|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/HC-ST
Ngày 27/3/2025
V/v Khiếu kiện Quyết định
hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Anh Dũng và bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
Thư ký phiên toà: Ông Tạ Trung Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 23/2024/TLST-HC ngày 26 tháng 11 năm 2024 về “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HC ngày 21 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Vũ Văn H, sinh năm 1974;
Địa chỉ: Thôn G, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình;
Địa chỉ: Số G, đường T, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Gia D - Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Chu Đức C - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình;
Địa chỉ: xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện theo pháp luật: ông Phan Văn T - Phó chủ tịch phụ trách Ủy ban nhân dân xã Đ.
- Bà Đặng Thị N (B), sinh năm 1975;
- Bà Bùi Thị S, sinh năm 1952;
Đều địa chỉ: Thôn G, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
(ông H có mặt; Ủy ban nhân dân thành phố T, Ủy ban nhân dân xã Đ, bà N, bà S đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, đơn bổ sung đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người khởi kiện trình bày cụ thể như sau:
1. Về quyết định hành chính bị kiện:
1.1. Đối với Quyết định số 1437/QĐ-UBND ngày 27/4/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố T:
Ngày 27/4/2022, Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) thành phố T ban hành Quyết định số 1437/QĐ-UBND về việc phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Khu dân cư xã Đ, thành phố T (sau đây viết tắt là Quyết định số 1437). Ông cho rằng Quyết định số 1437 không phù hợp theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 9 và khoản 1 Điều 10 của Quyết định số 31/2021/QĐ-UBND ngày 29/12/2021 của UBND tỉnh T ban hành quy định phân cấp, phân công quản lý hoạt động đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
Ngày 04/12/2023, theo nội dung giới thiệu tại cuộc họp, gia đình ông mới biết đến Dự án hạ tầng kỹ thuật khu dân cư xã Đ, thành phố T do Trung tâm Phát triển quỹ đất và C1 công nghiệp (sau đây viết tắt là TTPTQĐ&CCN) thành phố T và Ban Quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thành phố T phối hợp với UBND xã Đ giới thiệu về Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 và Kế hoạch số 156/KH-UBND ngày 10/11/2023 của UBND thành phố T.
Ông cho rằng Quyết định số 1437 căn cứ vào Quyết định số 1873/QĐ-UBND ngày 04/8/2021 (sau đây viết tắt là Quyết định số 1873) của UBND tỉnh T về việc phê duyệt nhiệm vụ và dự toán lập quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Khu dân cư xã Đ, thành phố T nên chưa có cơ sở để so sánh sự phù hợp của Quyết định số 1437 và Quyết định số 1873. Quyết định số 1437 không phù hợp theo quy định tại số thứ tự 10, khoản XVI, cột Hạng mục (tên dự án) Biểu 10 Nghị quyết số 48/NQ-HĐND ngày 15/12/2021 của HĐND thành phố T; khoản 2 Điều 2 Quyết định số 3484/QĐ-UBND ngày 31/12/2021, Điều 2 Quyết định số 1261/QĐ- UBND ngày 21/6/2023 của UBND tỉnh T; điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 26/NQ-HĐND ngày 12/07/2023, Nghị quyết 52/NQ-HĐND ngày 08/12/2023 của Hội đồng nhân dân (sau đây viết tắt là HĐND) tỉnh Thái Bình; số thứ tự 13 mục VI phụ lục 3 Quyết định số 2285/QĐ-UBND ngày 13/10/2023 của UBND tỉnh T; khoản 2 Điều 2 Quyết định số 743/QĐ-UBND ngày 23/5/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh T. Trong đó, các Nghị quyết, quyết định đều thể hiện diện tích quy hoạch khoảng 11,2 ha nhưng tại các Quyết định số 3198/QĐ-UBND ngày 30/7/2024 (sau đây viết tắt là Quyết định số 3198) và 3199/QĐ-UBND ngày 30/7/2024 (sau đây viết tắt là Quyết định số 3199) của UBND thành phố T căn cứ vào Quyết định số 851/QĐ-UBND ngày 11/4/2023 của UBND thành phố T (Diện tích sử dụng đất khoảng: 12ha) và Quyết định số 1437 (Tổng diện tích nghiên cứu lập quy hoạch: 119.533,9m² ~ 11,95ha) để ban hành là không đúng với diện tích, vị trí quy hoạch được HĐND tỉnh T và UBND tỉnh T quyết định, phê duyệt (diện tích tăng thêm tương ứng khoảng: 0,75ha).
Ông khẳng định Quyết định số 1437 và Quyết định số 851/QĐ-UBND ngày 11/4/2023 của UBND thành phố T không còn phù hợp theo quy định làm căn cứ thu hồi đất. Ông yêu cầu UBND thành phố T phê duyệt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tại Quyết định số 1437 đúng theo diện tích quy hoạch được duyệt.
1.2. Đối với Quyết định số 3198/QĐ-UBND và Quyết định số 3199/QĐ-UBND ngày 30/7/2024 của UBND thành phố T:
Ngày 30/7/2024, Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định số 3198 và Quyết định số 3199, tại Điều 1 của các Quyết định trên có nội dung: “Thu hồi 184,0m² của hộ bà Đặng Thị N (B), hiện ông Vũ Văn H đang sử dụng (đất có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của bà Đặng Thị N)” và “Thu hồi 300,0m² đất của hộ bà Bùi Thị S, hiện ông Vũ Văn H đang sử dụng (đất có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của bà Bùi Thị S)” đều thuộc thửa đất số 361, tờ bản đồ địa chính 6 tại xã Đ, thành phố T. Khi tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chưa thực hiện theo các nội dung quy định tại điểm b, d khoản 1 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 về trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Hiện nay, UBND thành phố T chưa ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc và tổ chức thực hiện cưỡng chế. Gia đình ông chưa làm việc với bất cứ tổ chức, cá nhân nào liên quan đến việc điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm (không có biên bản làm việc về nội dung kiểm đếm và Biên bản về nội dung từ chối phối hợp kiểm đếm).
Quyết định số 3198 và 3199 được ban hành khi chưa thực hiện đúng trình tự tờ chỉnh lý bản trích lục địa chính khu đất số TL 01- 2023, tỷ lệ 1/1000 do Công ty cổ phần T1 lập ngày 03/11/2023 và được Sở T2 thẩm định ngày 07/11/2023, không phù hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 9 Mục I Chương III Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ T3; Nghị Quyết số 48/NQ-HĐND ngày 15/12/2021 của UBND thành phố T; Quyết định số 3484/QĐ-UBND ngày 31/12/2021 và Quyết định số 743/QĐ- UBND ngày 23/05/2024 của UBND tỉnh T làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của hộ gia đình ông.
Ông là người sử dụng đất do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất được UBND xã Đ xác nhận cho phép hộ bà S chuyển nhượng cho ông Vũ Văn H diện tích 484m² vào ngày 12/05/2012. Biên bản thẩm định được Ủy ban nhân dân xã Đ xác nhận đủ điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/05/2012. Tuy nhiên, theo Biên bản kiểm đếm tài sản, hoa màu phục vụ công tác giải phóng mặt bằng ngày 05/7/2024 do tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng triển khai thực hiện, ghi nhận chủ sở hữu tài sản “ông Vũ Văn H1, ông Vũ Văn H không có mặt tham gia, các thành phần thống nhất kiểm đếm theo hiện trạng thực tế” nhưng ông không phải là người tham gia trực tiếp trong buổi làm việc theo biên bản ghi nhận, cho đến thời điểm hiện tại ông chưa nhận được bất cứ thông báo thu hồi đất hay giấy mời kiểm đếm nào liên quan đến thửa đất này.
Quyết định số 3198, 3199 căn cứ vào Quyết định số 743, Quyết định số 1437, Quyết định số 851 và tờ chỉnh lý bản trích lục địa chính khu đất số TL 01-2023, tỷ lệ 1/1000 do Công ty cổ phần T1 lập ngày 03/11/2023, được Sở T2 thẩm định ngày 07/11/2023 để ban hành chưa phù hợp và chưa được phê duyệt điều chỉnh theo quy định tại điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 26/NQ-HĐND ngày 12/07/2023 của HĐND tỉnh T và Quyết định số 1873/QĐ-UBND ngày 04/8/2021 của UBND tỉnh T (chưa được phê duyệt điều chỉnh, bổ sung theo quy định). Đồng thời, Quyết định số 1437, Quyết định số 851 không còn phù hợp về quy mô dự án so với bản đồ đính kèm tại Quyết định số 1261/QĐ-UBND ngày 21/6/2023 của UBND tỉnh T.
Do đó, ông khẳng định việc UBND thành phố T ký ban hành các Quyết định số 3198 và 3199 không đúng trình tự, ảnh hưởng việc canh tác sản xuất mang lại nguồn thu nhập ổn định tại các thửa đất vì ông không có nguồn thu nhập nào khác, làm ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống, quyền lợi của hộ gia đình ông.
1.3. Đối với Quyết định số 3223/QĐ-UBND ngày 30/7/2024 của UBND thành phố T:
Ngày 11/7/2024, ông nhận được Thông báo số 173/TB-TTPTQĐ&CCN ngày 10/7/2024 (sau đây viết tắt là Thông báo số 173) do TTPTQĐ&CCN thành phố phát hành về việc “niêm yết công khai dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB (Đợt 3) dự án: Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư xã Đ, thành phố T (02 khu đất nông nghiệp giáp đường L và đường V, gần nút giao tuyến S1)”. Tại khoản 1 mục III ghi: Từ ngày 10/07/2024 đến ngày 29/07/2024 (20 ngày); Tại khoản 2 mục IV ghi các hộ gia đình, cá nhân kiểm tra đối chiếu họ và tên, khối lượng, đơn giá bồi thường hỗ trợ và có ý kiến về dự thảo phương án bồi thường giải phóng mặt bằng nộp lại cho đồng chí trưởng thôn trước ngày 20/7/2024.
Quyết định số 3223/QĐ-UBND ngày 30/07/2024 của UBND thành phố T không thể hiện nội dung được áp dụng giá bồi thường theo quy định tại Điều 1 và điểm d khoản 1 Điều 2 của Quyết định số 542/QĐ-UBND ngày 23/4/2024 của UBND tỉnh T: “Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố quyết định thành lập hội đồng thẩm thẩm định giá đất cụ thể theo quy định tại khoản 14 Điều 1 Nghị định số 12/2024/NĐ-CP” và “Báo cáo tình hình tổ chức thực hiện giá đất cụ thể và kết quả đấu giá quyền sử dụng đất trên địa bàn theo định kỳ hàng quý (trước ngày 25 của tháng cuối quý) hoặc báo cáo đột xuất...)”. Như vậy tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng không thực hiện đúng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 69 Luật Đất đai 2013. Tại khoản 2 mục IV Thông báo số 158/TTPTQĐ&CCN thành phố phối hợp với UBND xã Đ “về việc niêm yết công khai dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB (Đ)” quy định về thời gian có ý kiến đối với hộ gia đình, cá nhân (09 ngày) là không có cơ sở, không phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 13 Mục 1 Chương II Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở. Việc khống chế thời gian nêu trên đã làm hạn chế việc tìm hiểu thông tin, tìm hiểu các quy định pháp luật có liên quan để làm cơ sở đóng góp ý kiến hoặc có ý kiến khác về bồi thường giải phóng mặt bằng, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của hộ gia đình ông.
2. Về hành vi hành chính bị kiện:
2.1. Đối với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T2 vào 07/11/2023 có hành vi hành chính thẩm định bản đồ trích lục địa chính khu đất số TL 01-2023, tỉ lệ 1/1000 do Công ty cổ phần T1 lập ngày 03/11/2023 không phù hợp với kế hoạch sử dụng đất năm 2023 của thành phố T tại Quyết định số 1465/QĐ-UBND ngày 07/7/2023 của UBND tỉnh T, Nghị quyết số 26/NQ-HĐND ngày 12/7/2023 của HĐND tỉnh T, Quyết định số 2285/QĐ-UBND ngày 13/10/2023 của UBND tỉnh T, Quyết định số 743/QĐ-UBND ngày 23/5/2024 của UBND tỉnh T.
Điều 1 Quyết định số 3198 và Quyết định số 3199 có ghi: “Vị trí khu đất thu hồi được xác định theo tờ chỉnh lý bản trích lục địa chính khu đất số TL 01-2023, tỷ lệ 1/1000 do Công ty cổ phần T1 lập ngày 03/11/2023 và được Sở T2 thẩm định ngày 07/11/2023 để thực hiện” trong khi tờ chỉnh lý bản trích lục địa chính khu đất số TL 01-2023 không phù hợp với quy định pháp luật về diện tích quy hoạch và vị trí đất bị thu hồi theo Quyết định số 3484/QĐ-UBND ngày 31/12/2021 của UBND tỉnh T; Đồng thời, tổng diện tích đất trồng lúa ghi tại tờ chỉnh lý bản trích lục địa chính khu đất số TL 01-2023, tỷ lệ 1/1000 là 76.803,0m², tăng 1.403,0m² (đất LUC + BHK) so với Nghị quyết số 25/NQ-HĐND ngày 12/07/2023 của HĐND tỉnh T là sai quy định.
2.2. Đối với Phòng Quản lý đô thị và Ban Q1 hạ tầng thành phố:
Liên quan đến hành vi hành chính của Phòng Quản lý đô thị và Chủ đầu tư thực hiện tổ chức lập quy hoạch cho 02 Dự án không rà soát, kiểm soát làm tăng và trùng diện tích quy hoạch trình cấp có thẩm quyền ban hành Quyết định số 1437 và Quyết định số 989/QĐ-UBND ngày 03/4/2024 là 0,22ha có thể dẫn tới làm tăng diện tích thu hồi đất, tăng chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng, chi phí đầu tư xây dựng và các chi phí khác làm ảnh hưởng trực tiếp các chỉ tiêu, diện tích quy hoạch..., làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của hộ gia đình ông và uy tín của cấp chính quyền trong việc ban hành các Nghị quyết, quyết định có liên quan.
2.3. Đối với UBND xã Đ, thành phố T:
Có hành vi hành chính chậm công khai quy hoạch. Ngày ông được nhận giấy mời họp là ngày 01/12/2023, đến ngày 04/12/2023 tổ chức cuộc họp về việc triển khai công tác giải phóng mặt bằng dự án Hạ tầng kỹ thuật, nội dung trong cuộc họp để công bố Kế hoạch số 156/KH-UBND ngày 10/11/2023 của UBND thành phố theo Giấy mời số 227/GM-TTPTQĐ ngày 01/12/2023. Tiếp đó đến ngày 09/12/2023, ông nhận được Thông báo thu hồi đất của UBND thành phố phát hành từ ngày 24/11/2023 do thôn trưởng cung cấp. Quyết định số 1437 được phê duyệt ngày 27/4/2022 mà đến năm 2024, UBND xã Đ mới thực hiện theo nội dung quy định tại mục a khoản 1 Điều 53 Luật Quy hoạch đô thị làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tiếp cận thông tin của người dân theo quy định.
2.4. Đối với TTPTQĐ&CCN thành phố; Ban Quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thành phố:
Ngày 07/7/2024, sau khi được cung cấp một số thông tin và tra cứu thông tin được công bố công khai, ông làm đơn kiến nghị gửi đến Chủ tịch UBND thành phố T về việc kiến nghị xem xét, kiểm tra, xác minh sự phù hợp về trình tự thực hiện lập, phê duyệt đồ án Quy hoạch của TTPTQĐ&CCN thành phố; Ban Q1 làm cơ sở ban hành Quyết định số 1437 và các Thông báo thu hồi đất số 469, 473, 474, 619, 620 và 621 ngày 24 tháng 11 năm 2023 của UBND thành phố, đến nay, ông vẫn chưa nhận được ý kiến trả lời.
Sau khi ông nhận được các Quyết định số 2810, 2811, 2812, ngày 16/7/2024 ông làm đơn kiến nghị gửi đến Chủ tịch UBND thành phố T; TTPTQĐ&CCN thành phố; UBND xã Đ để nghị không thực hiện các Quyết định, thông báo trên vì chưa phù hợp với ý kiến của Sở Xây dựng và các quyết định của UBND tỉnh T cũng như quy định tại Điều 69 Luật đất đai năm 2013.
Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Tuyên hủy Quyết định số 3198/QĐ-UBND, Quyết định số 3199/QĐ-UBND cùng ban hành ngày 30/7/2024 của UBND thành phố T “v/v thu hồi đất để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công trình: Hạ tầng kỹ thuật khu dân cư xã Đ, thành phố T (02 khu đất nông nghiệp giáp đường L và đường V, gần nút giao tuyến tránh S1)”.
-
- Tuyên không công nhận tính hợp pháp của các hành vi hành chính sau:
- + Hành vi hành chính của UBND thành phố T trong việc ban hành các quyết định 3198, 3199 và Quyết định số 1437/QĐ-UBND ngày 27/4/2022, Quyết định số 851/QĐ-UBND ngày 11/4/2023 vì chưa phù hợp diện tích quy hoạch được duyệt và chưa đúng theo quy định hiện hành.
- + Hành vi của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T2 thẩm định, điều chỉnh tờ chỉnh lý bản trích lục địa chính khu đất số TL 01-2023 do công ty cổ phần T1 lập ngày 03/11/2023 không phù hợp với kế hoạch sử dụng đất năm 2023 của thành phố T.
- + Hành vi của Phòng Quản lý đô thị và Chủ đầu tư về lập, trình thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 4 Quyết định số 1357/QĐ-UBND ngày 12/04/2022 của UBND thành phố T.
- - Yêu cầu UBND xã Đ thực hiện theo quy định tại mục a, mục b khoản 4 Điều 2 Thông tư số 13/2019/TT-BNV ngày 06/11/2019.
- -Yêu cầu UBND thành phố T xác định rõ quyền sở hữu các thửa đất theo đúng thực tế và theo quy định của pháp luật đối với hộ gia đình ông trước khi ban hành Quyết định thu hồi đất.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025 ông H khởi kiện bổ sung: Yêu cầu tuyên huỷ Quyết định số 3223/QĐ-UBND ngày 30/7/2024 của UBND thành phố T về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án đầu tư xây dựng công trình: Hạ tầng kỹ thuật khu dân cư xã Đ, thành phố T (02 khu đất nông nghiệp giáp đường L và đường V, gần nút giao tuyến tránh S1) (đợt 3) với lý do tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường chưa thực hiện đúng quy định của Điều 69 Luật đất đai 2013 về thời gian niêm yết công khai phương án làm ảnh hưởng đến quyền có ý kiến khác hoặc ý kiến góp ý về dự thảo của cá nhân ông.
* Quan điểm của người bị kiện - Ủy ban nhân dân thành phố T đối với yêu cầu của người khởi kiện:
Người bị kiện không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Người khởi kiện.
1. Về căn cứ pháp lý thực hiện dự án:
Dự án Hạ tầng kỹ thuật khu dân cư xã Đ, thành phố T (02 khu đất nông nghiệp giáp đường L và đường V, gần nút giao tuyến tránh S1) được UBND thành phố T phê duyệt tại Quyết định số 1437/QĐ-UBND ngày 27/4/2022 cho chuyển mục đích trồng lúa, đất rừng phòng hộ để thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh Thái Bình theo Nghị quyết số 25/NQ-HĐND ngày 12/7/2023 và phê duyệt bổ sung danh mục dự án cần thu hồi để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn tỉnh Thái Bình theo Nghị quyết số 26/NQ-HĐND ngày 12/7/2023; Dự án có trong Kế hoạch sử dụng đất đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2285/QĐ-UBND ngày 13/10/2023; Dự án thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai năm 2013.
2. Về trình tự, thủ tục thu hồi đất:
Căn cứ quy định tại Điều 62, Điều 66, Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành; Quyết định số 1793/QĐ-UBND ngày 06/8/2014 của UBND tỉnh T về việc ủy quyền cho UBND thành phố tiến hành thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; UBND thành phố đã ban hành Kế hoạch, Thông báo thu hồi đất và chỉ đạo TTPTQĐ&CCN thành phố phối hợp với các phòng, ban đơn vị liên quan, UBND xã Đ, cơ sở các thôn có liên quan và đại diện các hộ dân có đất bị thu hồi họp để triển khai công tác giải phóng mặt bằng dự án; trong đó đã triển khai kế hoạch, thông báo thu hồi đất, các quy định của pháp luật về giải phóng mặt bằng đồng thời gửi Thông báo thu hồi đất cho các hộ dân có đất bị thu hồi.
Sau khi thống kê diện tích, tên chủ sử dụng đất, tỷ lệ đất nông nghiệp thu hồi, nhân khẩu nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân thuộc dự án; TTPTQĐ&CCN thành phố đã phối hợp với UBND xã Đ và các phòng, ban, đơn vị liên quan tổ chức kiểm đếm tài sản, cây cối, hoa màu trên đất. Căn cứ kết quả kiểm đếm và các hồ sơ tài liệu liên quan, TTPTQĐ&CCN thành phố đã lập phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, phối hợp với UBND xã Đ, cơ sở thôn tổ chức niêm yết công khai dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ và trình thẩm định, phê duyệt theo quy định.
Xét đề nghị của TTPTQĐ&CCN thành phố T tại Tờ trình số 158/TTr-PTQĐ&CCN ngày 30/7/2024; phòng Tài nguyên và Môi trường Thành phố tại Báo cáo số 161/BC-TNMT ngày 30/7/2024 về kết quả thẩm định của các phòng, ban liên quan; UBND thành phố đã ban hành Quyết định thu hồi đất số 3198 thu hồi 300,0m², đất thuộc thửa số 361, tờ bản đồ số 06 tại xã Đ của hộ gia đình bà Bùi Thị S, hiện ông Vũ Văn H đang sử dụng (đất có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của bà Bùi Thị S), Quyết định số 3199/QĐ-UBND ngày 30/7/2024 của UBND thành phố T thu hồi 184,0m² đất thửa số 361, tờ bản đồ số 06 tại xã Đ của hộ gia đình bà Đặng Thị N (B), hiện ông Vũ Văn H đang sử dụng (đất có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của bà N) và Quyết định số 3223/QĐ-UBND ngày 30/7/2024 phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng Dự án đầu tư xây dựng công trình: Hạ tầng kỹ thuật khu dân cư xã Đ, thành phố T (02 khu đất nông nghiệp giáp đường L và đường V, gần nút giao tuyến tránh S1) (đợt 3); Trong đó có hộ gia đình bà Bùi Thị S và bà Đặng Thị N, hiện ông Vũ Văn H đang sử dụng (đất có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của bà Bùi Thị S và bà Đặng Thị N), với tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 94.986.000 đồng và tổng số tiền bồi thường cây cối, hoa màu trên đất của ông Vũ Văn H là 3.388.000 đồng.
Ngày 10/7/2024, Chủ tịch UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 2812/QĐ-UBND về việc kiểm đếm bắt buộc; Ngày 28/11/2024, Chủ tịch UBND thành phố đã ban hành Quyết định số: 4817/QĐ-UBND về việc cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc đối với 02 hộ gia đình ông Vũ Văn H1, bà Nguyễn Thị Đ1 và hộ ông Vũ Văn H tại các thửa số 62, tờ bản đồ số 22, thửa số 363, tờ bản đồ số 6, thửa số 71 và thửa số 72, tờ bản đồ số 22; đối với phần diện tích đất ở 105,3m² của ông H tại thửa số 71 và thửa số 72, tờ bản đồ số 22 chưa có Quyết định thu hồi đất. Sau khi ban hành quyết định cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc; Chủ tịch UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 4890/QĐ-UBND ngày 11/12/2024 về việc thành lập ban cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc đồng thời xây dựng kế hoạch, phương án cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc, đã tuyên truyền, vận động và tổ chức đối thoại, giải thích trả lời các hộ dân theo quy định. Ban cưỡng chế đã tổ chức thực hiện việc cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc vào ngày 27/12/2024.
Hiện nay, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố đang niêm yết dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ; Tuy nhiên, trong quá trình niêm yết ông H có kiến nghị thiếu khối lượng kiểm đếm (việc cưỡng chế kiểm đếm mang tính trực quan, chưa đầy đủ) do đó, ông H đã đề nghị kiểm đếm lại đối với toàn bộ tài sản, cây cối, hoa màu trên đất đối với các thửa đất đã thực hiện cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc. Ngày 10/3/2025, Trung tâm đã phối hợp với UBND xã Đ, thôn G và ông H kiểm đếm lại khối lượng tài sản trên đất cho ông H.
Như vậy, về quy trình, thủ tục, thẩm quyền thu hồi đất, giải phóng mặt bằng đã được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 62, Điều 66, Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Vì các căn cứ nêu trên, UBND thành phố T khẳng định toàn bộ quá trình thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng liên quan đến thu hồi đất Dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật khu dân cư X, thành phố T (02 khu đất nông nghiệp giáp đường L và đường V, gần nút giao tuyến tránh S1) đã được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định. Chế độ, chính sách bồi thường, hỗ trợ cho các hộ gia đình, cá nhân đã đảm bảo chính sách của Nhà nước và của tỉnh Thái Bình tại thời điểm thu hồi đất.
Do vậy, ông Vũ Văn H khiếu kiện yêu cầu hủy các Quyết định nêu trên là không có căn cứ.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - UBND xã Đ trình bày:
UBND xã Đ thực hiện theo chỉ đạo của UBND tỉnh T, UBND thành phố T trong việc thu hồi đất để thực hiện dự án. Toàn bộ quá trình đều đúng quy định và trình tự của pháp luật. Cụ thể:
Từ ngày 15/12/2023, UBND Xã Đ đã phối hợp với trung tâm PTQĐ&CCN Thành phố tiến hành kiểm đếm đối với 167 hộ gia đình, cá nhân xã Đ; bồi thường di chuyển mộ của 04 hộ. Ngày 10/5/2024, UBND Thành phố đã ban hành các Quyết định thu hồi đất và phê duyết phương án bồi thường, hỗ trợ (đợt 1) với số tiền là 10,3 tỷ đồng; 69/73 hộ gia đình, cá nhân với số tiền là 23 tỷ đồng. Đối với các hộ gia đình, các nhân còn lại, đến nay còn 07 hộ gia đình, cá nhân không phối hợp kiểm đếm tài sản trên đất trong đó có ông Vũ Văn H.
Ngày 03,04,05/7/2024, UBND xã Đ tiếp tục phối hợp với Trung tâm PTQĐ&CCN thành phố và các đơn vị có liên quan tổ chức tuyên truyền, vận động 07 hộ gia đình, cá nhân thôn G phối hợp kiểm đếm tài sản trên đất để thực hiện công tác GPMB của dự án. Tuy nhiên, 07 hộ gia đình, cá nhân không chấp hành kiểm đếm tài sản với lý do không nhất trí với quy hoạch dự án, đơn giá bồi thường và đề nghị thực hiện theo Luật đất đai mới.(Có biên bản làm việc kèm theo)
UBND xã Đ đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện và xin xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - bà Bùi Thị S trình bày:
Ngày 17/05/2012, bà và ông Vũ Văn H có làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất ruộng 484m² được giao theo quyết định 652, giáp mặt đường Quốc lộ 10, giá trị chuyển nhượng là 150.000.000 đồng, tuy nhiên, hai bên chưa làm thủ tục công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật nhưng việc chuyển nhượng giữa hai bên là có, đã mua đứt bán đoạn với nhau.
Theo Quyết định số 3198 thì: “Điều 1. Thu hồi 300,0 m² đất của hộ bà Bùi Thị S, hiện ông Vũ Văn H đang sử dụng...”. Lẽ ra quyết định này phải đứng tên ông Vũ Văn H vì ông H được nhận chuyển nhượng diện tích đất của bà. Do đó, bà đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn H.
Bà ủy quyền cho ông H thay bà tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và xin xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - bà Đặng Thị N trình bày:
Ngày 17/05/2012, đại diện gia đình bà là bà Bùi Thị S và ông Vũ Văn H có làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất ruộng 484m² được giao theo Quyết định 652, giáp mặt đường Quốc lộ 10, giá trị chuyển nhượng là 150.000.000 đồng, hai bên chưa làm thủ tục công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật nhưng việc chuyển nhượng giữa hai bên là có, đã mua đứt bán đoạn với nhau.
Theo Quyết định số 3199 thì: “Điều 1. Thu hồi 184,0 m² đất của hộ bà Đặng Thị N, hiện ông Vũ Văn H đang sử dụng...”. Lẽ ra quyết định này phải đứng tên ông Vũ Văn H vì ông H được nhận chuyển nhượng diện tích đất của bà. Do đó, bà đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn H.
Bà ủy quyền cho ông H thay bà tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và xin xét xử vắng mặt.
* Tại phiên tòa, ông Vũ Văn H trình bày:
Ông vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử thêm các yêu cầu khởi kiện mới, đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính từ thủ tục thụ lý vụ án, thu thập tài liệu chứng cứ; mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại; mở phiên tòa và xét xử tại phiên tòa. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính, N1 bị kiện và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - UBND thành phố T, UBND xã Đ, bà Bùi Thị S, bà Đặng Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hợp lệ.
Về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 3, 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 204, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính; điểm b khoản 3 Điều 62 và các Điều 66, 69, 204 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đối tượng khởi kiện vụ án hành chính:
Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và các lời khai, Ông Vũ Văn H trình bày ông khởi kiện Quyết định số 3198/QĐ-UBND ngày 30/7/2024, Quyết định số 3199/QĐ-UBND ngày 30/7/2024 của UBND thành phố T “v/v thu hồi đất để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công trình: Hạ tầng kỹ thuật khu dân cư xã Đ, thành phố T (02 khu đất nông nghiệp giáp đường L và đường V, gần nút giao tuyến tránh S1)” do UBND thành phố T ban hành, đây là các thửa đất ông nhận chuyển nhượng từ bà S, bà N nhưng UBND xã Đ lại mời bà S, bà N làm việc nên ông chưa nhận được bất cứ thông báo thu hồi đất hay giấy mời kiểm đếm nào liên quan đến các thửa đất trên, việc ban hành thực hiện không đúng trình tự thủ tục nên ông khởi kiện yêu cầu huỷ các Quyết định nêu trên. Ông cũng khiếu kiện Quyết định số 3223/QĐ-UBND ngày 30/7/2024 “phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án Đầu tư xây dựng công trình: Hạ tầng kỹ thuật khu dân cư xã Đ, thành phố T (02 khu đất nông nghiệp giáp đường L và đường V, gần nút giao tuyến tránh S1)-đợt 3 do chưa thực hiện theo quy định của khoản 2 Điều 69 Luật đất đai năm 2023 làm ảnh hưởng đến cuộc sống ổn định của gia đình ông. Xét thấy, sau khi Toà án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, ông H mới bổ sung yêu cầu khởi kiện đề nghị huỷ Quyết định số 3223. Tuy nhiên, quyết định này liên quan chặt chẽ đến các quyết định 3198, 3199 và đều do UBND thành phố T ban hành nên không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 173 Luật Tố tụng hành chính cần xem xét giải quyết trong vụ án để việc giải quyết vụ án được triệt để, đảm bảo quyền lợi cho ông H.
Ông H cũng yêu cầu không công nhận tính hợp pháp về hành vi hành chính của Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T2 khi thẩm định tờ chỉnh lý bản trích lục địa chính khu đất làm dự án trên vào ngày 07/11/2023 làm căn cứ thu hồi đất là không phù hợp với diện tích quy định tại Quyết định 3484/QĐ-UBND ngày 31/12/2021, hành vi hành chính của UBND thành phố T khi phê duyệt, bổ sung quy hoạch tại Quyết định 1437 ngày 27/4/2022, hành vi trái pháp luật của Phòng quản lý đô thị và Chủ đầu tư thực hiện dự án khi trình thẩm định, phê duyệt dự án, hành vi của UBND xã Đ không thực hiện việc thẩm tra, xác minh nguồn gốc, hiện trạng sử dụng đất thu hồi là ông đã nhận chuyển nhượng của người khác. Như vậy, ông H vừa khởi kiện các quyết định hành chính vừa khởi kiện hành vi hành chính liên quan đến việc ban hành các quyết định trên. Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đã giải thích và hướng dẫn ông H về việc lựa chọn yêu cầu khởi kiện nhưng ông H không thay đổi, giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện. Căn cứ Mục 7 giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày 19-9-2016, Công văn số 21/TANDTC-PC ngày 13-9-2019 Tòa án chỉ thụ lý, xem xét giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện các quyết định hành chính, Quyết định cưỡng chế và yêu cầu bồi thường thiệt hại do Quyết định hành chính số 3198/QĐ-UBND ngày 30/7/2024, Quyết định số 3199/QĐ-UBND ngày 30/7/2024 của UBND thành phố T “v/v thu hồi đất để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công trình: Hạ tầng kỹ thuật khu dân cư xã Đ, thành phố T (02 khu đất nông nghiệp giáp đường L và đường V, gần nút giao tuyến tránh S1)”, Quyết định số 3223/QĐ-UBND ngày 30/7/2024 “phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án Đầu tư xây dựng công trình: Hạ tầng kỹ thuật khu dân cư xã Đ, thành phố T (02 khu đất nông nghiệp giáp đường L và đường V, gần nút giao tuyến tránh S1) - đợt 3 do UBND thành phố T ban hành vì xác định đó là các quyết định hành chính bị kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính.
[1.2] Về thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án:
UBND thành phố T ban hành các quyết định 3198, 3199, 3223 đều vào ngày 30/7/2024. Ông H trình bày ngày 11/7/2014 ông biết được Thông báo số 173/TB-TTPTQĐ&CCN ngày 10/7/2024 của Trung tâm PTQĐ&CCN phát hành “Về việc niêm yết công khai dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB (đợt 3) dự án, ông biết các Quyết định 3197, 3198 và 3223 đều ban hành ngày 30/7/2024. Ngày 17/9/2024 ông H khởi kiện là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
[1.3] Về việc vắng mặt của đương sự:
Xét thấy, Người bị kiện - UBND thành phố T và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND xã Đ (Người đại diện theo pháp luật là đ/c chủ tịch UBND xã đi học nên UBND thành phố chỉ định đ/c Phó chủ tịch Phan Văn T phụ trách điều hành mọi hoạt động của UBND xã Đ từ tháng 8/2024 đến nay tại văn bản số 1928/UBND-NV ngày 30/8/2024), bà Bùi Thị S, bà Đặng Thị N vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 158 của Luật Tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung. Đối với bà Vũ Vân Q sinh năm 1979, trú tại P, tổ A, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội khai ông H mua đất của bà S, bà N khi đang còn trong thời kỳ hôn nhân với bà bằng tiền của riêng ông H, không liên quan gì đến quyền lợi của bà nên bà từ chối tham gia tố tụng. Vì vậy Toà án không đưa bà Q vào tham gia vụ án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét tính hợp pháp và có căn cứ của Quyết định số 3198/QĐ-UBND, Quyết định số 3199/QĐ-UBND và Quyết định số 3223/QĐ-UBND của UBND thành phố T:
- Về hình thức ban hành các quyết định:
Các Quyết định số 3198, 3199, 3223 của UBND thành phố T được ban hành đúng thể thức văn bản, đầy đủ nội dung về căn cứ ban hành quyết định, nội dung quyết định, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan trong việc thi hành quyết định.
- Về căn cứ ban hành các quyết định:
Dự án hạ tầng kỹ thuật khu dân cư xã Đ, thành phố T (02 khu đất nông nghiệp giáp đường L và đường V, gần nút giao tuyến tránh S1) đã được UBND thành phố T phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu dân cư xã Đ, thành phố T tại Quyết định số 1437/QĐ-UBND ngày 27/4/2022; được Hội đồng nhân dân tỉnh T phê duyệt chuyển mục đích trồng lúa, đất rừng phòng hộ để thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh Thái Bình tại Nghị quyết số 25/NQ-HĐND ngày 12/7/2023 và phê duyệt bổ sung danh mục dự án cần thu hồi để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bản tỉnh Thái Bình tại Nghị quyết số 26/NQ-HĐND ngày 12/7/2023 theo danh mục có STT 38; có trong Kế hoạch sử dụng đất đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2285/QĐ-UBND ngày 13/10/2023 nhằm mục đích chỉnh trang, phát triển mở rộng không gian đô thị tại khu vực theo định hướng phát triển đô thị thành phố, khai thác quỹ đất, tạo nguồn vốn để xây dựng các dự án trọng điểm của thành phố, phục vụ phát triển đô thị theo chủ trương của tỉnh Thái Bình đồng thời xác định tính chất khu vực quy hoạch là “Khu dân cư mới, góp phần chỉnh trang đô thị với hệ thống hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật đồng bộ” và “Quy hoạch hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật nội bộ, đấu nối phù hợp và định hướng phát triển lâu dài với khu vực”. Theo Điều 2 của Quyết định và phụ lục kèm theo thì dự án trên có số thứ tự 13, xác định số thửa phải thu hồi từ 185-493 tờ bản đồ địa chính số 6, 7. Dự án trên thuộc trường hợp thu hồi đất theo quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật đất đai năm 2013, các thửa đất của ông H thuộc diện tích phải thu hồi.
- Về thẩm quyền ban hành các quyết định:
UBND tỉnh đã ủy quyền cho UBND thành phố quyết định thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo Quyết định số 1793/QĐ-UBND ngày 06/8/2014. Như vậy, UBND thành phố ban hành Quyết định 3198, 3199 thu hồi đất đối với hộ gia đình ông Vũ Văn H và Quyết định số 3223 phê duyệt phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013.
- Về trình tự, thủ tục ban hành, nội dung các quyết định:
Căn cứ quy định tại Điều 62, Điều 66, Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành; Quyết định số 1793/QĐ-UBND ngày 06/8/2014 của UBND tỉnh T về việc ủy quyền thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, UBND thành phố T đã ban hành Kế hoạch, Thông báo thu hồi đất và chỉ đạo Trung tâm P (nay là Trung tâm phát triển quỹ đất và cụm C) phối hợp với các phòng, ban đơn vị liên quan, UBND xã Đ, cơ sở thôn có liên quan và đại diện các hộ dân có đất thu hồi họp để triển khai công tác giải phóng mặt bằng đối với dự án hạ tầng kỹ thuật khu dân cư xã Đ, thành phố T, trong đó: đã triển khai kế hoạch, thông báo thu hồi đất, các quy định của pháp luật về giải phóng mặt bằng đồng thời gửi Thông báo thu hồi đất cho các hộ dân có đất bị thu hồi. Sau khi thống kê diện tích, chủ sử dụng đất, tỷ lệ đất nông nghiệp thu hồi, nhân khẩu nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân thuộc dự án, Trung tâm Phát triển quỹ đất Thành phố đã phối hợp với UBND xã Đ và các phòng, ban, đơn vị liên quan tổ chức kiểm đếm tài sản, cây cối, hoa màu trên đất. Căn cứ kết quả kiểm đếm và các hồ sơ tài liệu liên quan, Trung tâm Phát triển quỹ đất Thành phố đã lập phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, phối hợp với UBND xã Đ, cơ sở thôn tổ chức niêm yết công khai dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ và trình thẩm định, phê duyệt theo quy định trong đó có hộ gia đình bà Bùi Thị S và bà Đặng Thị N, hiện ông Vũ Văn H đang sử dụng (đất có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của bà Bùi Thị S và bà Đặng Thị N), với tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 94.986.000 đồng và tổng số tiền bồi thường cây cối, hoa màu của ông Vũ Văn H là 3.388.000 đồng.
Các Quyết định đã được niêm yết công khai và gửi tới các hộ dân theo quy định, Trung tâm Phát triển quỹ đất và Cụm C đã tổ chức chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho các hộ gia đình, cá nhân, phối hợp với UBND xã Đ tổ chức làm việc, tuyên truyền, giải thích, vận động, đồng thời có Văn bản số 2116/UBND-QLĐT ngày 20/9/2024 trả lời các ý kiến kiến nghị của công dân theo quy định.
Về trình tự, thủ tục thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường đã được thực hiện đúng theo Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và các văn bản của UBND tỉnh T gồm: Quyết định số 08/2014/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 ban hành quy định về một số chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Bình, Quyết định số 3077/QĐ-UBND ngày 19/12/2014, Quyết định số 22/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 ban hành quy định về Bảng giá đất trên địa bàn tỉnh Thái Bình, Quyết định số 284/QĐ-UBND ngày 23/01/2019, Quyết định số 539/QĐ-UBND ngày 19/02/2020 quy định hệ số điều chỉnh giá đất để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình, Công văn số 1346/UBND-TNMT ngày 07/5/2015 của UBND tỉnh T, phù hợp quy định của Điều 62, Điều 66, Điều 69 Luật Đất đai năm 2013, việc thực hiện về hỗ trợ bồi thường giải phóng mặt bằng, phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng cho ông Vũ Văn H đã được UBND thành phố T phê duyệt là đảm bảo theo quy định. Số tiền được bồi thường theo danh mục ông H không nhận nên UBND thành phố phải gửi vào Kho bạc nhà nước theo quy định.
Ông H trình bày không được tham gia kiểm đếm tài sản, hoa màu phục vụ công tác giải phóng mặt bằng vào ngày 05/7/2024 và cho rằng đến thời điểm hiện tại, ông chưa nhận được bất cứ thông báo thu hồi đất hay giấy mời kiểm đếm nào liên quan đến thửa đất này. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu do Người bị kiện cung cấp, ông H đã được nhận Thông báo thu hồi đất, được tham gia cuộc họp lấy ý kiến về việc thu hồi đất, được vận động, thuyết phục nhiều lần để phối hợp thực hiện việc kiểm đếm nhưng ông H không chấp hành. Do đó, lời trình bày của ông H là không có cơ sở chấp nhận.
Ông H cho rằng Quyết định số 3223 được UBND thành phố T niêm yết 20 ngày, chưa đảm bảo thời gian 30 ngày theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 28 Nghị định 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 15/5/2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất thì thời gian niêm yết quyết định ít nhất là 20 ngày, kể từ ngày niêm yết. Như vậy, UBND thành phố T đã thực hiện niêm yết Quyết định số 3223 đúng quy định.
Ông H cho rằng Quyết định số 3198, 3199 và 3223 không ghi tên ông mà ghi tên bà S, bà N là không đúng vì ông đã nhận đất chuyển nhượng của những người này và được UBND xã công nhận chuyển nhượng. Tuy nhiên, do ông H và bà S, bà N chưa thực hiện việc đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên các Quyết định số 3198, 3199 và 3223 ghi tên bà S, bà N là đúng quy định. Mặt khác, Quyết định số 3198, 3199 còn nêu rõ nội dung đất hiện nay do ông H sử dụng do có nguồn gốc chuyển nhượng của bà S, bà N là đã đảm bảo quyền lợi cho ông H.
[2.2] Tại phiên toà, ông H xin rút yêu cầu khởi kiện các hành vi hành chính vì ông đã nhận thức được chỉ cần khởi kiện các quyết định hành chính nêu trên.
[3] Từ những lập luận trên, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện. Cần căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn H.
[4] Về án phí:
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Ông Vũ Văn H phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; khoản 1 Điều 158, Điều 164; điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 204, Điều 206 và khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ các Điều 62, 63, 66, 67, 68, 69, 70 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[1] Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn H về việc yêu cầu tuyên hủy các Quyết định hành chính:
- - Quyết định số 3198/QĐ-UBND “v/v thu hồi đất để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công trình: Hạ tầng kỹ thuật khu dân cư xã Đ, thành phố T (02 khu đất nông nghiệp giáp đường L và đường V, gần nút giao tuyến tránh S1)” ngày 30/7/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- - Quyết định số 3199/QĐ-UBND “v/v thu hồi đất để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công trình: Hạ tầng kỹ thuật khu dân cư xã Đ, thành phố T (02 khu đất nông nghiệp giáp đường L và đường V, gần nút giao tuyến tránh S1)” ngày 30/7/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- - Quyết định số 3223/QĐ-UBND “phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án Đầu tư xây dựng công trình: Hạ tầng kỹ thuật khu dân cư xã Đ, thành phố T (02 khu đất nông nghiệp giáp đường L và đường V, gần nút giao tuyến tránh S1)-đợt 3” ngày 30/7/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố T.
[2] Án phí:
Ông Vũ Văn H phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng ông H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000377 ngày 26/11/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
[3] Về quyền kháng cáo:
Ông Vũ Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/3/2025. Người bị kiện, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thúy Hoàn |
Bản án số 02/2025/HC-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 02/2025/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn H - UBND thành phố T
