Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC I - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/DS-ST

Ngày: 29/10/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Lê Việt Cường;
  • 2. Bà Nguyễn Thị Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Phương - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2024/TLST-DSST ngày 24 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

· Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần A;

Địa chỉ: Số D N, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh (Nay là phường B, thành phố Hồ Chí Minh)

Đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P – Tổng giám đốc.

Đại diện theo uỷ quyền: Bà Phạm Thị T – Giám đốc xử lý nợ;

Ông Bùi Huy H – Nhân viên xử lý nợ.

Địa chỉ: Đường L, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An (Nay là phường H, tỉnh Nghệ An).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Cao T1, sinh năm 1975;

Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Số A N, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (Nay là phường H, tỉnh Thanh Hóa).

Chị H1 hiện đang chấp hành án tại Phân trại số 4 Trại giam S - Cục C - Bộ C1 theo Bản án số 148/2025/HSST ngày 07/7/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt anh H, vắng mặt anh T1, chị H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, được bổ sung tại bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện Ngân hàng TMCP A trình bày: Ngày 19/7/2023, Ngân hàng TMCP A và vợ chồng anh Nguyễn Cao T1, chị Nguyễn Thị H1 ký Hợp đồng cấp tín dụng số PHU.CN.575.190723, nội dung cơ bản của hợp đồng như sau:

Số tiền cho vay/hạn mức tín dụng: 600.000.000 đồng; Mục đích cho vay: Tiêu dùng có tài sản bảo đảm; Phương thức cho vay: Cho vay từng lần; Phương thức giải ngân: Được quy định trong từng Khế ước nhận nợ cụ thể; Thời hạn cho vay: 120 tháng, kể từ ngày tiếp ngày Bên được cấp tín dụng nhận tiền vay lần đầu; Lãi suất trong hạn: Được quy định trong từng Khế ước nhận nợ cụ thể; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm.

Để thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, ngày 19/7/2023, Ngân hàng đã giải ngân cho anh T1, chị H1 bằng Khế ước nhận nợ số 01/404342639 với số tiền giải ngân là 600.000.000 đồng; phương thức giải ngân: Chuyển số tiền giải ngân vào tài khoản thanh toán số 24869977 của chị Nguyễn Thị H1 tại Ngân hàng TMCP Á. Khế ước đã quy định cụ thể lãi suất trong hạn: 12%/năm, cố định trong thời hạn 12 tháng. Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức sau: Lãi suất (%/năm) = LSCS + 3,9%/năm.

Khoản nợ nêu trên được bảo đảm bằng biện pháp thế chấp Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 179, tờ bản đồ số 5, địa chỉ Ngõ A N, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (Nay là ngõ A N, phường H, tỉnh Thanh Hóa) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 191151, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 00421/3132/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 13/7/2011 mang tên anh Nguyễn Cao T1 và chị Nguyễn Thị H1. Tài sản được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số PHU.BĐCN.40.060422 ký ngày 06/4/2022 giữa Ngân hàng TMCP Á và anh T1, chị H1. Hợp đồng được chứng nhận tại Văn phòng C2, số công chứng 591, quyển số 02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T ngày 06/4/2022, số vào sổ tiếp nhận hồ sơ: 06/4/2022, quyển số 03TT.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, anh T1, chị H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng, chậm trả nợ từ ngày 08/6/2024. Căn cứ vào thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn thì ngày 16/7/2024, Ngân hàng đã ra Thông báo nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản vay theo Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ nêu trên. Tuy nhiên anh T1, chị H1 vẫn không thực hiện theo đúng thỏa thuận. Tính đến ngày xét xử (ngày 29/10/2025), anh T1, chị H1 đã trả được cho Ngân hàng số nợ như sau: Nợ gốc: 285.972.629 đồng; Nợ lãi: 66.826.320 đồng. Tổng cộng số tiền đã trả: 325.798.949 đồng.

Do đó, tại đơn khởi kiện Ngân hàng TMCP A đề nghị Tòa án giải quyết:

  • - Buộc anh T1, chị H1 trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền nợ còn thiếu, bao gồm: Nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phạt chậm trả lãi.
  • - Buộc anh T1, chị H1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cấp tín dụng, Khế ước nhận nợ, cho đến ngày trả hết nợ.
  • - Nếu anh T1, chị H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tuyên Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm nêu trên để thu hồi nợ.

Tại phiên tòa, Ngân hàng rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số lãi phạt chậm trả lãi. Và giữ nguyên các yêu cầu khác đối với việc trả số nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn. Tổng số nợ tính đến ngày xét xử (29/10/2025) là: 413.115.601 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 314.027.371 đồng; Nợ lãi trong hạn: 5.112.986 đồng; Nợ lãi quá hạn: 93.975.244 đồng. Và đề nghị tính lãi kể từ ngày 30/10/2025 cho đến khi tất toán hết số nợ.

* Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 29/7/2025, chị Nguyễn Thị H1 có quan điểm như sau: Chị H1 thống nhất về việc vợ chồng chị có ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp như Ngân hàng đã trình bày. Tuy nhiên hiện nay do hoàn cảnh kinh tế gia đình chị gặp khó khăn, bản thân chị đang bị giam giữ, nên chị đề nghị Ngân hàng hỗ trợ giảm tiền lãi và tạo điều kiện cho gia đình được trả nợ dần. Nếu gia đình chị không trả được nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật. Chị H1 xin được xét xử vắng mặt.

Đối với anh Nguyễn Cao T1, tại biên bản xác minh ngày 29/5/2025 tại Công an phường T, thành phố T, anh Nguyễn Cao T1 hiện đang có mặt tại địa phương. Tuy nhiên, anh T1 không có mặt làm việc theo sự triệu tập của Tòa án trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có quan điểm gì đối với nội dung khởi kiện của nguyên đơn.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Thanh Hóa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành của nguyên đơn (Ngân hàng TMCP Á), kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn đã được Tòa án tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ theo quy định nhưng tại phiên tòa hôm nay vẫn vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn.

Về yêu cầu khởi kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu về phạt chậm trả lãi và chấp nhận yêu cầu khởi kiện đối với các nội dung còn lại của ngân hàng TMCP A. Về án phí: Anh T1, chị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng:

Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP A với anh Nguyễn Cao T1 và chị Nguyễn Thị H1 với mục đích vay tiêu dùng, sửa chữa tài sản thế chấp. Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán, do đó đây là quan hệ pháp luật tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn đã ghi đúng địa chỉ của bị đơn được ghi nhận trong Hợp đồng tín dụng đã ký. Bị đơn có địa chỉ tại Số A N, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (Nay là phường H, tỉnh Thanh Hóa) do đó Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Thanh Hóa) thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn là chị Nguyễn Thị H1 đã xin được xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Cao T1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do chính đáng nên Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về hợp đồng tín dụng:

Ngày 19/7/2023, Ngân hàng TMCP A và vợ chồng anh Nguyễn Cao T1, chị Nguyễn Thị H1 ký Hợp đồng cấp tín dụng số PHU.CN.575.190723. Việc ký hợp đồng là tự nguyện giữa hai bên, người tham gia ký hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội, hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật do đó hợp đồng tín dụng nêu trên là hợp pháp và có hiệu lực thi hành đối với các bên. Việc tính lãi trong hạn và lãi quá hạn của Ngân hàng đúng với mức lãi suất theo Hợp đồng cấp tín dụng và Khế ước nhận nợ ngày 19/7/2023. Mức lãi suất này phù hợp với quy định của pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho vợ chồng anh T1, chị H1 theo đúng thỏa thuận. Về phía anh T1, chị H1 chỉ trả được một phần nợ cho Ngân hàng nhưng sau đó thì không thực hiện theo đúng thời hạn đã cam kết trong Hợp đồng mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc. Như vậy anh T1, chị H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng. Ngân hàng đã chuyển khoản nợ sang nợ quá hạn và khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp là đúng theo thỏa thuận của các bên đã ký.

Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc anh T1, chị H1 phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ theo Hợp đồng cấp tín dụng số PHU.CN.575.190723 cho Ngân hàng TMCP Á và Khế ước nhận nợ ngày 19/7/2022. Tổng số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 29/10/2025 là: 413.115.601 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 314.027.371 đồng; Nợ lãi trong hạn: 5.112.986 đồng; Nợ lãi quá hạn: 93.975.244 đồng. Đồng thời, anh T1, chị H1 tiếp tục phải chịu các khoản nợ lãi, phí phát sinh với mức lãi suất thỏa thuận theo Hợp đồng cấp tín dụng số PHU.CN.575.190723 cho Ngân hàng TMCP Á và Khế ước nhận nợ ngày 19/7/2022 cho đến khi tất toán hết toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.

Đối với việc Ngân hàng về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền phạt chậm trả lãi. Đây là sự tự nguyện của phía Ngân hàng, không trái pháp luật và tạo điều kiện có lợi cho người vay nên được chấp nhận.

[3]. Về hợp đồng thế chấp:

Theo Hợp đồng thế chấp tài sản số PHU.BĐCN.40.060422 ký ngày 06/4/2022 giữa Ngân hàng TMCP A và anh T1, chị H1, tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 179, tờ bản đồ số 5, địa chỉ Ngõ A N, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (Nay là ngõ A N, phường H, tỉnh Thanh Hóa) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 191151, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 00421/3132/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 13/7/2011 mang tên anh Nguyễn Cao T1 và chị Nguyễn Thị H1. Nội dung và hình thức của Hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy trình tự, thủ tục thế chấp tài sản đã đúng quy định tại các Điều 298; Điều 317 của Bộ luật dân sự; Điều 5 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm. Phía nguyên đơn yêu cầu xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp anh T1, chị H1 không trả được nợ là phù hợp với Điều 299 của Bộ luật dân sự nên được chấp nhận.

[4]. Về án phí: Do yêu cầu của Ngân hàng TMCP Á được chấp nhận, nên bị đơn là anh T1, chị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Căn cứ Điều 90, khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi năm 2017); Điều 299, Điều 301, Điều 317, Điều 319 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 74, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 5 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm; Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của Ngân hàng TMCP A về buộc anh Nguyễn Cao T1, chị Nguyễn Thị H1 phải thanh toán số tiền phạt chậm trả lãi.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A đối với nội dung sau:
    • - Buộc anh Nguyễn Cao T1 và chị Nguyễn Thị H1 phải trả cho Ngân hàng TMCP A toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng cấp tín dụng số PHU.CN.575.190723 và Khế ước nhận nợ số 01/404342639 ký ngày 19/7/2023. Số tiền nợ tính đến ngày xét xử (29/10/2025) là:
      • + Nợ gốc: 314.027.371 đồng;
      • + Nợ lãi trong hạn: 5.112.986 đồng;
      • + Nợ lãi quá hạn: 93.975.244 đồng

      Tổng cộng: 413.115.601 đồng (Bốn trăm mười ba triệu một trăm mười lăm nghìn sáu trăm lẻ một đồng).

  3. Kể từ ngày 30/10/2025, anh Nguyễn Cao T1 và chị Nguyễn Thị H1 tiếp tục phải chịu các khoản nợ lãi, phí phát sinh với mức lãi suất thỏa thuận theo Hợp đồng cấp tín dụng số PHU.CN.575.190723 và Khế ước nhận nợ số 01/404342639 ký ngày 19/7/2023 cho đến khi tất toán hết toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Á.
  4. Trong trường hợp anh Nguyễn Cao T1 và chị Nguyễn Thị H1 không thanh toán được toàn bộ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là:

    Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 179, tờ bản đồ số 5, địa chỉ Ngõ A N, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (Nay là ngõ A N, phường H, tỉnh Thanh Hóa) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 191151, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 00421/3132/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 13/7/2011 mang tên anh Nguyễn Cao T1 và chị Nguyễn Thị H1.

    Tài sản được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số PHU.BĐCN.40.060422 ký ngày 06/4/2022 giữa Ngân hàng TMCP Á và anh T1, chị H1. Hợp đồng được chứng nhận tại Văn phòng C2, số công chứng 591, quyển số 02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD

    Trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm nêu trên không đủ để thanh toán cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của anh T1, chị H1 tại Ngân hàng thì anh T1, chị H1 vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán hết toàn bộ số nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP Á.

  5. Về án phí: Anh Nguyễn Cao T1 và chị Nguyễn Thị H1 phải nộp 20.525.000 đồng (Hai mươi triệu năm trăm hai lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (đã làm tròn số).

    Trả lại cho Ngân hàng TMCP A toàn bộ số tiền 11.094.000 đồng (Mười một triệu không trăm chín tư nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006720 ngày 21/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án D sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết công khai bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Khu vực 1 - Thanh Hóa;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Linh

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/DS-ST ngày 29/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I - THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 02/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng A yêu cầu T1 trả nợ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger