|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2025/DS-ST Ngày: 27-2-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng, vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng và ông Huỳnh Văn Tâm.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phát Huy, Thư ký Toà án nhân dân
thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 601/2024/TLST - DS ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là ngân hàng); Địa chỉ trụ sở chính: Số B - B, đường N, phường V, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số B, đường N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh (Giấy uỷ quyền số 3605/2024/UQ-TGĐ ngày 10/10/2024).
- Bị đơn: Ông Đoàn Trung H, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ C, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.
Các đương sự có đơn xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vào các ngày 08/08/2017, ông Đoàn Trung H có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, hạn mức tín dụng chung cho 2 thẻ là 25,000,000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất đối với thẻ Visa 472074 - 1455 và thẻ JCB 356481 - 1860 là 2.6%/ tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, Ông H1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 34,868,400 đồng (gồm thẻ Visa là 21,458,000 đồng, thẻ JCB là 13,410,400 đồng).
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông H1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 26,661,282 đồng (cụ thể thẻ Visa 472074 - 1455 số tiền 15,620,251 đồng, thẻ JCB 356481 - 1860 số tiền 11,041,031 đồng).
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng Ông H1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do Ông H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 01/10/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn . Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 23,127,863 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).
Sau khi chuyển nợ quá hạn, Ngân hàng có đơn khởi kiện và ngày 13/12/2024 H1 có thanh toán cho ngân hàng số tiền 26,627,863 đồng số tiền này sẽ được ưu tiên trừ vào nợ gốc 23,127,863 đồng. Tính đến ngày 27/02/2025, Ông H1 còn nợ các khoản sau: Nợ gốc: 0 đồng; Lãi quá hạn: 48,417,920 đồng.
Nay Ngân hàng khởi kiện buộc ông Đoàn Trung H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng với số tiền là Lãi quá hạn: 48,417,920 đồng.
Bị đơn ông Đoàn Trung H cung cấp bản tự khai thông nhất với những nội dung mà ngân hàng khởi kiện. Do hoàn cảnh khó khăn nên xin trả số tiền 26,627,863 đồng và số tiền nợ lãi còn lại xin trả dần cho đến khi dứt nợ.
Tòa án không tiến hành mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được do ông H có đơn xin vắng mặt.
Tại phiên tòa,
- Đại diện Ngân hàng có văn bản trình bày ý kiến: Yêu cầu buộc ông Đoàn Trung H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng với số tiền lãi quá hạn: 48,417,920 đồng và xin rút lại đối với yêu cầu ông H trả tiền vốn vay.
- Ý kiến của Kiểm sát viên:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự chấp hành đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nên đảm bảo được quyền, nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn có đơn xin vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng, thỏa thuận vay nợ giữa Ngân hàng với Đoàn Trung H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có lập hợp đồng, phù hợp quy định pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Do ông H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H trả cho Ngân hàng số tiền vốn, lãi. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, ngày 13/12/2024 ông H có thanh toán cho ngân hàng số tiền vốn 26,627,863 đồng và còn nợ tiền lãi quá hạn đến ngày 27/02/2025: 48,417,920 đồng. Do đó, ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H thanh toán số tiền lãi quá hạn còn lại là có căn cứ.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu ông H trả tiền lãi quá hạn và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu trả tiền vốn vay.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
[1] Thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản với bị đơn là ông Đoàn Trung H có nơi cư trú tại thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin vắng mặt; nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
[3] Ngân hàng TMCP S khởi kiện cho rằng ông Đoàn Trung H đã ký tín dụng thẻ Visa 472074 - 1455 và thẻ JCB 356481 – 1860 với Ngân hàng vay tiền; cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh là hợp đồng tín dụng, giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ, bảng kê tính lãi... Quá trình giải quyết vụ án, ông H thừa nhận có ký hợp đồng tín dụng vay tiền như theo đơn khởi kiện của Ngân hàng trình bày và ông H xác định ngày 13/12/2024 có thanh toán cho ngân hàng số tiền 26,627,863 đồng và số tiền này đã được ngân hàng ưu tiên trừ vào nợ gốc 23,127,863 đồng. Do đó, ông H xác định hiện nay còn chỉ còn nợ tiền lãi quá hạn tính đến ngày 27/02/2025 là: 48,417,920 đồng.
Thấy rằng, giữa Ngân hàng và ông H có giao kết hợp đồng tín dụng để ông H vay tiền. Quá trình vay do ông H không thực hiện việc trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H có trách nhiệm trả tiền lãi là phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng.
Tuy nhiên, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án thì bị đơn ông Đoàn Trung H đã thanh toán cho ngân hàng toàn bộ vốn vay và hiện nay bị đơn chỉ còn nợ tiền lãi quá hạn tính đến ngày 27/02/2024 với số tiền là 48,417,920 đồng
Buộc ông Đoàn Trung H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền lãi quá hạn tính đến ngày 27/02/2025 là 48,417,920 đồng.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn ông Đoàn Trung H có trách nhiệm trả vốn vay số tiền 23,127,863 đồng.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo: Ông Đoàn Trung H có trách nhiệm trả tiền lãi nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.420.000 đồng. Ngân hàng được chấp nhận yêu cầu kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 100, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 147, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
Buộc ông Đoàn Trung H trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền lãi quá hạn tính đến ngày 27/02/2025 là 48,417,920 (bốn mươi tám triệu bốn trăm mười bảy nghìn chín trăm hai mươi) đồng, theo Hợp đồng tín dụng thẻ Visa 472074 - 1455 và thẻ JCB 356481 – 1860.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn ông Đoàn Trung H có trách nhiệm trả vốn vay số tiền 23,127,863 đồng.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Đoàn Trung H phải chịu 2.420.000 (hai triệu bốn trăm hai mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Ngân hàng số tiền 1.620.018 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số AA/2021/0021746 ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Về quyền kháng cáo:
Thời hạn kháng cáo của các đương sự là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Ngọc Tiền |
Bản án số 02/2025/DS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, vay tài sản
- Số bản án: 02/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng -Trung
