|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/DS-ST
Ngày: 25/3/2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Hà Thị Long |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Văn Thơm |
| Ông Phạm Văn Hay | |
| - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Danh- Thư ký Tòa án Thành phố Sầm Sơn. | |
| - Đại diện viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa : Ông Nguyễn Văn Nhung - Kiểm sát viên. | |
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Sầm Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 78/2024/ TLST- DS ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXX- ST ngày 20 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm: 1974. “Vắng mặt”
Địa chỉ: TDP B, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
(Ông N có đơn xin giải quyết vắng mặt)
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1988. “Vắng mặt”.
Địa chỉ: TDP B, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Thanh N trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết nên ngày 01/9/2022 anh có cho chị Nguyễn Thị H vay với số tiền 10.000.000 đồng không tính lãi suất, thời hạn vay là 05 tháng, mỗi tháng chị H phải trả cho anh 2.000.000 đồng, việc vay tiền hai bên có viết giấy vay tiền với nhau. Sau khi vay chị H mới trả cho anh được 2.000.000 đồng (mỗi lần được 1.000.000 đồng). Hết thời hạn 5 tháng, do cần tiền làm ăn nên anh đã yêu cầu rất nhiều lần chị H phải trả cho anh số nợ còn lại là 8.000.000 đồng nhưng chị cố tình không trả . Vì vây, anh khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc chị H phải trả cho tôi số tiền là 8.000.000 đ (tám triệu đồng) đã vay của anh và anh không yêu cầu lãi suất.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị H để trình bày tự khai, tham gia phiên hòa giải, phiên công khai các tài liệu chứng cứ, phiên tòa, tống đạt Thông báo kết quả công khai các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhưng chị H đều vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì.
Tại phiên tòa hôm nay anh N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- - Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành của nguyên đơn, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh N, chị H để tham gia phiên tòa nhưng anh N có đơn xin xét xử vắng mặt, chị H vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Tòa án tiến hành xử vắng mặt anh N, chị H là đúng quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- - Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành của nguyên đơn, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh N, chị H lần thứ 2 để tham gia phiên tòa nhưng anh N có đơn xin xét xử vắng mặt, chị H vắng mặt không có lý do, Tòa án tiến hành xử vắng mặt anh N, chị H là đúng quy định của điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn chị Nguyễn Thị H trả cho nguyên anh Nguyễn Thanh N số tiền 8.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng: Đây là vụ án Tranh chấp hợp đồng dân sự, bị đơn cư trú tại thành phố S. Do vậy Tòa án thành phố S thụ lý, giải quyết là đúng quy định theo Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Mặc dù đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 để tham gia phiên tòa nhưng chị H vắng mặt không có lý do, anh N có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS giải quyết vắng mặt chị H, anh N là đúng quy định.
[2]Về quan hệ tranh chấp: Anh Nguyễn Thanh N khởi kiện chị Nguyễn Thị H vay tiền của anh từ năm 2022, mặc dù anh đã đòi nhiều lần nhưng đến nay chị vẫn chưa trả hết. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 26 BLTTDS 2015 xác định tranh chấp giữa anh N và chị H là Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
[3] Về nội dung tranh chấp:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên đơn khởi kiện căn cứ vào Giấy vay tiền có chữ ký bên vay của chị Nguyễn Thị H. Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt cho chị H thông báo thụ lý vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án, trong đó có giấy vay tiền do anh N giao nộp; Tòa án đã tống đạt thông báo hòa giải cho chị H nhưng chị H không có ý kiến, cũng không có văn bản phản đối tài liệu mà phía nguyên đơn đưa ra nên phía nguyên đơn không có nghĩa vụ phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó căn cứ vào giấy vay tiền mà anh N cung cấp có cơ sở xác nhận chị Nguyễn Thị H có nợ của anh N số tiền 10.000.000 đồng, thời gian là 5 tháng kể từ ngày 01/9/2022. Đã hết thời hạn 5 tháng kể từ ngày 01/9/2022 đến nay anh N thừa nhận chị H mới thanh toán được cho anh số tiền là 2.000.000 đồng tiền gốc, số tiền nợ còn lại là 8.000.000 đồng tiền gốc anh N đã đòi rất nhiều lần nhưng chị H vẫn không trả. Như vậy, chị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với anh N.
Do đó yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn anh Nguyễn Thanh N và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận và buộc bị đơn chị Nguyễn Thị H phải trả cho nguyên đơn anh Nguyễn Thanh N số tiền gốc đã vay là 8.000.000 đồng.
[5] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 BLTTDS; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[6] Về quyền kháng cáo: anh N và chị H được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, thời hạn kháng cáo được quy định tại Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự; Điều 92; Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273, 280 BLTTDS; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh N.
Buộc bị đơn chị Nguyễn Thị H phải trả cho nguyên đơn anh Nguyễn Thanh N số tiền 8.000.000 đ (tám triệu đồng)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án nộp đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán xong số tiền phải thi hành thì còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của BLDS năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
Án phí dân sự sơ thẩm : Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng)
Anh Nguyễn Thanh N không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0001188 ngày 21/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện tho quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niên yết.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Long |
Bản án số 02/2025/DS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 02/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền đã vay
