Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

Bản án số: 02/2025/DS-ST

Ngày: 26 - 3 - 2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tịnh

Bà Diệp Huyền Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Ngọc Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 91/2024/TLST-DS, ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-DS, ngày 13 tháng 2 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Thạch Thị L, sinh năm 1970 (có mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Anh Thạch Văn T, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có mặt)

- Bị đơn:

  1. Bà Kiên Thị Na D, sinh năm 1965 (có mặt)
    Địa chỉ: ấp C, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
  2. Ông Kiên K1, sinh năm 1969 (có mặt)
  3. Ông Kiên N, sinh năm 1971 (vắng mặt)
  4. Bà Kiên Thị Sâm B, sinh năm 1976 (có mặt)
  5. Ông Kiên P, sinh năm 1976 (có mặt)
  6. Bà Kiên Thị Pho L1, sinh năm 1980 (có mặt)
  7. Bà Kiên Thị Pho L2, sinh năm 1982 (có mặt)
    Cùng địa chỉ: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
  8. Ông Kiên Lai S, sinh năm 1955 (có mặt)
    Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Kiên Thị Na D: Bà Võ Thanh L3 là Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Trà Vinh (có mặt)

Người đại diện theo uỷ quyền của ông Kiên N: Ông Kiên P, sinh năm 1976 (có mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Thạch Thị H, sinh năm 1957 (có mặt)
  2. Ông Diệp K, sinh năm 1941 (có đơn xin vắng mặt)
    Cùng địa chỉ: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
  3. Bà Thạch Thị N1, sinh năm 1952 (có đơn xin vắng mặt)
    Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
  4. Bà Thạch Thị Kim L4, sinh năm 1959 (có đơn xin vắng mặt)
    Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
  5. Ủy ban nhân dân huyện T (có đơn xin vắng mặt)
    Địa chỉ: Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

- Người phiên dịch: Ông Kim Thành L5, công tác tại Ủy ban nhân dân phường G, TP T, tỉnh Trà Vinh (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Thạch Văn T trình bày nội dung và yêu cầu như sau: Ngày 16/3/1995 bà Thạch Thị L có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Thạch Thị H và ông Diệp K phần đất diện tích 01 công tương đương diện tích 1.100m² thuộc thửa đất số 625, tờ bản đồ số 1, toạ lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Về nguồn gốc đất trước khi bà L sử dụng trước năm 1975, phần đất này lúc còn sống bà Kim Thị H1 đã tặng cho bà Thạch Thị H nên bà H đã chuyển nhượng cho bà L. Năm 2014 bà L đến Ủy ban nhân dân xã H để tiến hành làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì biết được thửa đất này do bà Kiên Thị P1 (mẹ của bị đơn, đã chết) đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay bà L yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất theo diện tích thực đo theo sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 302/CNHTC ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T cho bà L, đồng thời yêu cầu xem xét huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ bà Kiên Thị P1 thuộc thửa đất nêu trên.

- Các đồng bị đơn trình bày: Nguồn gốc đất là của mẹ các bị đơn là bà P1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995 và mẹ các bà không có sử dụng từ trước tới giờ và cho bà H mượn sử dụng không có giấy tờ gì. Các bà không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Kiên Thị Na D bà Võ Thanh L3 trình bày: thửa 625, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.100m² có ngồn gốc của bà ngoại bà Na D cho bà P1 là mẹ các bị đơn, sau đó bà P1 cho bà Kim Thị H1 mượn để gieo mạ. Năm 1994 bà P1 kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995. Bà P1 và các con bà P1 không canh tác sử dụng từ năm 1975 đến nay là vì cho bà H1 mượn, trước đây khi bà P1 còn sống có đòi lại đất nhưng do bà H1 không trả nên bà P1 khuyên các con không tranh chấp vì sợ xảy ra xung đột.

Nay bà L yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà P1 năm 1995 và yêu cầu công nhận phần đất thửa 625 nêu trên thì bà Na D không đồng ý.

Ý kiến của kiểm sát viên:

Về tố tụng việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký về việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 37, Điều 147, Điều 157, Điều 165 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 100, Điều 166, Điều 170, Điều 179, Điều 203 Luật đất đai.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Thị L: Tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 625, diện tích 1.100m², loại đất ở nông thôn và cây lâu năm, tờ bản đồ số 1, đất tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh do UBND huyện T cấp cho hộ bà Kiên Thị P1 vào năm 1995. Công nhận cho bà Thạch Thị L được quyền sử dụng đất đối với thửa đất 625, diện tích thực đo 1.097,2m², loại đất ở nông thôn và cây lâu năm, tờ bản đồ số 1, đất tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Đình chỉ đối với diện tích đất 2,5m² ( Phần A) thuộc thửa 625 do nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu tại phiên tòa. Về án phí và chi phí tố tụng: Buộc các bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[01] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà Kiên Thị P1 đối với thửa đất 625, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.100m², đất tọa lạc ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “tranh chấp quyền sử dụng đất” theo khoản 9 Điều 26, Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[02] Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn có yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Kiên Thị P1, yêu cầu công nhận thửa 625, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.100m² cho nguyên đơn căn cứ Điều 34 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

[03] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về nguồn gốc thửa đất 625 : Nguồn gốc thửa 625, diện tích 1.100m², loại đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp Trà Tro B (nay ấp Trà Tro C) xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh có nguồn gốc của gia đình bà Kim Thị H1 quản lý sử dụng từ trước năm 1975. Năm 1985, bà Kim Thị H1 chia cho con là Thạch Thị H. Ngày 16/3/1995, bà H, ông K làm giấy tay chuyển nhượng cho bà Thạch thị L (cháu nội bà H1, gọi bà H bằng cô) Bà L sử dụng đất đến khi có tranh chấp.

[3.2] Bị đơn cho rằng: Nguồn gốc thửa 625 là của bà P1 cho bà Kim Thị H1 mượn sử dụng, nhưng thừa nhận không có sử dụng phần đất này từ trước năm 1975 cho đến nay và cũng không có giấy tờ gì chứng minh là cho bà H1 mượn đất canh tác. Lời thừa nhận này của bị đơn phù hợp với các lời khai nhân chứng có trong hồ sơ vụ án là chỉ thấy bà H1, bà L canh tác, bà P1 và các con không sử dụng phần đất tranh chấp này.

[04] Tại công văn 1106/UBND-TNMT ngày 25/7/2024 của Ủy ban nhân dân huyện T trả lời công văn số 30/CV-TA ngày 19/02/2024 như sau:

Về tư liệu địa chính:

Theo tư liệu năm 1983, thửa 378, diện tích 1.000m², tờ bản đồ số 7, tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh do bà Thạch Thị H2 (Kim Thị H1) đứng tên trong sổ mục kê ruộng đất.

Theo tư liệu năm 1994: Thuộc thửa 625, diện tích 1.100 m², tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp T B (nay ấp Trà Tro C), xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh do hộ bà Kiên Thị P1 đứng tên trong hồ sơ địa chính. Việc thay đổi tên chủ sử dụng đất từ tư liệu năm 1983 sang năm 1994 không có hồ sơ đăng ký biến động đất đai mà do các chủ sử dụng đất tự kê khai khi lập bản đồ địa chính qua các thời kỳ.

Về quy trình cấp giấy chứng nhận cho bà Kiên Thị P1 là không đúng đối tượng vì trên thực tế bà P1 không có sử dụng phần đất tranh chấp từ trước năm 1975 cho đến nay, các con bà P1 cũng thừa nhận sự việc trên. Phía bị đơn cũng không có chứng cứ chứng minh việc bà P1 cho bà Kim Thị H1 mượn đất.

[05] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chỉ yêu cầu công nhận cho bà L phần B có diện tích 1.094,7m², rút lại phần A, có diện tích 2,5m², nên được chấp nhận.

Từ nhận định trên, thấy rằng nguyên đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận cấp cho bà Kiên Thị P1 tại thửa 625, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.100m² ngày 28/11/1995 đất tọa lạc tại ấp T (nay Ấp T) xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh và công nhận phần đất trên cho bà Thạch Thị L là phù hợp với pháp luật.

[06] Không chấp nhận ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị đơn.

[07] Ý kiến của kiểm sát viên: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[08] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn và bị đơn không phải chịu án phí sơ thẩm.

[09] Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu chi phí thẩm định, định giá theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34; Điều 37, Điều 147, Điều 157, Điều 165, khoản 1 Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 100, 166, 203 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
    Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 625, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.100m² cấp cho hộ bà Kiên Thị P1 ngày 28/11/1995.
    Công nhận cho bà Thạch Thị L được sử dụng phần đất có diện tích 1.094,7m² thửa 625, tờ bản đồ số 1, đất tọa lạc ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh (phần B).
    Đình chỉ đối với yêu cầu của nguyên đơn đối với diện tích 2,5m² (phần A).
    Vị trí, kích thước, tứ cận phần A và B (Có sơ đồ khu đất kèm công văn số 302/CNHTrC ngày 21/2/2024 của chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Trà Vinh là văn bản không thể tách rời bản án này).
    Bà Thạch Thị L liên hệ cơ quan nhà nước làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo phần quyết định của bản án này.
  2. Về chi phí thẩm định, định giá: Buộc các đồng bị đơn bà Kiên Thị Na D, Kiên Lai S, Kiên Thị Pho L2, Kiên Thị Pho L1, K, Kiên Thị Sâm B, Kiên N, Ông Kiên K1 phải liên đới chịu 3.440.524 đồng (ba triệu bốn trăm bốn mươi nghìn năm trăm hai mươi bốn đồng), sau khi thu số tiền 3.440.524 đồng (ba triệu bốn trăm bốn mươi nghìn năm trăm hai mươi bốn đồng) của đồng bị đơn sẽ hoàn lại cho nguyên đơn bà Thạch Thị L. H3 lại cho nguyên đơn số tiền là 1.559.000 đồng (một triệu năm trăm năm mươi chín nghìn đồng) nhận tại Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
  3. Án phí sơ thẩm: nguyên đơn và bị đơn không phải chịu án phí sơ thẩm, hoàn lại cho nguyên đơn 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0018425 ngày 19/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
  4. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/DS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 02/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger