/NĐ-CP, hôn nhân có hiệu lực từ ngày 01/01/1991. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Quá trình
chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng sống không hạnh phúc, ông T và bà T1 sống ly thân từ năm 2019. Ông T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà T1.
Về con chung: Ông T và bà Nông Thị T1 có hai con chung tên là Hoàng Ngọc N1, sinh ngày 11/3/1992 và Hoàng Thị N, sinh ngày 02/10/1993. Các con đều trên 18 tuổi và hoàn toàn khỏe mạnh phát triển bình thường, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
Về tài sản chung: Quá trình chung sống vợ chồng ông T bà T1 tạo lập được khối tài sản chung gồm:
- Thửa đất số 17, tờ bản đồ số 59, tổng diện tích là 221,6 m², trong đó: Đất ở tại nông thôn 60,0 m² và đất trồng cây hàng năm khác là 161,6 m²; địa chỉ: Thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BQ 767204 ngày 23/9/2013, tên hộ bà Nông Thị T1 và ông Hoàng Ngọc T. Giá trị của thửa đất theo kết luận định giá tài sản là 28.710.400 đồng. Về tài sản gắn liền với thửa đất gồm có: 01 ngôi nhà gỗ tạp, 04 gian và 01 buồng tắm, 01 trái nhà để xe lợp Proximăng; 01 bể nước xây năm 2010; 01 cây hồng đường kính 11 cm.
- Thửa đất số 18, tờ bản đồ số 59; mục đích sử dụng là đất trồng cây hàng năm khác; diện tích 259,9 m²; đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BQ 726272 ngày 06/9/2013, tên hộ bà Nông Thị T1 và ông Hoàng Ngọc T. Giá trị của thửa đất theo kết luận định giá tài sản là 11.435.600 đồng. Về tài sản gắn liền với thửa đất gồm có: 01 cây đào đường kính 0,5 cm; 01 cây chanh đường kính 0,5 cm; 01 cây mận đường kính 11 cm; 01 cây mít đường kính 11 cm; 01 cây bưởi đường kính 0,3 cm; 03 cây mỡ (trong đó 01 cây đường kính 26 cm, 02 cây đường kính 13 cm); 01 cây sưa trắng đường kính 15 cm; 2.000 viên gạch nung đỏ; 01 dàn mướp đắng làm bằng cây tre nứa.
- Thửa đất số 19; tờ bản đồ số 59; mục đích sử dụng là đất trồng cây hàng năm khác; diện tích 227,0 m²; đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BQ 756748 ngày 06/9/2013, tên hộ bà Nông Thị T1 và ông Hoàng Ngọc T. Giá trị của thửa đất theo kết luận định giá tài sản là 9.988.000 đồng. Về tài sản gắn liền với thửa đất gồm có: 01 cây ổi đường kính 11 cm; 01 cây mận sớm đường kính 0,7 cm; 01 cây mít đường kính 0,4 cm; 01 cây mít mới trồng đường kính 0,2 cm; 04 cây đu đủ có quả; Cây ngô trồng trên diện tích 6 m²; 02 khóm bí; 05 khóm riềng diện tích 5 m²; 20 cây chuối rừng tự mọc; 04 cây mỡ (trong đó 01 cây đường kính 26 cm, 03 cây đường kính 13 cm); 01 cây sưa trắng đường kính 15 cm; 01 cây sâm cau ba nhánh.
- Thửa đất số 22; tờ bản đồ số 59; mục đích sử dụng là đất trồng cây hàng năm khác; diện tích 277,4m²; đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BQ 756749 ngày 06/9/2013, tên hộ bà Nông Thị T1 và ông Hoàng Ngọc T. Giá trị của thửa đất theo kết luận định giá tài sản là 12.205.600 đồng. Về tài sản gắn liền với thửa đất gồm có: 01 cây quýt đường kính 0,5 cm; 01 cây bưởi đường kính 0,7 cm; 01 cây mít đường kính 0,2 cm; 05 cây chuối tiêu sắp có buồng; 07 cây chuối hột; 01 cây dâu ta đường kính 10 cm.
Tất cả các thửa đất trên đều ở tại thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Về nguồn gốc đất được bà T1 khai phá từ năm 1990, đến năm 1991 ông T về chung sống với bà T1 như vợ chồng thì hai vợ chồng cùng khai phá, tôn tạo, sau đó được Nhà nước đo giao đất lần đầu năm 2002, khi đó do ông T chưa đăng ký kết hôn với bà T1 và chưa nhập hộ khẩu nên đất được cấp giấy chúng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ bà Nông Thị Thục . Đến năm 2013 toàn bộ khu đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được tách làm 04 thửa.
Ông T xác định toàn bộ 04 thửa đất và toàn bộ tài sản gắn liền với các thửa đất nêu trên đều là tài sản chung của vợ chồng.
Ông T yêu cầu Tòa án phân chia cho ông các thửa đất 18 và thửa 19 tờ bản đồ số 59, còn chia cho bà T1 thửa đất 17 và thửa 22 . tờ bản đồ số 59
Đối với tài sản gắn liền với các thửa đất gồm: Ông T yêu cầu được chia 2.000 viên gạch nung đỏ có giá trị là 2.400.000 đồng. Còn 03 cây mỡ trên thửa đất số 18 (trong đó có 01 cây đường kính 26cm, 02 cây đường kính 13cm); 01 cây sưa trắng đường kính 15cm; 04 cây mỡ trên thửa đất số 19 (trong đó 01 cây đường kính 26cm, 03 cây đường kính 13cm) có tổng giá trị là 872.000 đồng, ông T nhất trí chia cho bà T1
Đối với tài sản gắn liền với các thửa đất khác gồm: 01 ngôi nhà gỗ tạp, 01 buồng tắm, 01 trái nhà để xe, 01 bể nước, 01 dàn mướp đắng, 20 cây chuối rừng, 01 cây sâm cau ba nhánh, cây ngô trồng trên diện tích 6m², 02 khóm bí, 05 khóm riềng diện tích 5m², 07 cây chuối hột, 01cây hồng đường kính 11cm, 01 cây đào đường kính 0,5cm, 01 cây chanh đường kính 0,5cm, 01 cây mận đường kính 11cm, 01 cây mít đường kính 11cm, 01 cây bưởi đường kính 0,3cm, 01 cây ổi đường kính 11cm, 01 cây mận sớm đường kính 0,7cm, 01 cây mít đường kính 0,4cm, 01 cây mít mới trồng đường kính 0,2cm, 04 cây đu đủ có quả, 01 cây quýt đường kính 0,5cm, 01 cây bưởi đường kính 0,7cm, 01 cây mít đường kính 0,2cm, 05 cây chuối tiêu sắp có buồng, 01 cây dâu ta đường kính 10cm tất cả đều không có giá trị lớn nên ông T tự nguyện chia toàn bộ cho bà T1 được sở hữu không yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia.
Ngoài ra, còn có thửa đất số 23; tờ bản đồ số 59; mục đích sử dụng là đất trồng cây hàng năm khác; diện tích 1.268,4m²; địa chỉ: Thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BQ 756750 ngày 06/9/2013, tên hộ bà Nông Thị T1 và ông Hoàng Ngọc T, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Về nợ chung: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chi phí tố tụng: Ông T yêu cầu chia ông và bà T1 mỗi người chịu ½ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản.
2. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nông Thị T1 trình bày:
Bà T1 xác nhận quá trình kết hôn và tình trạng hôn nhân giữa bà và ông T đúng như ông T đã trình bày. Ông T có hành vi bạo lực gia đình, thường xuyên đánh đập vợ, con nên mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng. Nay xác định tình cảm vợ chồng không, mục đích hôn nhân không đạt được, ông T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn bà T1 nhất trí ly hôn.
Về con chung: Bà và ông T có hai con chung, tên là Hoàng Ngọc N1, sinh ngày 11/3/1992 và Hoàng Thị N, sinh ngày 02/10/1993. Hiện nay các con đều đã trên 18 tuổi và hoàn toàn khỏe mạnh phát triển bình thường nên bà T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà T1 xác định các thửa đất và tài sản gắn liền với đất đúng như ông T đã trình bày: Nguồn gốc tất cả các thửa đất hiện nay ông T yêu cầu chia tài sản chung đều do bà T1 tự khai phá từ năm 1990 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng vào năm 2002, trước thời điểm bà T1 và ông T đăng ký kết hôn năm 2004. Đến năm 2013 các thửa đất được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi đó ông T có tên trong sổ hộ khẩu nên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới đứng tên hộ ông Hoàng Ngọc T và bà Nông Thị Thục . Quá trình sử dụng đất, ông T có giúp tìm người lấy đất về đổ cải tạo đất nhưng bà T1 là người bỏ số tiền 2.000.000 đồng trả tiền công xe chở đất. Ngoài ra ông T không có đóng góp công sức gì đối với việc tạo lập, duy trì và phát triển đất. Các con khi đó còn nhỏ nên cũng không đóng góp được công sức đối với việc khai phá, tôn tạo các thửa đất. Bà T1 xác định tất cả các thửa đất và tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình đều là tài sản riêng của bà nên không chấp nhân yêu cầu chia tài sản của ông T. Tuy nhiên bà T1 có ý định tách thửa để chia cho các con, cụ thể: Chia thửa đất số 18 cho anh Hoàng Ngọc N1, chia thửa đất số 19 cho chị Hoàng Thị Ngọc Q, chia thửa đất số 22 cho chị Hoàng Thị N.
Đối với tài sản gắn liền với đất, gồm: 01 ngôi nhà gỗ tạp 04 gian, 01 buồng tắm, 01 trái nhà để xe, 01 bể nước, 01 dàn mướp đắng, 20 cây chuối rừng, 01 cây sâm cau ba nhánh, cây ngô trồng trên diện tích 6 m², 02 khóm bí, 05 khóm riềng diện tích 5 m², 07 cây chuối hột, 01cây hồng đường kính 11 cm, 01 cây đào đường kính 0,5 cm, 01 cây chanh đường kính 0,5 cm, 01 cây mận đường kính 11 cm, 01 cây mít đường kính 11 cm, 01 cây bưởi đường kính 0,3 cm, 01 cây ổi đường kính 11 cm, 01 cây mận sớm đường kính 0,7 cm, 01 cây mít đường kính 0,4 cm, 01 cây mít mới trồng đường kính 0,2 cm, 04 cây đu đủ có quả, 01 cây quýt đường kính 0,5 cm, 01 cây bưởi đường kính 0,7 cm, 01 cây mít đường kính 0,2 cm, 05 cây chuối tiêu sắp có buồng, 01 cây dâu ta đường kính 10 cm đều là những tài sản có giá trị không lớn và nhiều loại cây cối theo mua vụ nên bà T1 nhất chí với ý kiến của ông T là không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với 2.000 viên gạch nung đỏ có giá trị là 2.400.000 đồng, bà T1 nhất trí chia cho ông T. Còn 03 cây mỡ trên thửa đất số 18 (trong đó có 01 cây đường kính 26 cm, 02 cây đường kính 13 cm), 01 cây sưa trắng đường kính 15 cm, 04 cây mỡ trên thửa đất số 19 (trong đó 01 cây đường kính 26 cm, 03 cây đường kính 13 cm) có tổng giá trị là 872.000 đồng bà T1 yêu cầu được chia toàn bộ.
Đối với thửa đất số 23; tờ bản đồ số 59; diện tích 1268,4m²; địa chỉ: Thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BQ 756750 ngày 06/9/2013, tên hộ bà Nông Thị T1 và ông Hoàng Ngọc T, bà T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Về nợ chung: Bà T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chi phí tố tụng: Bà T1 yêu cầu nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng do nguyên đơn làm đơn khởi kiện.
3. Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị Ngọc Q trình bày:
Chị Q là con riêng của bà Nông Thị T1, chị Q sống với bà T1 từ khi sinh ra, cho đến năm 2013 do phải chuyển công tác xa nên mới cắt khẩu khỏi hộ bà T1. Về nguồn gốc các thửa đất hiện nay bà T1 và ông T đang yêu cầu chia đều do bà T1 tự phá từ năm 1990. Sau khi bà T1 khai phá xong thì năm 1991 ông T mới về chung sống với bà T1, cho đến năm 2004 sau khi đăng ký kết hôn với bà T1 thì ông T mới nhập khẩu với hộ bà T1 tại thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Chị Q khẳng định tất cả những thửa đất trên đều là tài sản riêng của bà T1, các thành viên trong gia đình gồm ông T, anh N1, chị N và chị Q không ai có đóng góp công sức gì trong việc khai phá, tạo lập các thửa đất nên ông T không có quyền yêu cầu chia các thửa đất. Chị Q không yêu cầu được chia tài sản.
4. Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị N trình bày:
Chị N khẳng định toàn bộ các thửa đất có nguồn gốc do bà T1 khai phá, tạo lập lên từ những năm 1990. Bản thân chị và những người khác trong hộ gia đình cả ông T bố của chị không có công sức cũng như không đóng góp gì vào khối tài sản của bà T1. Các thửa đất đều do một mình bà T1 khai phá từ những năm 1990 -1991 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào năm 2002 nên là tài sản riêng của bà T1. Năm 2004 ông T và bà T1 đăng ký kết hôn, sau đó bà T1 quyết định tách thửa đất với mục đích để chia cho các con nhưng lúc đó các con chưa đủ tuổi nên đứng tên bố mẹ tại giấy chứng nhận các thửa đất vào năm 2013. Nay ông T đề nghị Tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng thì quan điểm của chị N là mặc dù các thửa đất không có tên các con và các con không có công sức, đóng góp gì nên không có quyền đòi hỏi và yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng ý chí bố mẹ đã tuyên bố công khai sẽ cho các con thì bố mẹ phải giữ lời hứa với các con. Nếu ông T và bà T1 không thực hiện lời hứa cho các con thì chị N đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết về nguồn gốc tài sản để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà T1, chia cho bà T1 phần nhiều để bà T1 thực hiện việc tặng cho các con đồng thời bà T1 không bị thiệt thòi về quyền lợi.
5. Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Ngọc N1 trình bày:
Anh N1 khẳng định tất cả các thửa đất đều là do một mình bà T1 khai phá, tạo lập được, bản thân anh và những người trong gia đình gồm: Chị Q, chị N và ông T đều không có công sức đóng góp gì trong việc khai phá, tạo lập các thửa đất. Anh N1 không yêu cầu được chia tài sản và nhất trí theo yêu cầu chia tài sản của bị đơn là bà Nông Thị Thục .
Trên cơ sở đơn yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản của ông Hoàng Ngọc T, Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn đã quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ và quyết định định giá tài sản đối với tài sản tranh chấp.
- Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09 tháng 5 năm 2024 xác định.
- Thửa đất số 17, được giới hạn bởi các mốc 14, 6, 7, 13, 14 có tổng diện tích 221,6m², trong đó mục đích sử dụng là đất ở tại nông thôn 60,0m² và đất bằng trồng cây hàng năm khác là 161,6 m² (ODT + BHK). Có vị trí giáp ranh tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp thửa đất số 18 của hộ bà T1, ông T.
- Phía Tây giáp thửa đất số 22 của hộ bà T1, ông T.
- Phía Nam giáp thửa đất số 23 của hộ bà T1, ông T.
- Phía Bắc giáp đường ĐT 254.
- Tài sản trên thửa đất số 17 gồm có: 01 ngôi nhà gỗ tạp, 04 gian và 01 buồng tắm, mái lợp Proximăng làm vào năm 2008, 01 trái nhà để xe lợp Proximăng làm vào năm 2012; 01 bể nước xây năm 2010, chiều rộng 1,45m, chiều cao 1,15m, chiều dài 3,25m; 01 cây hồng đường kính 11cm.
- Thửa đất số 18, được giới hạn bởi các mốc 15, 4, 5, 6, 14, 15 có diện tích 259,9m², mục đích sử dụng là đất bằng trồng cây hàng năm khác (BHK). Có vị trí giáp ranh tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp thửa đất số 19 của hộ bà T1, ông T.
- Phía Tây giáp thửa đất số 17 của hộ bà T1, ông Trìu
- Phía Nam giáp đất của ông Nghiêm Đình H.
- Phía Bắc giáp đường ĐT 254.
- Tài sản trên Thửa đất số 18 gồm có: 01 cây đào đường kính 0,5cm; 01 cây chanh đường kính 0,5cm; 01 cây mận đường kính 11cm; 01 cây mít đường kính 11cm; 01 cây bưởi đường kính 0,3cm; 03 cây mỡ (trong đó 01 cây đường kính 26cm, 02 cây đường kính 13cm); 01 cây sưa trắng đường kính 15cm; 01 dàn mướp đắng làm bằng cây tre nứa; 2.000 viên gạch nung đỏ.
- Thửa đất số 19, được giới hạn bởi các mốc 1, 2, 3,4, 15, 1 có diện tích 227,0m², mục đích sử dụng là đất bằng trồng cây hàng năm khác (BHK). Có vị trí giáp ranh tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp đất bà Liêu Thị T2.
- Phía Tây giáp thửa đất số 18 của hộ bà T1, ông T.
- Phía Nam giáp đất của ông Nghiêm Đình H.
- Phía Bắc giáp đường ĐT 254.
- Tài sản trên thửa đất số 19 gồm có: 01 cây ổi đường kính 11cm; 01 cây mận sớm đường kính 0,7cm; 01 cây mít đường kính 0,4cm; 01 cây mít mới trồng đường kính 0,2cm; 04 cây đu đủ có quả; Cây ngô trồng trên diện tích 6m²; 02 khóm bí; 05 khóm riềng diện tích 5m²; 20 cây chuối rừng tự mọc; 04 cây mỡ; trong đó 01 cây đường kính 26cm, 03 cây đường kính 13cm; 01 cây sưa trắng đường kính 15cm; 01 cây sâm cau ba nhánh.
- Thửa đất số 22, được giới hạn bởi các mốc 13, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13 có diện tích 277,4m², mục đích sử dụng là đất bằng trồng cây hàng năm khác (BHK). Có vị trí giáp ranh tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp thửa đất số 17 của hộ bà T1, ông T.
- Phía Tây giáp đất của ông Triệu Văn H1 và ông Văn Tiến K.
- Phía Nam giáp thửa đất số 23 của hộ bà T1, ông T.
- Phía Bắc giáp đường ĐT 254.
- Tài sản trên thửa đất số 22 gồm có: 01 cây quýt đường kính 0,5cm; 01 cây bưởi đường kính 0,7cm; 01 cây mít đường kính 0,2cm; 05 cây chuối tiêu sắp có buồng; 07 cây chuối hột; 01 cây dâu ta đường kính 10cm.
Tại Kết luận định giá tài sản ngày 27/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản đã kết luận:
Thửa đất số 17 có giá trị là 28.710.400 đồng; Thửa đất số 18 có giá trị là 11.435.600 đồng; Thửa đất số 19 có giá trị là 9.988.000 đồng; Thửa đất số 22 có giá trị là 12.205.600 đồng. Tổng giá trị của 04 thửa đất trên là: 62.339.600 đồng.
Tổng giá trị tài sản trên đất là 3.272.000 đồng (trong đó 08 cây có giá trị là 872.000 đồng, 2.000 viên gạch nung đỏ có giá trị là 2.400.000 đồng).
Tổng toàn bộ tài sản được định giá có giá trị là 65.611.600 đồng.
Đối với các loại tài sản khác nêu trong biên bản thẩm định tại chỗ các đương sự thống nhất không yêu cầu định giá tài sản vì không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 03/2025/HNGĐ-ST,ngày 18/4/2025 của TAND huyện Chợ Đồn đã tuyên xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 166; Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 33, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 13, Điều 14 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Hoàng Ngọc T được ly hôn với bà Nông Thị T1
- Về con chung: các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung:
- Ông Hoàng Ngọc T được chia tài sản như sau:
- - Thửa đất số 18, tờ bản đồ số 59, có diện tích 259,9m², địa chỉ thửa đất: Thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 726272 ngày 06/9/2013, tên hộ bà Nông Thị T1 và ông Hoàng Ngọc T, có giá trị là 11.435.600 đồng;
- - Thửa đất số 19, tờ bản đồ số 59, có diện tích 227,0m², địa chỉ thửa đất: Thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 756748 ngày 06/9/2013, tên hộ bà Nông Thị T1 và ông Hoàng Ngọc T, có giá trị là 9.988.000 đồng;
- (Vị trí các thửa đất theo mảnh trích đo địa chính số: 2023, ngày 27/9/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B).
- - 2.000 viên gạch nung đỏ (trên thửa đất số 18, tờ bản đồ 59), có giá trị là 2.400.000 đồng.
- Tổng giá trị toàn bộ tài sản ông Hoàng Ngọc T được chia là 23.823.600 đồng.
- Bà Nông Thị T1 được chia tài sản như sau:
- - Thửa đất số 17, tờ bản đồ số 59, có tổng diện tích 221,6m², trong đó: Đất ở tại nông thôn 60,0m² và đất bằng trồng cây hàng năm khác là 161,6 m² (ODT + BHK); địa chỉ thửa đất: Thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BQ 767204 ngày 23/9/2013, tên hộ bà Nông Thị T1 và ông Hoàng Ngọc T, có giá trị là 28.710.400 đồng.
- - Thửa đất số 22, tờ bản đồ số 59, có diện tích 277,4m², địa chỉ thửa đất: Thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BQ 756749 ngày 06/9/2013, tên hộ bà Nông Thị T1 và ông Hoàng Ngọc T, có giá trị là 12.205.600 đồng;
- (Vị trí các thửa đất theo mảnh trích đo địa chính số: 2023, ngày 27/9/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B).
- - 03 cây mỡ (trong đó 01 cây đường kính 26 cm, 02 cây đường kính 13 cm trên thửa đất số 18, tờ bản đố 59); có 01 cây sưa trắng đường kính 15 cm; 04 cây mỡ (trong đó 01 cây đường kính 26 cm, 03 cây đường kính 13 cm) trên thửa đất số 19, tờ bản đố 59, có tổng giá trị là 872.000 đồng.
- Tổng giá trị toàn bộ tài sản bà Nông Thị T1 được chia là 41.788.000 đồng.
- Bà Nông Thị T1 có trách nhiệm khai thác, di giời tài sản thuộc sở hữu của bà trên thửa đất 18 và 19, tờ bản đồ 59 mà ông Hoàng Ngọc T được chia khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Ông Hoàng Văn T3 và bà Nông Thị Thục T1 có quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích được chia theo quy định của pháp luật.
- Ông Hoàng Ngọc T được chia tài sản như sau:
- Nợ chung: các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên án phí và chi phí tố tụng theo quy định.
Sau khí xét xử sở thẩm bà Nông Thị T1 có đơn kháng cáo ngày 22/4/2025 với nội dung không đồng ý với việc phân chia tài sản chung của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại xác định tài sản tranh chấp trong vụ án là tài sản chung của hộ gia đình và phân chia cho các thành viên trong hộ gia đối với tài sản chung.
Ngày 21/4/2025, anh Hoàng Văn N2 kháng cáo với nội dung tài sản đã được giải quyết trong vụ án là tài sản chung của hộ gia đình và phân chia cho các thành viên trong hộ gia đình.
Ngày 21/04/2025, chị Hoàng Thị N kháng cáo với nội dung tài sản đã được giải quyết trong vụ án là tài sản chung của hộ gia đình và phân chia cho các thành viên trong hộ gia đình.
Ngày 22/04/2022, chị Hoàng Thị Ngọc Q kháng cáo với nội nội dung tài sản đã được giải quyết trong vụ án là tài sản của hộ gia đình và phần chia cho các thành viên trong hộ gia đình.
Tại phiên tòa bà Nông Thị T1, anh Hoàng Văn N2, chị Hoàng Thị Ngọc Q trình bày đề nghị Tòa án xác định tài sản tranh chấp trong vụ án hôn nhân gia đình là tài sản chung của hộ gia đình và chia cho ông Hoàng Ngọc T một phần giá trị tài sản chung của hộ gia đình.
Tại phiên tòa viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký và của Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
- Việc chấp hành pháp luật của đương sự: đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự: không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên bản án sơ thẩm số 03/2025/HNGĐ-ST, ngày 18/4/2025 của TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1]. Về thủ tục tố tụng:
- [2]. Về nội dung vụ án:
- [2.1]. Xét kháng cáo của của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Ngọc N1, chị Hoàng Thị N và chị Hoàng Thị Ngọc Q thấy rằng:
Sau khi tuyên án sơ thẩm ngày 18/4/2025 đến ngày 21/4/2025 và ngày 22/4/2025, bị đơn bà Nông Thị T1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị N, anh Hoàng Ngọc N1 và chị Hoàng Thị Ngọc Q kháng cáo đối với việc chia tài sản chung tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 03/2025/HNGĐ-ST, ngày 18/4/2025 của TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, đơn kháng cáo trong thời hạn quy định và đã nộp tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Xét thấy chị Hoàng Thị N vắng mặt nhưng trong quá trình giải quyết vụ án đã có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử giải quyết vụ án vắng mặt chị Hoàng Thị N.
Về quan hệ hôn nhân: ông Hoàng Ngọc T và bà Nông Thị T1 chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1991 và đã được đăng ký kết hôn theo Nghị định số 77/2001/NĐ-CP và được xác định hôn nhân có hiệu lực từ ngày 01/01/1991.
Xét nguồn gốc các thửa đất số 17, 18, 19, 22 thuộc tờ bản đồ 59 mà hiện nay ông Hoàng Ngọc T yêu cầu chia được bà Nông Thị T1 khai phá từ năm 1990- năm 1991 và đến năm 2002 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu tên hộ bà Nông Thị T1, đến năm 2013 khi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì toàn bộ các thửa đất trên đều mang tên hộ ông Hoàng Ngọc T và bà Nông Thị T1, trong quá trình quản lý đối với thửa đất cho đến trước khi ông T nộp đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với bà T1 thì bà T1 và những người trong gia đình không ai có ý kiến gì về việc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Hoàng Ngọc T và bà Nông Thị Thục .
Tại văn bản số 554/UBND-TNMT ngày 04/3/2025 của UBND huyện C về việc cung cấp thông tin theo yêu cầu của Tòa án đã nêu các thửa đất 18, 19 và 22 tờ bản đồ số 59 là do ông Hoàng Ngọc T và bà Nông Thị T1 khai phá và được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất năm 2013, theo đó các thửa đất 18, 19 và 22 tờ bản đồ số 59 là do bà Nông Thị T1 và ông Hoàng Ngọc T quản lý.
Còn thửa đất số 17, tờ bản đồ số 59 thuộc trường hợp cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ đo đạc năm 2012.
Quá trình giải quyết vụ án các thành viên trong gia đình gồm: Anh Hoàng Ngọc N1, chị Hoàng Thị N và chị Hoàng Thị Ngọc Q đều khai thống nhất ý kiến là không có đóng góp công sức vào việc tạo lập và duy trì đối với khối tài sản hiện nay ông T đang yêu cầu chia phù hợp với hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xác định người kê khai là ông Hoàng Ngọc T và bà Nông Thị T1 và căn cứ vào thời điểm quản lý đối với tài sản chung đã nêu trong đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là năm 1986 thời điểm hình thành tài sản chị Hoàng Thị Ngọc Q, anh Hoàng Ngọc N1, chị Hoàng Thị N chưa sinh.
Bà T1 và các con trình bày tại thời điểm năm 2013 vợ chồng bà đã thống nhất chia một phần tài sản bao gồm các thửa đất số 17, 18, 19, 22 cho các con nhưng việc tặng cho không thể hiện bằng văn bản, bà T1 và các con đều khẳng định việc chia tài sản chưa được thực hiện.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định toàn bộ khối tài sản mà nguyên đơn ông Hoàng Ngọc T yêu cầu Tòa án phân chia tài là tài sản chung của vợ chồng là có cơ sở bao gồm các thửa đất:
- - Thửa đất số 17, tờ bản đồ số 59, tổng diện tích cả thửa là 221,6 m², trong đó: Đất ở tại nông thôn 60,0 m² và đất trồng cây hàng năm khác là 161,6 m²; địa chỉ: Thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BQ 767204 ngày 23/9/2013, tên hộ bà Nông Thị T1 và ông Hoàng Ngọc T. Giá trị của thửa đất theo kết luận định giá tài sản là 28.710.400 đồng.
- - Thửa đất số 18, tờ bản đồ số 59; mục đích sử dụng là đất trồng cây hàng năm khác; diện tích 259,9 m²; đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BQ 726272 ngày 06/9/2013, tên hộ bà Nông Thị T1 và ông Hoàng Ngọc T. Giá trị của thửa đất theo kết luận định giá tài sản là 11.435.600 đồng.
- - Thửa đất số 19; tờ bản đồ số 59; mục đích sử dụng là đất trồng cây hàng năm khác; diện tích 227,0 m²; đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BQ 756748 ngày 06/9/2013, tên hộ bà Nông Thị T1 và ông Hoàng Ngọc T. Giá trị của thửa đất theo kết luận định giá tài sản là 9.988.000 đồng.
- - Thửa đất số 22; tờ bản đồ số 59; mục đích sử dụng là đất trồng cây hàng năm khác; diện tích 277,4m²; đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BQ 756749 ngày 06/9/2013, tên hộ bà Nông Thị T1 và ông Hoàng Ngọc T. Giá trị của thửa đất theo kết luận định giá tài sản là 12.205.600 đồng.
Xét về việc phân chia tài sản chung: Ông Hoàng Ngọc T yêu cầu được chia các thửa đất 18 có giá trị là 11.435.600 đồng và thửa 19 có giá trị là 9.988.000 đồng và chia cho bà T1 thửa 17 có giá trị là 28.710.400 đồng và thửa 22 có giá trị là 12.205.600 đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các thửa đất 17 và 22 có tổng giá trị là 40.916.000 đồng lớn hơn các thửa đất số 18 và 19 là có tổng giá trị 21.423.600 đồng. Hơn nữa, trên thửa đất 17 có tài sản gắn liền với đất ở là 01 ngôi nhà gỗ và các công trình phụ khác phục vụ nhu cầu sinh sống của bà T1 và gia đình và thửa đất số 22 là thửa đất liền kề với thửa đất 17. Mặt khác, ông T yêu cầu được chia thửa 18 và 19 và chia cho bà T1 các thửa 17 và 22 đều là các thửa đất liền kề, việc giao cho một bên quản lý, sử dụng đất là thuận lợi cho việc sinh sống và quản lý, sử dụng đất.
Việc phân chia các thửa đất 18 và 19 cho ông T và chia thửa số 17 và 22 cho bà T1 là phù hợp với quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình và phù hợp với thực tế quản lý
Về phần chênh lệch giá trị đất được chia ông Hoàng Ngọc T không yêu cầu bà T1 phải bù trừ.
Trong quá trình tố tụng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Anh Hoàng Ngọc N1 và chị Hoàng Thị Ngọc Q, chị Hoàng Thị N không có yêu cầu được phân chia tài sản chung, sau khi xét xử sơ thẩm bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo yêu cầu xác định các thửa đất số 17, 18, 19, 22 tờ bản đồ số 59 là tài sản chung của hộ gia đình và yêu cầu chia đối với các tài sản này. Hội đồng xét xử xét thấy anh N1, chị N, chị Q đều không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh có đóng góp công sức vào việc tạo lập và duy trì khối tài sản chung của ông T và bà T1, quá trình giải quyết vụ án anh N1, chị N, chị Q đều thừa nhận toàn bộ các thửa đất và tài sản gắn liền với đất mà ông T và bà T1 yêu cầu Tòa án phân chia là tài sản riêng của bà T1, không ai có đóng góp công sức, tiền bạc vào việc tạo lập và duy khối tài sản.
Do đó không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nông Thị T1 và kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Ngọc N1, chị Hoàng Thị N, chị Hoàng Thị Ngọc Q giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- [2.2]. Về án phí phúc thẩm: Do đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Ngọc N1, chị Q1, chị Hoàng Thị N, chị Hoàng Thị Ngọc Q không được chấp nhận, anh N1, chị Q, chị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm với số tiền: 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng đối với mỗi người kháng cáo.
Bà Nông Thị T1 thuộc người có tuổi do đó được miễn án phí dân sự phúc thẩm được trả lại tiền tạm ứng án phúc thẩm với số tiền: 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0003390 – ngày 05/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực phát luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lý lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 308; Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự và Đ đ Khoản 1 Điều 12 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn bà Nông Thị T1 và kháng cáo của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị Ngọc Q, Hoàng Thị N, anh Hoàng Ngọc N1 về chia tài sản chung giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 03/2025/HNGĐ-ST, ngày 18/4/2025 của TAND huyện C, tỉnh B .
- Về án phí phúc thẩm: Chị Hoàng Thị Ngọc Q, chị Hoàng Thị N, anh Hoàng Ngọc N1 phải chịu án phí phúc thẩm với số tiền: 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng đối với mỗi người kháng cáo được trừ vào số tiền tạm ứng án phúc thẩm đã nộp theo các biên lai số 0003391 – ngày 05/5/2025; biên lai số 0003393 – ngày 05/5/2025 và biên lai số 0003392 – ngày 05/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C (do bà Nông Thị T1 nộp thay cho chị Hoàng Thị Ngọc Q,, chị Hoàng Thị N, anh Hoàng Ngọc N1).
Bà Nông Thị T4 được trả lại số tiền tạm ứng án phúc phúc thẩm: 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0003390 – ngày 05/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực phát luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Các thẩm phán |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
Vi Thị Tuyết M–L |
Hoàng Hữu Truyền |
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Hoàng Hữu Truyền |
Bản án số 02/2025/HNGĐ-PT ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH B về tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung
- Số bản án: 02/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH B
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Th và bà Tr có tranh chấp về khối tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
