|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2025/DSST Ngày: 25/02/2025 V/v "Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - BÌNH THUẬN |
-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Văn Lấy
Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Hưng Quang
- Ông Phạm Văn Minh
-Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đắc Quốc Tuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 387/2020/TLST-DS ngày 15/12/2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐST-DS ngày 05/12/2024 và các Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1953 ; Địa chỉ : số B đường T, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh do ông Diệp Tường N, sinh năm 1975; Địa chỉ: khu phố B, phường X, thành phố P, Bình Thuận đại diện theo ủy quyền; Có mặt
2. Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh năm 1991; Địa chỉ: số C đường C, thị trấn P, huyện T, Bình Thuận; Có mặt
- Bà Trần Thị S, sinh năm 1947; Địa chỉ: khu phố G, thị trấn P, huyện T, Bình Thuận;
Bà S do bà Phan Thị Mỹ L, sinh năm 1969; Địa chỉ: khu phố G, thị trấn P, huyện T, Bình Thuận đại diện theo uỷ quyền; Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phan Thị Mỹ L, sinh năm 1969; Địa chỉ: khu phố G, thị trấn P, huyện T, Bình Thuận;
- Ông Phan Tấn T, sinh năm 1970; Địa chỉ: thôn L, xã H, huyện T, Bình Thuận;
- Bà Phan Thị Mỹ V, sinh năm 1971; Địa chỉ: A - A A, phường G, quận E, thành phố Hồ Chí Minh;
- Bà Phan Thị Mỹ L1, sinh năm 1972; Địa chỉ: số B, khu phố B, thị trấn T, huyện T, Bến Tre;
- Bà Phan Thị Mỹ H2 sinh năm 1973; Địa chỉ: khu phố M, thị trấn P, huyện T, Bình Thuận;
- Bà Phan Thị Mỹ T1, sinh năm 1977; Địa chỉ: khu phố G, thị trấn P, huyện T, Bình Thuận;
- Ông Phan Thanh P, sinh năm 1979; Địa chỉ: khu phố M, thị trấn P, huyện T, Bình Thuận;
- Ông Phan Trường S1, sinh năm 1975; Địa chỉ: khu phố M, thị trấn P, huyện T, Bình Thuận;
- Ông Phan Thanh L2, sinh năm 1982; Địa chỉ: khu phố G, thị trấn P, huyện T, Bình Thuận;
- Ông Phan Thanh B, sinh năm 1984; Địa chỉ: khu phố G, thị trấn P, huyện T, Bình Thuận;
- Bà Phan Thị Mỹ N1, sinh năm 1985; Địa chỉ: khu phố M, thị trấn P, huyện T, Bình Thuận;
(ông T, bà V, bà L1, bà H2, bà T1, ông P, ông S1, ông L2, ông B, bà N1 do bà L đại diện theo ủy quyền); Có mặt.
- UBND huyện T do ông Bùi Đắc Đ – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường huyện T đại diện theo uỷ quyền; Vắng mặt.
- UBND xã H do ông Võ Văn V1 – Công chức Địa chính đại diện theo uỷ quyền; Vắng mặt.
- Chi nhánh VPĐK ĐĐ huyện T – Do ông Nguyễn Đình T2 - Phó Giám đốc đại diện; Vắng mặt.
3. Người làm chứng:
- Ông Nguyễn L3, sinh năm 1938; Địa chỉ: xóm E, xã H, huyện T, Bình Thuận; Vắng mặt
- Ông Nguyễn Văn L3, sinh năm 1952; Địa chỉ: xóm G, xã H, huyện T, Bình Thuận; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nộp ngày 23/11/2020 của nguyên đơn và những lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn ông Diệp Tường N trình bày: Nguồn gốc đất diện tích 2.030m² đất đầu tiên là của ông Đào Năng H3, năm 2017 ông H3 tặng cho cho con ông là bà Đào Thị Kim Y, đến năm 2018 bà Y tiếp tục tặng cho cho bà Đỗ Thị H (mẹ ruột bà Y), nay bà H là chủ sử dụng đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 208050 do UBND huyện T cấp cho hộ Đào Năng H3 ngày 18/10/2001, sổ vào sổ cấp GCN: 797QSDĐ/1 cập nhật biến động (được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T đăng ký sang tên bà Đỗ Thị H vào ngày 28/12/2018). Vào năm 2020 gia đình bà H kiểm tra đất thì phát hiện bà Nguyễn Thị Mỹ H1 trồng trụ lấn chiếm khoảng diện tích 535,5m²/2.030m² và hộ ông Phan Trường S1 có xây đá kềng lấn sang đất của bà diện tích 464,2m²/2.030m². Nay bà đại diện cho bà Đỗ Thị H đề nghị Tòa án xác minh lại nguồn gốc chủ đất trước đó để làm rõ vị trí đất, đồng thời đề nghị Cơ quan có thẩm quyền xác định rõ tọa độ cụ thể diện tích 2.030m² để làm cơ sở công nhận cho đúng diện tích 2.030m² cấp cho bà H. Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ H1 phải tháo dỡ hàng rào tạm và bà Trần Thị S phải tháo dỡ kiềng rào xây giao trả cho bà Đỗ Thị H đúng diện tích 2.030m² theo giấy chứng nhận đã cấp cho ông Đào Năng H3. Ông không đồng ý các Mảnh chỉnh lý thửa đất số 26 (239509-4) do Chi nhánh Văn phòng cung cấp cho Toà. Ngoài ra ông không yêu cầu gì thêm.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H1 trình bày :
Nguồn gốc đất tại cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 633348, số vào sổ cấp GCN: CS – 01480 tại thửa đất số 487, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.595,0m² (loại đất trồng cây hàng năm khác) được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận lần đầu cho bà ngày 12 tháng 7 năm 2017, đất trước đây là của chị bà là bà Nguyễn Thị Mỹ H4 tặng cho lại cho bà vào ngày 09/5/2017, lúc tặng cho đất này đã có giấy chứng nhận mang tên bà H4. Đến ngày 16 tháng 10 năm 2019 bà được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 723023, số vào sổ cấp GCN: CS – 02483 tại thửa đất số 487, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.595,0m² (loại đất trồng cây hàng năm khác), lý do cấp lại là do bà báo giấy chứng nhận bị mất. Sau khi được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận thì bà tiến hành rào và quản lý đất tới bây giờ.
Bà xác nhận đất của bà không có chồng lấn đất của bà Đỗ Thị H. Nhà nước cấp cho bà bao nhiêu thì bà có quyền sử dụng bấy nhiêu.
Bà Đỗ Thị H kiện yêu cầu bà giao trả đất cho bà H, bà không đồng ý. Bà đề nghị Tòa án bác yêu cầu của bà H và giữ nguyên hiện đất nhà nước cấp cho bà. Bà không đồng ý các mảnh chỉnh lý thửa đất do Chi nhánh Văn phòng cung cấp cho Toà kể cả mảnh chỉnh lý thửa đất số 26 (239509-4) ký ngày 31/7/2024.
Đại diện bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Mỹ L trình bày:
Nguồn gốc đất của gia đình bà là có nguồn gốc do mua lại của bà Phan Thị T3 diện tích 4.655m² đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 102876 ngày 20/4/2005 cho em bà là ông Phan Trường S1, đến năm 2017 ông S1 ký tặng cho lại cho cha mẹ bà và đã đăng ký biến động ngày 20/01/2017. Bà xác nhận đất của gia đình bà không có chồng lấn đất của bà Đỗ Thị H. Nhà nước cấp cho gia đình bà bao nhiêu thì gia đình bà có quyền sử dụng bấy nhiêu.
Bà Đỗ Thị H kiện yêu cầu gia đình bà giao trả đất, bà không đồng ý. Bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết bác yêu cầu khởi kiện của bà H và giữ nguyên hiện trạng đất mà nhà nước cấp cho gia đình bà. Bà không đồng ý các mảnh chỉnh lý thửa đất do Chi nhánh Văn phòng cung cấp cho Toà kể cả mảnh chỉnh lý thửa đất số 26 (239509-4) ngày 31/7/2024.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong phát biểu ý kiến về việc kiểm sát tuân theo pháp luật: Các bước của quá trình chuẩn bị xét xử, việc thu thập chứng cứ và trình tự thủ tục tại phiên tòa của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự;
Quan điểm giải quyết vụ án:
Đề nghị áp dụng: Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 1 Điều 157, 158 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 24 Điều 3, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 12, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị H đối với bà Nguyễn Thị Mỹ H1 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
- Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ H1 phải tháo dỡ rào tạm, giao trả cho bà Đỗ Thị H diện tích 249,0m² tại (điểm 9, 10, 16) theo Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số: 26 (239509-4) do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ký ngày 31/7/2024.
- - Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị H đối với bà Trần Thị S2 và ông Phan Trường S1 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
- Buộc bà Trần Thị S2 phải tháo dỡ kiềng rào xây tạm, giao trả cho bà Đỗ Thị H diện tích 139,5m² từ (điểm số 9 đến gần điểm số 8) theo Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số: 26 (239509-4) do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ký ngày 31/7/2024.
- Công nhận diện tích 1.962,6m² cho bà Đỗ Thị H tại điểm (10, 9, 8, 11) theo mảnh chỉnh lý thửa đất số 26 (239509-4) do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ký ngày 31/7/2024.
- Về án phí và chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận 01 phần nên nguyên đơn, các bị đơn muỗi bên phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Mỹ H1 giao trả diện tích 495,1m² và yêu cầu bà Trần Thị S phải tháo dỡ rào xây tạm giao cho bà diện tích 490,7m² đất chồng lấn đất của bà H; Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H1 và đại diện người có quyền lợi liên quan (bà Trần Thị Mỹ L4) không đồng ý giao trả diện tích đất theo yêu cầu của đại diện nguyên đơn. Chứng tỏ, đây là việc kiện dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đây là quan hệ pháp luật thuộc trường hợp tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, được giải quyết theo Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật đất đai năm 2013 và được điều chỉnh bởi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định tại khoản 9 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39.
[2]. Để chứng minh cho yêu cầu của các đương sự là có căn cứ và hợp pháp, tại giai đoạn thu thập chứng cứ cũng như tại phiên tòa đại diện nguyên đơn có xuất trình cho Tòa án Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 208050 do UBND huyện T cấp cho hộ Đào Năng H3 ngày 18/10/2001, sổ vào sổ cấp GCN: 797QSDĐ/1; Biên bản hòa giải ngày 12/9/2020 tại UBND xã H và người làm chứng biết nguồn gốc đất tranh chấp; Phía bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H1 xuất trình Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 723023 mang tên bà; Đại diện người có quyền lợi liên quan bà Phan Thị Mỹ L xuất trình Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số AB 102876 ngày 20/4/2005 mang tên ông Phan Trường S1. Ngoài ra tại phiên tòa các đương sự không ai cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu của mình.
[3]. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các bên đương sự cung cấp và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Diện tích 2.030m² đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 208050 do UBND huyện T cấp cho hộ Đào Năng H3 ngày 18/10/2001, sổ vào sổ cấp GCN: 797QSDĐ/1 cập nhật biến động (được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T đăng ký sang tên bà Đỗ Thị H vào ngày 28/12/2018), đây là cơ sở pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất thuộc về hộ ông Đào Năng H3, diện tích đất được cấp từ diện tích đất cấp cho hộ ông Nguyễn L3 tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 852062 với diện tích 2.030m², do ông L3 chuyển nhượng cho hộ ông H3.
Diện tích 1.595m² đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 723023 cấp cho bà Nguyễn Thị Mỹ H1 ngày 16/10/2019, diện tích này được tách từ diện tích đất cấp cho hộ bà Nguyễn Thị T4 tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 852034 cấp ngày 15/12/1999 với diện tích 6.220m². Diện tích 1.565m²/6.220m² này là do bà T4 tặng cho ông Văn E vào ngày 11/11/2013, ông E chuyển nhượng lại cho ông Phan Văn K vào ngày 07/01/2016, sau đó ông K chuyển nhượng lại bà Nguyễn Thị Mỹ H4, bà H4 tặng cho bà H1 và được Sở T tỉnh cấp giấy chứng nhận cho bà H1 tại thửa đất số 233a diện tích 1.595m².
Diện tích 4.655m²/6.220m² đất còn lại của bà T4, bà T4 chuyển nhượng lại cho ông Phan Trường S1 được cấp giấy chứng nhận số AB 102876 ngày 20/4/2005 mang tên Phan Trường S1, ngày 20/01/2017 ông S1 lập hợp đồng tặng cho lại cho cha mẹ ruột ông là ông Phan Văn D và bà Trần Thị Sàng .
Theo Công văn số: 3513/UBND-NC ngày 30/12/2022 của UBND huyện T xác định mọi quy trình và thủ tục cấp giấy chứng nhận cho các bên là đúng theo quy định pháp luật, không có việc sổ chồng sổ và thửa chồng thửa.
Mặc dù diện tích tách cấp là đúng diện tích như diện tích 6.220m² đất cấp cho bà T4, bà T4 chuyển nhượng cho ông Phan Đình S3 4.655m² và chuyển nhượng cho Văn Em 1.565m², sau này cấp lại cho bà H1 lại tăng thay vì 1.565m² nay lại là 1.595m².
[4]. Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Đỗ Thị H
Đại diện cho nguyên đơn bà H cho rằng đất của bà H sau khi đo đạc so với giấy chứng nhận thì bị thiếu do gia đình bà Trần Thị S và bà Nguyễn Thị Mỹ H1 là người có đất lân cận rào lấn chiếm của bà cho nên bà yêu cầu 02 hộ này phải giao trả phần lấn chiếm cho bà đủ diện tích đất mà ông Đào Năng H3 (nay bà Đỗ Thị H đứng tên) nhận sang nhượng từ ông Nguyễn L3 diện tích 2.030m² đất.
Trong quá trình xem xét, giải quyết do các bên không thoả thuận được nên ngày 08/6/2023 theo yêu cầu của các bên đương sự, Toà án thành lập hội đồng xem xét, thẩm định tại chổ và tiến hành đo đạc theo sự chỉ dẫn của các bên đương sự thì xác định đất bà H nằm trong đất cấp ông Phan Trường S1 diện tích 490,7m² và nằm trong đất cấp cho bà Nguyễn Thị Mỹ H1 diện tích 495,1m² và bà H yêu cầu ông S1, bà S và bà H1 giao trả đất cho bà cho đủ diện tích 2.030m² đất, phía bị đơn bà H1 và bà L đại diện cho bà S và ông S1 không đồng ý.
Ngày 14/3/2024 Toà án đề nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T xác định lại toạ độ và áp diện tích 2.030m² đất cấp cho ông Đào Năng H3 vào sơ đồ đo đạc trước đây thì diện tích đất ông Đào Năng H3 có thiếu nhưng thiếu không đáng kể. Theo Chi nhánh Văn phòng xác định do bởi trước đây đo bằng thủ công nên số liệu đo đạc không chính xác, vì vậy có sự chênh lệch và diện tích đất cấp cho ông H3 được xác định lại hiện nằm trong đất bà S và ông S1 đang quản lý là 139,5m² và nằm trong đất do bà H1 đang quản lý là 249,0m², diện tích đất của ông H3 còn lại 1.962,0m² (10, 9, 8, 11) so với diện tích theo giấy chứng nhận là giảm 68,0m² tính luôn đường đất người dân tự phát để đi lại, đường đất này theo địa chính xã H trước đây không có đường đi, đường này do một số hộ ở phía trong tự làm không phải đường do nhà nước quy hoạch làm đường mà là đường tự phát.
Ngày 24/9/2024 theo sự chỉ dẫn của ông Nguyễn L3 là người trực tiếp bán đất cho ông Đào Năng H3 xác định đất ông H3 nằm trong đất bà H1 diện tích 437,8m² và nằm trong đất bà S diện tích 431,5m². Việc ông L3 chỉ không chính xác, vì ông L3 đo bằng sải chân nên không thể chính xác được. Vì vậy, việc ông L3 chỉ chỉ đúng một phần, ông L3 cho rằng đường đi đất này là gò ranh đất chứ không nằm trong đất ông H3 và cũng không nằm trong đường đi liên xã C - P, chỉ có lời khai của ông L3 nhưng không có căn cứ nào chứng minh.
Hơn nữa nguồn gốc đất của các bên có được đều do nhận chuyển nhượng từ người khác, khi đo để cấp giấy nhận thì mỗi hộ tự chỉ đất mình mua cho đúng diện tích mua mà không mời các hộ có đất lân cận để đo cấp và sau khi nhận chuyển nhượng thì họ không trực tiếp quản lý đất dẫn đến việc chồng lấn qua lại là điều đương nhiên.
Năm 2001 ông Đào Năng H3 nhận sang nhượng từ ông Nguyễn Lâm C trên mặt giấy tờ, khi đo lại họ không mời hộ dân có đất lân cận và địa phương để xác định mốc giới hay vị trí đất mà chỉ có một trong ba hộ dân chỉ đất của mình thì không chính xác. Hơn nữa, trước đây chỉ đo bằng thủ công, không xác định vị trí toạ độ nên khó chính xác được cột mốc ở chổ nào cho nên diện tích các bên đo lại bị chênh lệch nhưng tỷ lệ sai sót là không tránh khỏi. Đồng thời diện tích tại điểm (1, 2, 3, 4) theo Mảnh chỉnh lý là do đại diện nguyên đơn chỉ nhưng thực tế khi áp các diện tích trên giấy chứng nhận của 03 hộ trên thì không đúng như họ chỉ mà lại tại vị trí khác tức tại điểm (10, 9, 8, 11).
Đối chiếu với sơ đồ tổng thể 299 đo đạc năm 1993 thì diện tích đất của ông H3 nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Lâm N2 tại vị trí như sơ đồ (Mảnh chỉnh lý số số 26 (239509-4) do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T ký ngày 31/7/2024 tại điểm (10, 9, 8,11) so với giấy chứng nhận cấp cho ông H3 là gần như diện tích mô tả giống nhau kể cả diện tích cấp cho bà H1 và cho ông S1.
Vì vậy, căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan Trường S1 và hồ sơ cấp cho bà Nguyễn Thị Mỹ H1 so với hiện trang đất thực tế thì gần như cấp đúng diện tích. Tuy nhiên căn cứ vào mảnh chỉnh lý số 26 tại điểm (1, 2, 3, 4) do phía đại diện nguyên đơn chỉ là không thể chính xác được cho nên không đủ căn cứ xác định phía bà H1 và ông S1 hay bà S lấn chiếm đất diện tích như bà H yêu cầu được.
Căn cứ Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính tờ số 26 (239509-4) do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T ký ngày 31/7/2024 chỉnh lý theo yêu cầu Công văn số: 75/CV-TA ngày 14/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Tuy Phong nên đủ cơ sở xác định đất ông Đào Năng H3 nằm trong một phần đất cấp giấy nhận cho ông Phan Trường S1 là 139,5m² tại (điểm 9 và gần điểm số 8)và nằm trong một phần đất cấp giấy chứng nhận cho bà Nguyễn Thị Mỹ H1 là 249,0m² tại điểm (10, 15, 16,17).
Tuy nhiên, theo kích thước và tỷ lệ trên sơ đồ vị trí thì diện tích ông Phan Trường S1 được tính lại là 4.527,6m² so với diện tích theo giấy chứng nhận giảm 127,4m² (tại điểm 5, 6,7, 8, 9 mảnh chỉnh lý); và theo kích thước và tỷ lệ trên sơ đồ vị trí thì diện tích ông Đào Năng H3 được tính lại là 1.962,0m² so với diện tích theo giấy chứng nhận giảm 68,0m² (tại điểm 10, 9, 8, 11 theo mảnh chỉnh lý); Ranh giới đất được cấp theo Giấy chứng nhận cho bà H1 tại điểm (12, 13, 14, 15, 16, 17) diện tích 1.595m² không tăng không giảm.
Sở dĩ có sự chênh lệch như vậy là do trước đây đo bằng thủ công nên không chính xác và cũng không có toạ độ nên khi áp từ sơ đồ cũ lên hiện trạng thực tế thì tang giảm là điều đương nhiên.
Hơn nữa do diện tích đất của ông H3 là người được cấp trước (năm 2001) so với 02 hộ bà H1 và ông S1 cho nên một phần nào cũng đúng mốc giới. Còn hộ bà H1 và ông S1 cấp sau ông H3, bà H1 được cấp năm 2019 và hộ ông S1 cấp năm 2005. Vì vậy, bà H đưa ra chứng cứ để khởi kiện yêu cầu bà H1 và bà S phải giao trả phần đất chồng lấn là có căn cứ phù hợp với mảnh chỉnh lý ngày 31/7/2024.
Tại phiên toà phía đại diện nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử công nhận cho bà H theo như hiện trạng đất diện tích 2.030m².
Từ những phân tích, nhận định nêu trên có đủ cơ sở khẳng định bà Đỗ Thị H kiện đòi bà H1 và bà S giao trả 01 phần quyền sử dụng đất là có căn cứ, nghĩ nên chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị H đối với bà Nguyễn Thị Mỹ H1 và bà Trần Thị S về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
[5]. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận 01 phần nên nguyên bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại Điều 12; khoản 1, 4 Điều 26 và khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Bà Đỗ Thị H và bà Trần Thị S thuộc trường hợp miễn nộp tạm ứng án phí nên được miễn toàn bộ án phí; bà H1 phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
[6]. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận 01 phần nên nguyên bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mỗi bên phải chịu 01 phần chi phí tố tụng tức chia đều cho mỗi bên.
Ngày 26/02/2021 đại diện nguyên đơn đã tạm nộp số tiền 5.000.000đ tạm ứng chi phí tố tụng: ngày 12/3/2021 chi bồi dưỡng hội đồng 3.428.000₫ và 01/8/2022 chi phí bản vẽ số tiền tại hợp đồng số 573/2022/HĐDV-CNTP số tiền 1.572.000đ; ngày 25/10/2024 nộp 2.500.000đ tạm ứng chi phí tố tụng: chi cho Hội đồng xem xét, thẩm định số tiền 1.114.000đ và ngày 02/12/2024 chi bản vẽ số tiền 1.386.000đ tại Hợp đồng số 757/2024/HĐDV-CNTP.
Ngày 08/6/2023 đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Mỹ L đã nộp 5.000.000đ tạm ứng chi phí tố tụng: ngày 08/6/2023 chi bồi dưỡng cho Hội đồng số tiền 3.106.000đ, ngày 05/02/2024 chi phí bản vẽ số tiền 1.894.000đ tại hợp đồng dịch vụ số 134/2024/HĐDV-CNTP.
Số tiền trên đã chỉ đủ cho chi phí tố tụng, nên buộc bà Nguyễn Thị Mỹ H1 phải hoàn trả lại bà Đỗ Thị H do bà Đào Thị Kim K1 đại diện và bà Trần Thị S do bà Phan Thị Mỹ L đại diện theo quy định.
Vì các lẽ trên,
Hội đồng xét xử;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147, 157, 158 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 24 Điều 3, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 và khoản 4 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng và quản lý án phí, lệ phí Tòa án.
2. Tuyên xử:
- - Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị H đối với bà Nguyễn Thị Mỹ H1 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất;
- Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ H1 phải tháo dỡ rào tạm, giao trả cho bà Đỗ Thị H diện tích 249,0m² tại (điểm 9, 10, 16) theo Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số: 26 (239509-4) do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ký ngày 31/7/2024.
- - Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị H đối với bà Trần Thị S2 và ông Phan Trường S1 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất;
- Buộc bà Trần Thị S2 phải tháo dỡ kiềng rào xây tạm, giao trả cho bà Đỗ Thị H diện tích 139,5m² từ (điểm số 9 đến gần điểm số 8) theo Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số: 26 (239509-4) do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ký ngày 31/7/2024.
- Công nhận diện tích 1.962,6m² cho bà Đỗ Thị H tại điểm (10, 9, 8, 11) theo mảnh chỉnh lý thửa đất số 26 (239509-4) do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ký ngày 31/7/2024.
- Việc tháo dỡ và giao trả đất được thực hiện khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và được thi hành theo quy định của Luật thi hành án dân sự.
- Bà Đỗ Thị H, bà Nguyễn Thị Mỹ H1 và bà Trần Thị Sàng T5 liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để chỉnh lý biến động diện tích đất của các bên theo đúng hiện trạng đất tại Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số: 26 (239509-4) ngày 31/7/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T (kèm theo).
- Kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền chỉnh lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 208050 do UBND huyện T cấp cho ông Đào Năng H3 ngày 18/10/2001 (cập nhật biến động ngày 28/12/2018); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 723023 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho Nguyễn Thị Mỹ H1 ngày 16/10/2019 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 102876 do UBND huyện T cấp cho ông Phan Trường S1 ngày 20/4/2005 (cập nhật biến động ngày 20/01/2017) cho phù hợp với hiện trạng đất thể hiện tại Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số: 26 (239509-4) do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ký ngày 31/7/2024.
3. Về án phí và chi phí tố tụng:
- Miễn toàn bộ án phí cho bà Đỗ Thị H và bà Trần Thị Sàng .
- Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ H1 phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà H, bà H1 và bà S mỗi người phải nộp 4.166.666đ (bốn triệu, một trăm sáu mươi sáu ngàn, sáu trăm sáu mươi sáu ngàn đồng) chi phí tố tụng. Bà Đỗ Thị H do bà Đào Thị Kim K1 đại diện đã nộp 7.500.000đ (bảy triệu năm tram ngàn đồng) và bà Trần Thị S do bà Phan Thị Mỹ L đại diện đã nộp 5.000.000đ (năm triệu đồng).
- Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ H1 phải hoàn cho bà Đỗ Thị H do bà Đào Thị Kim K1 đại diện số tiền 3.333.000đ (ba triệu, ba trăm ba mươi ba ngàn đồng) chi phí tố tụng.
- Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ H1 phải hoàn cho bà Trần Thị S do bà Phan Thị Mỹ L đại diện số tiền 833.000đ (tám trăm, ba mươi ba ngàn đồng) chi phí tố tụng.
- Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật nếu không thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
4. Về quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm có mặt đại diện nguyên đơn, bị đơn, đại diện bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, báo cho họ biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận hoặc niêm yết công khai bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. (kèm Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số: 26 (239509-4) do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ký ngày 31/7/2024).
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Lý Văn Lấy |
Nơi nhận:
|
Bản án số 02/2025/DSST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 02/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận 01 phần yêu cầu của nguyên đơn
