Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN KỲ

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/DS-ST

Ngày: 15/4/2025

“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu Hương
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Võ Văn Giáp.
    2. Bà Trần Thị Hợi.
  • - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: bà Nguyễn Thị Hà Linh - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: bà Thái Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 23/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự.

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP H1.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng L, chức vụ: Tổng giám đốc; địa chỉ: Số E A, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Đức Q – chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng Q1.

Người được ủy quyền lại:

  • Ông Đặng Hồng T – sinh năm 1980; có mặt.
  • Ông Nguyễn Trung H, sinh năm: 1988; vắng mặt.
  • Ông Trần Mạnh T1, sinh năm: 1985; vắng mặt.
  • Bà Nguyễn Thị V, sinh năm: 1978; vắng mặt.

Địa chỉ: Tòa nhà B tỉnh Nghệ An, Số B, đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Bị đơn: bà Võ Thị Hương X, sinh năm 1984; vắng mặt.

Trú tại: K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 07/11/2024 và bản khai các ngày: 17/12/2024, 31/12/2024, 6/01/2025, 20/2/2025 có tại hồ sơ vụ án, tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn ông Đặng Hồng T trình bày: Ngày 20/05/2023 Ngân hàng TMCP H1 – Chi nhánh N (sau đây viết tắt là Q1) và bà Võ Thị Hương X đã ký kết Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB có nội dung như sau: Hạn mức thẻ: 100.000.000 đồng, mục đích vay vốn: Chi tiêu cá nhân. Thời hạn vay: 36 tháng. Bà Võ Thị Hương X sử dụng loại thẻ M lãi suất áp dụng là 38,84%/ năm, lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Phương thức trả nợ: Nợ gốc trả vào cuối kỳ và lãi trả vào ngày 20 hàng tháng.

Ngày 20/06/2023, MSB đã cấp cho bà Võ Thị Hương X theo Giấy đề nghị cấp tín dụng ký ngày 20/05/2023, 01 thẻ tín dụng với hạn mức thẻ là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Võ Thị Hương X đã thanh toán cho MSB tổng số tiền nợ gốc, nợ lãi và tiền phí là 20.443.900 đồng (Hai mươi triệu bốn trăm bốn mươi ba nghìn chín trăm đồng).

Từ tháng 11/2023 bà Võ Thị Hương X đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán khoản nợ lãi đã cam kết tại hợp đồng vay, MSB chuyển khoản vay trong hạn sang quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn là 65,25%/ năm. Tính đến ngày 04/01/2025, bà Võ Thị Hương X còn nợ MSB với số tiền: 165.169.017 đồng (Một trăm sáu mươi lăm triệu một trăm sáu mươi chín nghìn không trăm mười bảy đồng), trong đó: Nợ gốc: 94.998.100 đồng; nợ lãi: 63.635.517 đồng; nợ Phí: 6.535.400 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án xét xử buộc bà Võ Thị Hương X phải trả cho Ngân hàng TMCP H1 số tiền tạm tính đến ngày 15/4/2025 là 179.621.139 đồng (Một trăm bảy mươi chín triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn một trăm ba chín đồng) trong đó: Nợ gốc: 94.998.100 đồng; nợ lãi: 78.687.639 đồng; nợ phí 5.935.400 đồng (Đối với khoản nợ phí ngân hàng Q1 xin được điều chỉnh số tiền nợ P: 6.535.400 đồng xuống 5.935.400 đồng). Kể từ ngày 16/4/2025, bà Võ Thị Hương X còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ký ngày 20/05/2023 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.

Về án phí: Ngân hàng H1 – Chi nhánh N yêu cầu bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Tại bản tự khai và các biên bản hòa giải bị đơn bà Võ Thị Hương X trình bày: Bà X thống nhất với lời trình bày của người được ủy quyền của ngân hàng Q1 cụ thể: Ngày 20/05/2023 Q1 và bà X đã ký kết Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB có nội dung như sau: Hạn mức thẻ: 100.000.000 đồng; mục đích vay vốn: Chi tiêu cá nhân; thời hạn vay: 36 tháng; lãi suất vay của thẻ M là 38,84%/ năm; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Phương thức trả nợ: Nợ gốc trả vào cuối kỳ và lãi trả vào ngày 20 hàng tháng. Ngày 20/06/2023, ngân hàng Q1 đã cấp cho bà X 01 thẻ tín dụng với hạn mức thẻ là 100.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà X đã thanh toán cho ngân hàng Q1 được một số nợ gốc, nợ lãi và tiền phí như ngân hàng Q1 trình bày. Từ ngày 30/11/2023 cho đến nay do hoàn cảnh khó khăn nên bà X chưa thanh toán được thêm khoản nào cho ngân hàng. Nay ngân hàng Q1 yêu cầu bà X thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 4/01/2025 là: 165.169.017 đồng, bà X thống nhất số tiền nợ như Ngân hàng TMCP H1 trình bày nhưng bà X đề nghị Ngân hàng TMCP H1 cho vợ chồng bà thêm thời gian để trả nợ. Do điều kiện hoàn cảnh gia đình bà X hiện nay gặp khó khăn trong làm ăn cũng như chồng bà là ông Nguyễn Đình T2 bị ốm đau, bệnh tật nên vợ chồng bà chưa có khả năng thanh toán cho ngân hàng được.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 BLTTDS, việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định tại Điều 26, Điều 35 BLTTDS, xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Bị đơn: Bà Võ Thị Hương X đã thực hiện cơ bản đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 91, 94, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP H1, buộc bị đơn bà Võ Thị Hương X phải trả tiền gốc, tiền lãi, tiền phí phát sinh tính đến ngày 15/4/2025 cho Ngân hàng TMCP H1, số tiền: 179.621.139 đồng (Một trăm bảy mươi chín triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn một trăm ba chín đồng) trong đó: Nợ gốc: 94.998.100 đồng; nợ lãi: 78.687.639 đồng; nợ phí: 5.935.400 đồng. Kể từ ngày 16/4/2025, bà Võ Thị Hương X còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ký ngày 20/05/2023 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.

Về án phí: Ngân hàng TMCP H1 – Chi nhánh N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP H1. Bà Võ Thị Hương X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến trình bày của nguyên đơn, ý kiến trình bày của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Theo đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì bà Võ Thị Hương X có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khối C thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An, nên căn cứ tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Võ Thị Hương X đã được Tòa án triệu tập phiên tòa hợp lệ lần thứ 2, nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về chủ thể: Ngân hàng Q1 được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật, bà Võ Thị Hương X là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Do đó các bên đều có quyền ký kết và thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc giao dịch mà mình đã ký kết.

[4] Về hình thức và nội dung hợp đồng tín dụng hạn mức: Ngày 20/05/2023 ngân hàng Q1 và bà Võ Thị Hương X đã ký kết giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB có nội dung như sau: Hạn mức thẻ: 100.000.000 đồng, mục đích vay vốn: Chi tiêu cá nhân. Thời hạn vay: 36 tháng, bà Võ Thị Hương X sử dụng loại thẻ Master Card Mdigi lãi suất áp dụng là 38,84%/ năm, lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Phương thức trả nợ: Nợ gốc trả vào cuối kỳ và lãi trả vào ngày 20 hàng tháng. Ngày 20/06/2022, MSB đã cấp cho bà Võ Thị Hương X, 01 thẻ tín dụng với hạn mức thẻ là 100.000.000 đồng. Về mặt hình thức của hợp đồng được hai bên xác lập theo mẫu chung do ngân hàng Q1 quy định. Hội đồng xét xử thấy rằng về hình thức cũng như nội dung của hợp đồng tín dụng này là sự thống nhất thỏa thuận và hoàn toàn tự nguyện không trái với các quy định tại Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 405, Điều 463 Bộ luật Dân sự, vì vậy hợp đồng giữa các bên đã ký kết là hợp pháp, có hiệu lực đối với hai bên và cần được pháp luật bảo vệ.

[5] Về nghĩa vụ thanh toán: Sau khi ký kết giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB loại thẻ Master Card Mdigi với hạn mức thẻ: 100.000.000 đồng. Ngày 20/06/2023, ngân hàng Q1 đã cấp cho bà Võ Thị Hương X, 01 thẻ tín dụng với hạn mức thẻ là 100.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Võ Thị Hương X đã thanh toán cho MSB tổng số tiền nợ gốc, nợ lãi và nợ phí là 20.443.900 đồng (Hai mươi triệu bốn trăm bốn mươi ba nghìn chín trăm đồng). Cụ thể: trong ngày 22/6/2023 bà Võ Thị Hương X rút tiêu dùng từ thẻ số tiền 99.595.000 đồng, đến ngày 5/7/2023 bà X chuyển trả tiêu dùng số tiền 15.045.000 đồng (Trong đó thanh toán phí 399.000 đồng, thanh toán chi tiêu 14.646.00 đồng). Đến ngày 10/7/2023 bà X tiếp tục rút chi tiêu số tiền 15.049.000 đồng. Ngày 02/10/2023 bà X thanh toán lãi 399.000 đồng. Ngày 30/11/2023 bà X chuyển trả tiêu dùng 4.999.900 đồng. tính đến ngày 30/11/2023 bà X còn nợ tiền gốc là: 94.998.100 đồng và nợ tiền lãi, tiền phí phát sinh tương ứng với thời gian mà bà X chưa thanh toán.

Đối với khoản nợ lãi và nợ phí: Từ ngày 3/10/2023 cho đến nay bà Võ Thị Hương X đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán khoản nợ lãi đã cam kết tại hợp đồng vay, MSB chuyển khoản vay trong hạn sang quá hạn. Xét yêu cầu của Ngân hàng Q1 buộc bà Võ Thị Hương X trả nợ lãi, nợ phí tạm tính đến ngày 15/4/2025 tổng với số tiền là 84.619.039 đồng, trong đó nợ lãi: 78.687.639 đồng; nợ phí: 5.935.400 đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng: Từ ngày 3/10/2023 cho đến nay bà X đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo cam kết tại hợp đồng vay ký kết ngày 20/5/2023, ngân hàng Q1 chuyển khoản vay trong hạn sang quá hạn. Căn cứ vào khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Điều 91; Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự thì yêu cầu của Ngân hàng về lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn, phí là có căn cứ để chấp nhận.

Vì vậy, việc Ngân hàng TMCP H1 – Chi nhánh N khởi kiện yêu cầu bà Võ Thị Hương X trả số tiền nợ gốc, nợ lãi và nợ phí cho ngân hàng đối với khoản vay trên tính đến ngày 15/4/2025 là 179.621.139 đồng (Một trăm bảy mươi chín triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn một trăm ba chín đồng) trong đó: Nợ gốc: 94.998.100 đồng; nợ lãi: 78.687.639 đồng; nợ phí 5.935.400 đồng là có căn cứ cần được chấp nhận.

[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP H1 – Chi nhánh N, được chấp nhận nên bà Võ Thị Hương X phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP H1 – chi nhánh N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 357, Điều 405 và Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP H1 – chi nhánh N.
  2. Buộc bà Võ Thị Hương X phải trả cho Ngân hàng TMCP H1 – Chi nhánh N, số tiền tạm tính đến ngày 15/4/2025 là 179.621.139 đồng (Một trăm bảy mươi chín triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn một trăm ba chín đồng) trong đó: Nợ gốc: 94.998.100 đồng; nợ lãi: 78.687.639 đồng; nợ phí 5.935.400 đồng.
  3. Về nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày tạm tính số liệu tiền nợ, tiền lãi, tiền phí phát sinh (ngày 16/4/2025), cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
  4. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
  5. Về án phí: Bà Võ Thị Hương X phải chịu 8.981.056 đồng (Tám triệu chín trăm tám mươi mốt nghìn không trăm năm mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Trả lại cho Ngân hàng TMCP H1 số tiền 3.795.940 đồng (Ba triệu bảy trăm chín mươi lăm nghìn chín trăm bốn mươi đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Kỳ theo biên lai thu tiến số 0000234 ngày 27/11/2024.

  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/4/2025). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản sao bản án tại nơi cư trú của bị đơn.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tân Kỳ;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Kỳ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Võ Văn Giáp

Trần Thị Hợi

Nguyễn Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/DS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 02/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger