Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KHÁNH HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 02/2025/HC-ST

Ngày: 06/3/2025

V/v “Khiếu kiện quyết định hành chính
trong lĩnh vực quản lý đất đai”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HOÀ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Trầm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Minh Long

Ông Nguyễn Minh Hùng

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hoà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hoà: Ông Nguyễn Đình Nhật - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 99/2023/TLST-HC ngày 27/11/2023 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HC ngày 26 tháng 12 năm 2024, Thông báo dời ngày xét xử vụ án số 01/TB-HC ngày 10/01/2025 và Thông báo dời ngày xét xử vụ án số 04/TB-HC ngày 06/02/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 07/2025/QĐST-HC ngày 24/02/2025 giữa các đương sự:

Người khởi kiện:

  • - Bà Ngô Thị Minh H; Địa chỉ: TDP B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
  • - Ông Trần Trung T; Địa chỉ: TDP B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.
  • - Ông Trần Trung H1; Địa chỉ: TDP B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.
  • - Ông Trần Minh D; Địa chỉ: TDP B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.
  • Người đại điện theo uỷ quyền của ông Trần Trung T, ông Trần Trung H1 và ông Trần Minh D: Bà Ngô Thị Minh H. Có mặt

Người bị kiện: Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh K (trước đây là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K)

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Duy Q – Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh K; địa chỉ: A Đường H, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh K:

  • - Ông Nguyễn Hùng P – Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • - Ông Trần Quang G – Tổ trưởng tổ cấp giấy chứng nhận Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Ngô Văn Đ và bà Lê Thị X; địa chỉ: TDP B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của ông Ngô Văn Đ và bà Lê Thị X: Bà Lê Thị Thanh P1, sinh năm 1956; địa chỉ: TDP B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.

    Ông Đ có mặt. Bà P1 vắng mặt.

  3. Ông Trần Thanh T1, bà Trần Thị T2, ông Trần Thế V, ông Trần Nhật T3, cháu Trần Nguyên K; cùng địa chỉ: TDP B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Ông T1, bà T4, ông V, cháu K1 vắng mặt.
  4. Ông Trần Ngọc C, bà Nguyễn Thị Bích T5, ông Trần Nguyễn Ngọc T6; cùng địa chỉ: TDP B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Ông C có mặt. Bà T5, ông T6 vắng mặt.
  5. Bà Trần Nguyễn Quỳnh T7, địa chỉ: TDP B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  6. Bà Trần Thị Đ1 và ông Nguyễn H2; cùng địa chỉ: TDP B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Ông H2 có mặt, bà Đ1 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 12/5/2023, Đơn khởi kiện bổ sung ngày 31/8/2023 và quá trình tố tụng, người khởi kiện bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung T, Trần Trung H1 và anh Trần Minh D trình bày:

Khoảng năm 1991, bà Ngô Thị Minh H và chồng là ông Trần Văn T8 được ông Ngô Văn Đ và bà Lê Thị X cho một lô đất có diện tích khoảng 1.000m² có chiều ngang lô đất khoảng 37 mét, chiều dài khoảng 27 mét tại xã C, huyện C (nay là thị trấn C, huyện C). Năm 1992, bà H và ông T8 có chuyển nhượng một phần lô đất có diện tích khoảng 378m² (chiều ngang 14 mét, chiều dài 27 mét) cho ông Trần Ngọc C. Sau đó, gia đình bà và gia đình ông C xây dựng nhà ở, xác định ranh giới đất. Đến ngày 14/5/1994, bà và ông Trần Văn T8 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây được viết GCNQSD đất ) số 00262 QSDĐ/CĐ-CR với diện tích 1000m². Năm 2002, bà H đi đăng ký kê khai lại và được Ủy ban nhân dân thị xã C cấp đổi GCNQSD đất số phát hành V129707; số vào sổ: 01276 QSDĐ/CĐ-CR cấp ngày 22/4/2002 cho hộ bà Ngô Thị Minh H và ông Trần Văn T8 với diện tích 1000m², thuộc thửa đất số 455, tờ bản đồ số 4 tại xã C, thị xã C, tỉnh Khánh Hòa trong đó có 200m² đất thổ. Năm 2017, sau khi ông T8 chết, bà và các con có lập văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C xác nhận biến động ngày 27/11/2017. Ngày 01/3/2022, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp đổi GCNQSD đất sau:

  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 09043 ngày 01/3/2022 đối với thửa đất số 744, tờ bản đồ số 32, diện tích 321,6m² tại tổ dân phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa cho bà và ông Trần Tung T9, Trần Trung H1 và Trần Minh D cùng sử dụng chung và cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất. Trong đó, số phát hành: DĐ 450528 cấp cho bà Ngô Thị Minh H; số phát hành: DĐ 450529 cấp cho ông Trần Trung T; số phát hành: DĐ 450530 cấp cho ông Trần Trung H1; số phát hành: DĐ 450531 cho ông Trần Minh D.
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 09044 ngày 01/3/2022 đối với thửa đất số 177, tờ bản đồ số 32, diện tích 582,7m² tại tổ dân phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa cho bà và ông Trần Trung T, Trần Trung H1 và anh Trần Minh D cùng sử dụng chung và cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất. Trong đó, số phát hành: DĐ 450532 cấp cho bà Ngô Thị Minh H; số phát hành: DĐ 450533 cấp cho ông Trần Trung T; số phát hành: DĐ 450534 cấp cho ông Trần Trung H1; số phát hành: DĐ 450535 cấp cho ông Trần Minh D

Khi thuê đơn vị đo vẽ kiểm tra diện tích, hiện trạng sử dụng đất thực tế, bà phát hiện diện tích đất bà được ông Ngô Văn Đ cho năm 1990 (hiện gia đình bà và gia đình ông Trần Ngọc C sử dụng) thuộc thửa đất 154 (được cấp GCNQSD đất đứng tên ông Nguyễn H2 và bà Trần Thị Đ1) và 01 phần thửa đất 177 (được cấp GCNQSD đất đứng tên Ngô Thị Minh H, Trần Trung T, Trần Trung H1, Trần Minh D) và 01 phần thuộc thửa 155 (được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Ngô Văn Đ và bà Lê Thị X). Còn thửa đất 177 có một phần diện tích khoảng 300m² hiện gia đình ông Trần Thanh T1 đang xây dựng nhà ở và sử dụng. Thửa đất số 744, tờ bản đồ số 32 theo GCNQSD đất số vào sổ cấp GCN: CS09043, từ trước đến nay do ông Ngô Văn Đ và Lê Thị X sử dụng trồng cây xoài, xây dựng nhà ở. Các hộ sử dụng đất ổn định từ khoảng năm 1990 đến nay, có hàng rào trụ bê tông lưới B40 cố định, không có tranh chấp gì. Hộ bà H có khiếu nại kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện C huỷ các GCNQSD đất nêu trên đối với thửa đất số 177 do sai vị trí, hiện trạng sử dụng đất thực tế nhưng Ủy ban nhân dân huyện C có văn bản số 49/UBND ngày 10/01/2023 không đồng ý huỷ các GCNQSD đất nêu trên.

Do đó, bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung T, Trần Trung H1 và Trần Minh D yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết hủy GCNQSD đất đối với thửa đất số 177, tờ bản đồ số 32 số vào sổ cấp GCN: CS09044, số phát hành: DĐ 450532 cấp ngày 01/3/2022 cho bà Ngô Thị Minh H; hủy GCNQSD đất số vào sổ cấp GCN: CS09044, số phát hành: DĐ 450533 cấp ngày 01/3/2022 cho ông Trần Trung T; hủy GCNQSD đất số vào sổ cấp GCN: CS09044, số phát hành: DĐ 450534 cấp ngày 01/3/2022 cho ông Trần Trung H1; hủy GCNQSD đất số vào sổ cấp GCN: CS09044, số phát hành: DĐ 450535 cấp ngày 01/2/2022 cho ông Trần Minh D vì lí do việc cấp lại GCNQSD đất của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp sai vị trí hiện trạng thực tế đất sử dụng.

Người bị kiện Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh K trình bày tại Công văn số 90/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 08/01/2024:

Ngày 22/4/2002, Ủy ban nhân dân huyện C cấp GCNQSD đất số 01276 cho hộ bà Ngô Thị Minh H và ông Trần Văn T8 tại thửa đất số 455, tờ bản đồ số 04, diện tích 1000m², loại đất ONT, LNQ và LK tại xã C (nay thuộc thị trấn C, huyện C).

Theo chỉnh lý tại trang IV GCNQSD đất số vào sổ 01276/QSDĐ/CĐ-CR ngày 22/4/2002 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai xác nhận ngày 27/11/2017 thì thửa đất số 455 để lại thừa kế cho bà Ngô Thị Minh H cùng các con Trần Trung T, Trần Trung H1 và Trần Minh D. Đến ngày 12/01/2022 bà H, ông T, ông H1 và ông D có đơn cấp đổi GCNQSD đất đối với thửa đất số 455, tờ bản đồ số 04 (bản đồ số 201). Đối chiếu với bản đồ VN 2000 thì thửa đất số 455 được tách thành 02 thửa đất số 177 và 744 tờ bản đồ số 32 với tổng diện tích 904,3m². Diện tích giảm 95,7m² so với diện tích trên GCNQSD đất nguyên nhân do Nhà nước mở đường dân sinh chia cắt thành hai thửa đất mới.

Căn cứ Biên bản làm việc ngày 18/02/2000 giữa Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại C và bà Ngô Thị Minh H (các ông Trần Trung T, Trần Trung H1 và Trần Minh D uỷ quyền cho bà H) thì bà H đề nghị cấp đổi lại GCNQSD đất thông tin quy hoạch là tổng diện tích lớn nhất thuộc hai Quy hoạch tại Quyết định số 676/QĐ-UBND ngày 31/5/2013 và Quyết định số 1180/QĐ-UBND ngày 19/7/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C.

Ngày 01/3/2022, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp đổi GCNQSD đất cho bà Ngô Thị Minh H (cùng các đồng sở hữu ông Trần Trung T, Trần Trung H1, ông Trần Minh D) tại thửa đất số 177, tờ bản đồ số 32, diện tích 582,7m² loại đất ODT-LNQ số vào sổ CS 509044. Ông Trần Trung T (cùng các đồng sở hữu bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung H1, ông Trần Minh D) tại thửa đất số 177, tờ bản đồ số 32, diện tích 582,7m² loại đất ODT-LNQ số vào sổ CS 509044. Ông Trần Trung H1 (cùng các đồng sở hữu bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung T, ông Trần Minh D) tại thửa đất số 177, tờ bản đồ số 32, diện tích 582,7m² loại đất ODT-LNQ số vào sổ CS 509044. Ông Trần Minh D (cùng các đồng sở hữu bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung T, ông Trần Trung H1) tại thửa đất số 177, tờ bản đồ số 32, diện tích 582,7m² loại đất ODT-LNQ số vào sổ CS 509044.

Ngày 01/3/2022, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp đổi GCNQSD đất cho bà Ngô Thị Minh H (cùng các đồng sở hữu ông Trần Trung T, ông Trần Trung H1, ông Trần Minh D) tại thửa đất số 744, tờ bản đồ số 32, diện tích 321,6m² loại đất LNQ số vào sổ CS 509043. Ông Trần Trung T (cùng các đồng sở hữu bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung H1, ông Trần Minh D) tại thửa đất số 744, tờ bản đồ số 32, diện tích 321,6m² loại đất LNQ số vào sổ CS 509043. Ông Trần Trung H1 (cùng các đồng sở hữu bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung T, ông Trần Minh D) tại thửa đất số 744, tờ bản đồ số 32, diện tích 321,6m² loại đất LNQ số vào sổ CS 509043. Ông Trần Minh D (cùng các đồng sở hữu bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung T, ông Trần Trung H1) tại thửa đất số 744, tờ bản đồ số 32, diện tích 321,6m² loại đất LNQ số vào sổ CS 509043.

Như vậy, Chi nhánh Văn phòng Đ thẩm định hồ sơ cấp đổi GCNQSD đất cho bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung T, ông Trần Trung H1, ông Trần Minh D tại các thửa đất số 177 và 744, tờ bản đồ số 32 và tham mưu Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp đổi GCNQSD đất cho bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung T, ông Trần Trung H1, ông Trần Minh D là đúng theo quy định pháp luật.

Do đó, Sở T không đồng ý huỷ GCNQSD đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 509044 đối với thửa đất số 177, tờ bản đồ số 32 tại thị trấn C, huyện C theo yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung T, Trần Trung H1 và Trần Minh D.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn H2 trình bày: Ông và vợ là bà Trần Thị Đ1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp GCNQSD đất số CS 09130 ngày 11/3/2022 đối với thửa đất số 154, có diện tích 609,7m² tại địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Tuy nhiên, hiện trạng thực tế thửa đất 154 hiện tại do bà Ngô Thị Minh H và các con đang quản lý sử dụng, xây dựng nhà ở, các công trình xây dựng trên đất ổn định từ trước đến nay gần 30 năm, có ranh giới rõ ràng đối với các thửa, các hộ liền kề. Đối với diện tích đất của gia đình ông đang quản lý sử dụng thực tế thuộc thửa đất số 155 (đang được cấp GCNQSD đất số CT 817898 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp ngày 25/12/2019 đứng tên ông Ngô Văn Đ và bà Lê Thị X). Vì vậy, ông đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung T, ông Trần Trung H1, ông Trần Minh D.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn Đ trình bày: Gia đình ông không sử dụng diện tích đất thuộc thửa đất số 155 nhưng ông và vợ ông là bà Lê Thị X lại được cấp GCNQSD đất số CT 817898 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp ngày 25/12/2019, nên ông đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung T, ông Trần Trung H1, ông Trần Minh D.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Ngọc C trình bày: Vào năm 1992, ông có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với diện tích đất là 378m² (chiều dài 27 mét, chiều ngang 14 mét giáp đường bê tông) từ vợ chồng bà Ngô Thị Minh H và ông Trần Văn T8. Hiện tại, gia đình ông đã xây dựng 02 căn nhà, có hàng rào bê tông làm ranh giới rõ ràng, sinh sống ổn định gần 30 năm và không tranh chấp với ai. Theo như ông được biết diện tích đất gia đình ông đang quản lý sử dụng thuộc 01 phần thửa đất số 154 (được cấp GCNQSD đất đứng tên ông Nguyễn H2 và bà Trần Thị Đ1) và 01 phần thửa đất số 177 (được cấp GCNQSD đất đứng tên Ngô Thị Minh H, Trần Trung T, Trần Trung H1, Trần Minh D). Do đó, ông đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung T, ông Trần Trung H1, ông Trần Minh D.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Nguyễn Quỳnh T7 trình bày: Bà là con ruột của ông Trần Ngọc C và bà Nguyễn Thị Bích T5. Vào năm 2019, bà được cha mẹ cho phần đất có diện tích 125m² (5m x 25m) do chưa tách sổ được nên không có GCNQSD đất, có tứ cận: phía Nam giáp đường bê tông Trần Đại N, phía Bắc giáp đường bê tông Hoàng Quốc V1, phía đông giáp hộ bà Ngô Thị Minh H, phía tây giáp đất ông Trần Ngọc C. Bà có ý kiến được cấp GCNQSD đất đúng theo hiện trạng gia đình cha mẹ bà đang ở để bà làm thủ tục cấp GCNQSD đất mà cha mẹ bà đã cho bà 120m².

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh T1 trình bày: Phần đất hiện tại gia đình ông đang sử dụng là do ông và vợ Trần Thị T2 mua lại từ bà Lê Thị N1 và con bà N1 – ông Nguyễn Tấn L vào năm 2007. Khi vợ chồng ông mua đất, trên phần đất đã có căn nhà do bà N1 xây sẵn. Theo như ông được biết, bà N1 nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng ông Ngô Văn Đ và bà Lê Thị X vào năm 1995 có diện tích đất khoảng 300m²; có làm hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã C. Gia đình ông quản lý, sử dụng nhà đất ổn định từ năm 2007 đến nay, có ranh giới trụ rào bê tông với các hộ, thửa đất liền kề và không có tranh chấp với ai. Hiện nay, có ông, vợ và ba người con là Trần Thế V và Trần Nhật T3 và Trần Nguyên K đang ở trên nhà, đất này. Ông cũng đã thực hiện nghĩa vụ đóng thuế nhà đất từ đó đến nay. Toàn bộ phần đất của gia đình ông thuộc 01 phần thửa đất số 177 (được cấp GCNQSD đất đứng tên Ngô Thị Minh H, Trần Trung T, Trần Trung H1, Trần Minh D). Do đó, ông đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung T, ông Trần Trung H1, ông Trần Minh D.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T2, Trần Thế V, Trần Nhật T3, Trần Nguyễn Ngọc T6, trần Nguyễn Quỳnh T7, Nguyễn Thị Bích T5, Trần Thị Đ1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Kèm theo đơn khởi kiện, ý kiến người bị kiện, ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các đương sự đã nộp các tài liệu chứng cứ đã được công khai tại biên bản công khai chứng cứ và tại phiên tòa sơ thẩm.

Toà án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng người bị kiện vắng mặt, nên việc đối thoại không thể thực hiện được. Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hoà mở phiên toà xét xử công khai để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự và người tham gia tố tụng khác đều đã tuân thủ đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.

Về nội dung: Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ do Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa lập ngày 08/8/2024 thể hiện: Thực tế thửa đất 177, tờ bản đồ số 32 gồm có: 03 căn nhà cấp 4 theo thứ tự: Nhà của ông Trần Thanh T1, bà Trần Thị T2 đang ở và quản lý sử dụng đất ổn định (có nguồn gốc mua từ ông Đ, bà X). Nhà của ông Trần Ngọc C, bà Nguyễn Thị Bích T5 đang ở và quản lý sử dụng đất ổn định (có nguồn gốc mua từ ông T8, bà H). Nhà của bà Trần Nguyễn Quỳnh T7 (do ông C, bà T5 tách ra cho). Theo ý kiến của bà Ngô Thị Minh H đang quản lý, sử dụng thực tế ở thửa đất số 154 được cấp GCNQSD đất cho ông Nguyễn H2 và bà Nguyễn Thị Đ2. Hiện trạng thửa đất 154 bà H đang quản lý, sử dụng gồm có: 02 căn nhà cấp 4 do bà Ngô Thị Minh H cùng các con đồng sở hữu xây dựng và quản lý, sử dụng. Phía Tây giáp ranh với thửa đất 177, tờ bản đồ số 32. Phía Đông giáp với ranh thửa đất 155, tờ bản đồ số 32 đứng tên ông Ngô Văn Đ và bà Lê Thị X.

Như vậy, việc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp đổi GCNQSD đất số 177, tờ bản đồ số 32 là có sự sai sót về vị trí diện tích được cấp Giấy CNQSD đất, gồm: GCNQSD đất số vào sổ cấp GCN: CS09044, số phát hành: DĐ 450532, DĐ 450533, DĐ 450534, DĐ 450535, diện tích 582,7m² cho bà Ngô Thị Minh H và những người cùng sở hữu tài sản là ông Trần Trung T, ông Trần Trung H1, ông Trần Minh D nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử thấy:

  1. [1] Về tố tụng:
    1. [1.1] Theo đơn khởi kiện và Thông báo thụ lý vụ án bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung T, Trần Trung H1 và Trần Minh D yêu cầu Tòa án hủy GCNQSD đất đối với thửa đất số 177, tờ bản đồ số 32 số vào sổ cấp GCN: CS09044 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K nên xác định người bị kiện là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K. Tuy nhiên, theo Nghị quyết số 05/NQ-HĐND ngày 20/02/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh K khoá VII, kỳ họp chuyên đề đã quyết định thành lập Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh K trên cơ sở hợp nhất Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Sở T và Ủy ban nhân dân tỉnh K có Quyết định số 456/QĐ-UBND ngày 20/02/2025 điều động và bổ nhiệm ông Nguyễn Duy Q giữ chức vụ Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh K. Do đó, Hội đồng xét xử xác định người bị kiện là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hoà, người đại diện theo pháp luật của người bị kiện là ông Nguyễn Duy Q.
    2. [1.2] Người đại diện theo pháp luật của người bị kiện,người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh T1, bà Trần Thị T2, ông Trần Thế V, anh Trần Nhật T3, cháu Trần Nguyên K, bà Nguyễn Thị Bích T5, ông Trần Nguyễn Ngọc T6, bà Trần Nguyễn Quỳnh T7, bà Trần Thị Đ1, bà Lê Thị Thanh P1 (người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn Đ3 và bà Lê Thị X) đã được giao các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 158 Luật tố tụng hành chính.
    3. [1.3] Ngày 10/01/2023, Ủy ban nhân dân huyện C có Văn bản số 49/UBND về việc giải quyết đơn của các hộ dân do ông Ngô Văn Đ đại diện kiến nghị thu hồi và cấp lại GCNQSD đất theo đúng hiện trạng tại các thửa đất số 154, 155, 177 tờ bản đồ số 32 toạ lạc tại thị trấn C do cấp không đúng vị trí của các hộ đang sử dụng. Ngày 10/3/2023 bà H, ông D, ông T, ông H1 có đơn khởi kiện là còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính.
    4. [1.4] Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà đã thụ lý và đưa ra giải quyết vụ án hành chính là đúng thẩm quyền theo Điều 32 Luật tố tụng hành chính.
  2. [2] Về nội dung vụ án:
    1. [2.1] Về quá trình sử dụng đất của hộ bà Ngô Thị Minh H tại thị trấn C, huyện C: Khoảng năm 1991, bà Ngô Thị Minh H và chồng là ông Trần Văn T8 được ông Ngô Văn Đ và bà Lê Thị X cho một lô đất có diện tích khoảng 1.000m² có chiều ngang lô đất khoảng 37 mét, chiều dài khoảng 27 mét tại xã C, huyện C, (nay là thị trấn C, huyện C). Năm 1992, bà H và ông T8 có chuyển nhượng một phần lô đất có diện tích khoảng 378m² (chiều ngang 14 mét, chiều dài 27m) cho ông Trần Ngọc C. Sau đó, gia đình bà và gia đình ông C xây dựng nhà ở, xác định ranh giới đất, xây dựng hàng rào trụ bê tông, B40 cố định từ trước đến nay không có ai tranh chấp.
    2. [2.2] Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Ngô Thị Minh H: Ngày 14/5/1994, bà H và ông Trần Văn T8 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp GCNQSD đất số 00262 QSDĐ/CĐ-CR với diện tích 1000m². Ủy ban nhân dân thị xã C cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành V 129707; số vào số:01276 QSDĐ/CĐ-CR ngày 22/4/2002 cho hộ bà Ngô Thị Minh H và ông Trần Văn T8 với diện tích 1000m², thuộc thửa đất số 455, tờ bản đồ số 4 tại xã C, thị xã C, tỉnh Khánh Hòa.

      Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp đổi GCNQSD đất:

      • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 09043 ngày 01/3/2022 đối với thửa đất số 744, tờ bản đồ số 32, diện tích 321,6m² tại tổ dân phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa cho bà và ông Trần Tung T9, Trần Trung H1 và Trần Minh D cùng sử dụng chung và cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất. Trong đó, số phát hành: DĐ 450528 cấp cho bà Ngô Thị Minh H; số phát hành: DĐ 450529 cấp cho ông Trần Trung T; số phát hành: DĐ 450530 cấp cho ông Trần Trung H1; số phát hành: DĐ 450531 cho ông Trần Minh D.
      • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 09044 ngày 01/3/2022 đối với thửa đất số 177, tờ bản đồ số 32, diện tích 582,7m² tại tổ dân phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa cho bà và ông Trần Tung T9, Trần Trung H1 và anh Trần Minh D cùng sử dụng chung và cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất. Trong đó, số phát hành: DĐ 450532 cấp cho bà Ngô Thị Minh H; số phát hành: DĐ 450533 cấp cho ông Trần Trung T; số phát hành: DĐ 450534 cấp cho ông Trần Trung H1; số phát hành: DĐ 450535 cấp cho ông Trần Minh D.
    3. [2.3] Theo Trích đo địa chính thửa đất ngày 20/02/2025 thể hiện:
      • - Hiện trạng sử dụng đất trên thực tế đối với thửa 177, diện tích 582,7m², người sử dụng là ông Trần Thanh T1, bà Trần Thị T2, ông Trần Ngọc C bà Nguyễn Thị Bích T5 nhưng GCNQSD đất đứng tên bà Ngô Thị Minh H, Trần Minh D, Trần Trung T, Trần Trung H1.
      • - Hiện trạng sử dụng đất trên thực tế đối với thửa 154, diện tích 609,7m², người sử dụng là bà Ngô Thị Minh H, Trần Minh D, Trần Trung T, Trần Trung H1 và ông Trần Ngọc C, bà Nguyễn Thị Bích T5 nhưng GCNQSD đất đứng tên bà Trần Thị Đ1, ông Nguyễn H2.
      • - Hiện trạng sử dụng đất trên thực tế đối với thửa 155, diện tích 902,7m², người sử dụng là Trần Thị Đ1, ông Nguyễn H2, bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung T, Trần Trung H1 và Trần Minh D nhưng GCNQSD đất đứng tên ông Ngô Văn Đ, bà Lê Thị X.
    4. [2.4] Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 08/8/2024 thể hiện: Thực tế thửa đất 177, tờ bản đồ số 32 gồm có 03 căn nhà cấp 4 theo thứ tự:
      • -Nhà của ông Trần Thanh T1, bà Trần Thị T2 đang ở và quản lý sử dụng đất ổn định (có nguồn gốc mua từ ông Đ, bà X).
      • -Nhà của ông Trần Ngọc C, bà Nguyễn Thị Bích T5 đang ở và quản lý sử dụng đất ổn định (có nguồn gốc mua từ ông T8, bà H).
      • -Nhà của bà Trần Nguyễn Quỳnh T7 (do ông C, bà T5 tách ra cho).
    5. [2.5] Theo ý kiến của bà Ngô Thị Minh H đang quản lý, sử dụng thực tế ở thửa đất 154 cấp cho ông Nguyễn H2 và bà Nguyễn Thị Đ2. Hiện trạng thửa đất 154 bà H đang quản lý, sử dụng gồm có: 02 căn nhà cấp 4 do bà Ngô Thị Minh H cùng các con đồng sở hữu xây dựng và quản lý, sử dụng. Phía Tây giáp ranh với thửa đất 177, tờ bản đồ số 32. Phía Đông giáp với ranh thửa đất 155, tờ bản đồ số 32 đứng tên ông Ngô Văn Đ và bà Lê Thị X.
    6. [2.6] Tại Biên bản đối thoại ngày 17/12/2024 do Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa tiến hành lập thể hiện: người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày: Quá trình xem xét thẩm định đo vẽ hiện trạng thực tế sử dụng của hộ gia đình bà Ngô Thị Minh H, hộ ông Ngô Văn Đ, hộ ông Nguyễn H2 không đúng với vị trí diện tích theo các GCNQSD đất cấp đối với các thửa số 177,154, 155.
    7. [2.7] Như vậy, việc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp đổi GCNQSD đất đối với thửa đất số 177, tờ bản đồ số 32 là có sự sai sót về vị trí diện tích được cấp GCNQSD đất, gồm: GCNQSD đất số vào sổ cấp GCN: CS09044, số phát hành: DĐ 450532, DĐ 450533, DĐ 450534, DĐ 450535, diện tích 582,7m² cho bà Ngô Thị Minh H và những người cùng sở hữu tài sản là ông Trần Trung T, ông Trần Trung H1, ông Trần Minh D. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện hủy GCNQSD đất đối với thửa đất số 177, tờ số 32 số vào sổ cấp GCN: CS09044, số phát hành: DĐ 450532 cấp ngày 01/3/2022 cho bà Ngô Thị Minh H; hủy GCNQSD đất số vào sổ cấp GCN: CS09044, số phát hành: DĐ 450533 cấp ngày 01/3/2022 cho ông Trần Trung T; hủy GCNQSD đất số vào sổ cấp GCN: CS09044, phát hành: DĐ 450534 cấp ngày 01/3/2022 cho ông Trần Trung H1; hủy GCNQSD đất số vào sổ cấp GCN: CS09044, số phát hành: DĐ 450535 cấp ngày 01/3/2022 cho ông Trần Minh D.
  3. [3] Về chi phí tố tụng: Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh K phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chổ 5.550.000 đồng nên hoàn trả lại cho bà H 5.550.000đồng. Hoàn trả lại cho bà H số tiền 4.450.000 đồng.
  4. [4] Về án phí: Về án phí hành chính sơ thẩm: Người bị kiện Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh K phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 và khoản 1 Điều 348 Luật tố tụng hành chính năm 2015 Luật tố tụng hành chính năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung T, ông Trần Trung H1, ông Trần Minh D:
    1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 177, tờ số 32 số vào sổ cấp GCN: CS09044, số phát hành: DĐ 450532 cấp ngày 01/3/2022 cho bà Ngô Thị Minh H (cùng các đồng sở hữu ông Trần Trung T, Trần Trung H1, ông Trần Minh D).
    2. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 177, tờ số 32 số vào sổ cấp GCN: CS09044, số phát hành: DĐ 450533 cấp ngày 01/3/2022 cho ông Trần Trung T (cùng các đồng sở hữu bà Ngô Thị Minh H, Trần Trung H1, ông Trần Minh D).
    3. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 177, tờ số 32 số vào sổ cấp GCN: CS09044, phát hành: DĐ 450534 cấp ngày 01/3/2022 cho ông Trần Trung H1 (cùng các đồng sở hữu bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung T, ông Trần Minh D).
    4. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 177, tờ số 32 số vào sổ cấp GCN: CS09044, số phát hành: DĐ 450535 cấp ngày 01/3/2022 cho ông Trần Minh D (cùng các đồng sở hữu bà Ngô Thị Minh H, ông Trần Trung T, ông Trần Trung H1).
  2. Về án phí: Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh K phải chịu 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.

    Hoàn trả lại cho bà Ngô Thị Minh H 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hành chính sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0000270 ngày 08/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

    Hoàn trả lại cho ông Trần Trung T 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hành chính sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0000276 ngày 08/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

    Hoàn trả lại cho ông Trần Trung H1 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hành chính sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0000272 ngày 08/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

    Hoàn trả lại cho ông Trần Minh D 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hành chính sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0000273 ngày 08/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

  3. Về chi phí tố tụng: Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hoà phải hoàn trả cho bà Ngô Thị Minh H chi phí xem xét, thẩm định tại chổ 5.550.000đồng (năm triệu năm trăm năm ngàn đồng). Hoàn trả lại cho bà Ngô Thị Minh H số tiền 4.450.000đồng (bốn triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).

Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Thời hạn kháng cáo đối với các đương sự vắng mặt là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Cục THADS tỉnh Khánh Hòa;
  • - Lưu: Tòa HC, VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Trầm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/HC-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HOÀ về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 02/2025/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HOÀ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger