Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 14-02-2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp chia tài sản

chung, nợ chung khi ly hôn”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quang Ninh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thư

Ông Bùi Văn Bình

- Thư ký phiên toà: Ông Mai Chí Thọ - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Mến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số 15/2024/TLPT-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung khi ly hôn”.

Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước bị kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 21/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim C, sinh năm 1968 (có mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1967 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.

- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim C trình bày:

Bà C và ông Nguyễn Văn H là vợ chồng, do ông H tự ý bán đất (đất mẹ ông H cho riêng ông H) mà không báo cho bà biết nên bà làm đơn yêu cầu chia tài sản chung. Diện tích đất 1059,6 m² thuộc thửa số 199, tờ bản đồ số 27 là tài sản riêng của ông H (do mẹ ruột ông H tặng cho) nên bà không yêu cầu chia đất. Bà và ông H có tài sản là 02 căn nhà xây cấp 4, khoảng 200 cây tràm (ông H đã cưa bán và không đưa tiền cho bà C), 01 xe máy cày và một cái rơ móc (không có giấy đăng ký), 01 xe mô tô Air Blade (không có giấy đăng ký) và 1.200.000.000 đồng (là tiền chuyển nhượng thửa đất trên). Ông H mới nhận tiền cọc 200.000.000 đồng để bán thửa đất số 199 tờ bản đồ số 27 diện tích 1059,6 m² thì bà khởi kiện nên hiện nay chưa bán được. Nay, bà C yêu cầu ông H hoàn lại cho bà 400.000.000 đồng, bà để lại toàn bộ tài sản trên đất và các tài sản gồm 01 xe máy cày và một cái rờ móc, 01 xe mô tô cho ông H toàn quyền sử dụng. Khoản nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện B 27.000.000 đồng là do bà đứng ra vay nên bà sẽ tự trả. Bà C không đồng ý ly hôn ông H, nhưng nếu ông H chia cho bà 400.000.000 đồng thì bà đồng ý ly hôn.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H bày trình bày:

Ông và bà C chỉ có tài sản chung gồm 2 căn nhà và 01 cái rờ móc. Ngoài ra không có tài sản chung nào khác. Không có 200 cây tràm vì ông đã cưa bán, xe mô tô ông đang đi là ông mượn của người khác chứ không phải của ông, không có số tiền 1.200.000.000 đồng như bà C trình bày. Ông H không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà C.

Trong đơn yêu cầu ly hôn ngày 03 tháng 6 năm 2024, ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông H và bà C sau thời gian tìm hiểu, tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào năm 1999 tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông H bà C chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì nảy sinh bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không nói chuyện được với nhau nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Ông H và bà C có 01 con chung Nguyễn Tấn V, sinh năm 2002 đã trên 18 tuổi. Do đó, ông H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà Huỳnh Thị Kim C. Ngoài ra ông H không có yêu cầu gì khác.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm 23/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước đã quyết định:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm đ khoản 1 Điều 217; Điều 218; khoản 1 Điều 227; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Áp dụng khoản 4 Điều 147; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH của Ủy ban thường vụ quốc hội.

  1. Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung của bà Huỳnh Thị Kim C.
  2. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn H: ông Nguyễn Văn H được ly hôn bà Huỳnh Thị Kim C.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án sơ thẩm bị kháng nghị như sau:

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-HNGĐ với nội dung kháng nghị toàn bộ Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm 23/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước; Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước huỷ toàn bộ Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm 23/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và thu thập chứng cứ chưa đầy đủ.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước vẫn giữ nguyên nội dung kháng nghị. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa:

  • - Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Xét thấy kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp là có căn cứ, do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước; tuyên huỷ Bản án sơ thẩm số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát, ý kiến của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về tố tụng: Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp được thực hiện trong thời hạn luật định, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước về tố tụng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Về việc xác định quan hệ pháp luật:

Theo nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim C, bà C yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Thông báo về việc thụ lý vụ án ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp cũng đã xác định quan hệ tranh chấp là “tranh chấp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân”. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà C có đơn sửa đổi và bổ sung yêu cầu khởi kiện, trong đó có thêm khoản nợ tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện B. Việc này đã được Tòa án thụ lý bằng Thông báo sửa đổi, bổ sung thông báo thụ lý vụ án số 41b/2024/TB-TLVA ngày 13/6/2024 (bút lục số 25). Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn H có đơn yêu cầu ly hôn với bà C và đã được Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp thụ lý.

Ngoài ra, ngày 16/8/2024, Tòa án ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HNGĐ, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về “Ly hôn, tranh chấp tài sản chung, nợ chung khi ly hôn”. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm chỉ xác định “Tranh chấp chia tài sản chung, ly hôn”, bỏ sót phần “nợ chung”, nên cần bổ sung đầy đủ quan hệ tranh chấp.

[2.2] Đối với yêu cầu xin ly hôn của bị đơn ông Nguyễn Văn H:

Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim C yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung trong thời kỳ hôn nhân. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn có đơn yêu cầu ly hôn với bà C và đã được Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý.

Căn cứ khoản 4 Điều 72, điểm c khoản 2 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu ly hôn của ông H được xác định là “yêu cầu phản tố”. Theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Tố tụng dân sự, trình tự, thủ tục đối với yêu cầu phản tố phải được thực hiện như một vụ kiện mới. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định và thụ lý yêu cầu ly hôn của ông H là “yêu cầu độc lập” là không đúng. Do đó, cần xác định yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn H là yêu cầu phản tố theo Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước về nội dung, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Theo nội dung đơn khởi kiện và đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim C yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung trong thời kỳ hôn nhân. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp đã ra Thông báo yêu cầu bà C nộp tiền tạm ứng án phí (yêu cầu chia nợ chung) và tiền tạm ứng chi phí tố tụng. Bà C đã nhận được thông báo, nhưng đã hết thời hạn nộp tiền mà bà C không nộp tiền tạm ứng án phí đối với yêu cầu chia nợ chung và không nộp tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung của bà Huỳnh Thị Kim C.

[3.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn bà C đối với khoản nợ chung:

Sau khi bà C có đơn sửa đổi và bổ sung yêu cầu khởi kiện (bao gồm khoản nợ tại Ngân hàng C), Tòa án đã thụ lý yêu cầu này bằng Thông báo sửa đổi, bổ sung thông báo thụ lý vụ án số 41b/2024/TB-TLVA ngày 13/6/2024

Tuy nhiên, đến ngày 28/6/2024, Tòa án cấp sơ thẩm mới ra Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, yêu cầu bà C nộp 675.000 đồng cho yêu cầu chia khoản nợ vay tại Ngân hàng C. Như vậy, Tòa án đã thụ lý yêu cầu của bà C trước khi ra thông báo nộp án phí. Do đó, việc cấp sơ thẩm căn cứ vào việc bà C không đóng tạm ứng án phí để đình chỉ yêu cầu chia nợ chung là không đúng quy định pháp luật.

[3.2] Đối với chi phí tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, sau đó mới ban hành thông báo yêu cầu bà C nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng là không đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, bà C đã có đơn yêu cầu giải quyết ngày 16/8/2024 (bút lục số 82) và đơn trình bày ý kiến bổ sung (bút lục số 83), trong đó nêu rõ: “Hiện nay, vì gia đình tôi khó khăn, không có điều kiện cũng như không vay mượn được ai để có số tiền hơn 5.000.000 đồng nộp cho Tòa án để thẩm định tài sản, nên xin Tòa xem xét lại.”

Như vậy, nguyên đơn không nộp tạm ứng chi phí tố tụng là do lý do khách quan, chính đáng. Tòa án sơ thẩm lẽ ra nên gia hạn thời gian nộp tiền hoặc có biện pháp hỗ trợ phù hợp. Việc đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của bà C với lý do không nộp tạm ứng chi phí tố tụng là không phù hợp.

[4] Về phần quyết định của bản án:

Phần quyết định của bản án chỉ tuyên chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn H, nhưng không cụ thể, rõ ràng, không đúng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, cần sửa cách tuyên án cho đúng quy định.

[5] Từ những phân tích, nhận định nêu trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm thủ tục tố tụng nhưng không nghiêm trọng và không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Việc đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung của bà Huỳnh Thị Kim C thì bà C có quyền khởi kiện lại bằng một vụ án khác. Mặt khác, tại phiên tòa, mặc dù bị đơn ông H không có mặt, nhưng bà C cũng đồng ý ly hôn với ông H nên không cần thiết phải hủy bản án mà chỉ cần nêu ra để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm và sửa một phần bản án sơ thẩm số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước về cách tuyên án và bổ sung quan hệ tranh chấp cũng như yêu cầu ly hôn của bị đơn. Do đó, cần chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
  2. Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước.

    Sửa một phần Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước.

  3. Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm đ khoản 1 Điều 217; Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  4. Tuyên xử:

    • - Đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim C. Bà C có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.
    • - Chấp nhận yêu cầu phản tố xin ly hôn của bị đơn ông Nguyễn Văn H: Tuyên bố ông Nguyễn Văn H được ly hôn bà Huỳnh Thị Kim C.
  5. Về án phí và chi phí tố tụng:
    • - Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007108 ngày 04/6/2024.
    • - Trả lại cho bà Huỳnh Thị Kim C số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) tiền tạm ứng án phí bà C đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007090 ngày 03/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Phước (01);
  • - TAND huyện Bù Đốp (01);
  • - Chi cục THADS huyện Bù Đốp (01);
  • - Các đương sự (02);
  • - Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa GĐ&NCTN (04).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quang Ninh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/HNGĐ-PT ngày 14/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung khi ly hôn

  • Số bản án: 02/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước. Sửa một phần Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger