TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/DS-ST.
Ngày: 02 - 7 - 2025.
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Ánh Sáng.
Ông Lưu Đức Chung.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đặng Xuân Lâm – Thư ký
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tình – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 451/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 808/2025/QĐST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Công ty T3 (Việt Nam).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty L.
Địa chỉ: B L, phường X (phường V, Quận C cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Cồ Lê H – Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 2001.
Địa chỉ: B L, phường X (phường V, Quận C cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Anh Phan Tuấn T1, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Tổ C, ấp C, xã L (xã B, huyện L cũ), tỉnh Đồng Nai.
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn Công ty T3 (Việt Nam) đại diện theo ủy quyền anh Nguyễn Đức T trình bày:
Ngày 02/3/2022, Công ty T3 (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là “Công ty T3") ký Hợp đồng tín dụng số: 2930121 (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng tín dụng”) về việc cấp tín dụng cho anh Phan Tuấn Thanh K vay với số tiền: 63.960.000 đồng (Sáu mươi ba triệu chín trăm sáu mươi đồng), trong đó bao gồm: 60.000.000 đồng tiền vay và 3.960.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay. Mục đích vay để mua hàng với mức lãi suất là 45%/năm. Thời hạn vay là 29 tháng tính từ ngày 15/3/2022 đến ngày 15/7/2024.
Sau khi ký kết Hợp đồng tín dụng, ngày 03/03/2022, Công ty T3 đã tiến hành giải ngân đủ số tiền vay cho anh Phan Tuấn T1 theo đúng quy định trong Hợp đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng mà anh Phan Tuấn T1 đã cung cấp.
Quá trình thực hiện hợp đồng, đã thanh toán được 14 kỳ với tổng số tiền: 52.377.999 đồng (Năm mươi hai triệu ba trăm bảy mươi bảy nghìn chín trăm chín mươi chín đồng). Tuy nhiên, từ ngày 15/6/2023 anh Phan Tuấn T1 không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T3 đã giải ngân.
Công ty đã nhiều lần nhắc nhở, liên hệ qua điện thoại đề nghị anh Phan Tuấn T1 tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán nhưng anh Phan Tuấn T1 vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào đối với Công ty T3.
Như vậy, anh Phan Tuấn T1 đã không thanh toán đúng hạn theo quy định của Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết, vi phạm nghĩa vụ đối với Công ty T3.
Tính đến ngày 02/7/2025, anh Phan Tuấn T1 đã không thanh toán, trễ hạn các khoản tiền như sau: Số nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 38.095.074 đồng ; Số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán: 11.970.871 đồng; Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn: 39.100.202 đồng ; Số tiền lãi chậm trả: 2.097.850 đồng.
Tổng là: 91.263.997 đồng (Chín mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi ba nghìn chín trăm chín mươi bảy đồng).
Công ty T3 (Việt Nam) đề nghị Tòa án buộc anh Phan Tuấn Thanh thanh T2 toàn bộ khoản vay (bao gồm dư nợ gốc, lãi, phí) tạm tính đến ngày 02/7/2025 với tổng số tiền là: 91.263.997 đồng và lãi phát sinh từ ngày 03/7/2025 đến khi trả hết số nợ trên.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phan Tuấn T1 không đến Tòa án tham gia tố tụng nên không có lời khai.
- Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát khu vực 2 – Đồng Nai:
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Đức T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Phan Tuấn T1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên căn cứ căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về tư cách tham gia tố tụng: Xác định Công ty T3 (Việt Nam) là nguyên đơn. Anh Phan Tuấn T1 là bị đơn.
[3] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty T3 khởi kiện yêu cầu bị đơn anh Phan Tuấn Thanh thanh T2 nợ cho Công ty theo hợp đồng tín dụng, do đó xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn cư trú tại xã L, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về nội dung: Về hiệu lực của hợp đồng: Ngày 02/3/2022 anh Phan Tuấn T1 ký giấy Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 2930121 với Công ty T3. Xét về mặt hình thức, hợp đồng được xác lập bằng văn bản, giữa người có thẩm quyền của Công ty T3 và anh Phan Tuấn T1 dưới hình thức chữ ký số, là hợp đồng điện tử. Việc ký kết hợp đồng điện tử này được ký kết thông qua việc anh T1 đồng ý các điều khoản quy định trên hợp đồng và xác nhận ký hợp đồng bằng cách nhập mã OTP được gửi từ hệ thống qua SMS hoặc Email. Sau khi kiểm tra OTP hợp lệ, Công ty TNHH H2 (là đơn vị đã đăng ký hoạt động cung cấp dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử theo quy định pháp luật Việt Nam) sẽ khởi tạo chữ ký số, thực hiện ký hợp đồng điện tử và lưu trữ hợp đồng điện tử, thông tin khoản vay. Khi đó, phía Công ty TNHH H2 cũng sẽ tự động khởi tạo chữ ký số và thực hiện ký hợp đồng điện tử cho Công ty T3.
Theo Điều 8 Nghị định 130/2018/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 2018 quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số quy định:
Điều 8. Giá trị pháp lý của chữ ký số:
- Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số và chữ ký số đó được đảm bảo an toàn theo quy định tại Điều 9 Nghị định này.
- Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần được đóng dấu của cơ quan tổ chức thì yêu cầu đó đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bởi chữ ký số cơ quan, tổ chức và chữ ký số đó được đảm bảo an toàn theo quy định tại Điều 9 Nghị định này.
- Chữ ký số và chứng thư số nước ngoài được cấp giấy phép sử dụng tại Việt Nam theo quy định tại Chương V Nghị định này có giá trị pháp lý và hiệu lực như chữ ký số và chứng thư số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng của Việt Nam cấp.”
Điều 9 Nghị định 130/2018/NĐ-CP quy định chữ ký số được xem là chữ ký điện tử an toàn khi đáp ứng các điều kiện sau:
“Điều 9. Điều kiện đảm bảo an toàn cho chữ ký số:
Chữ ký số được xem là chữ ký điện tử an toàn khi đáp ứng các điều kiện sau:
- Chữ ký số được tạo ra trong thời gian chứng thư số có hiệu lực và kiểm tra được bằng khóa công khai ghi trên chứng thư số đó.
- Chữ ký số được tạo ra bằng việc sử dụng khóa bí mật tương ứng với khóa công khai ghi trên chứng thư số do một trong các tổ chức sau đây cấp:
- Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia;
- Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng Chính phủ;
- Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng;
- Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng của các cơ quan, tổ chức được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn cho chữ ký số chuyên dùng được quy định tại Điều 40 của Nghị định này.
- Khóa bí mật chỉ thuộc sự kiểm soát của người ký tại thời điểm ký.”
Xét thấy, chữ ký số của anh Phan Tuấn T1 được tạo ra trong thời gian Giấy chứng nhận quyền sử dụng chứng thư số FPT-CA ngày 12/7/2024 có hiệu lực, được cung cấp bởi Công ty TNHH H2 là đơn vị được cấp phép thực hiện dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng nên có giá trị pháp lý.
Xét về nội dung, mục đích của giấy Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 2930121 ngày 02/3/2022 không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, thể hiện ý chí tự nguyện của các bên khi tham gia giao dịch.
Do đó, giấy Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng này có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng cam kết.
Nguyên đơn Công ty T3 yêu cầu bị đơn anh Phan Tuấn T1 trả tổng số nợ là 91.263.997 đồng, xét thấy: Theo Phiếu báo nợ do Ngân hàng TMCP K1 phát hành thì vào ngày 03/3/2022, Công ty T3 đã chuyển số tiền 60.000.000 đồng vào tài khoản số 76210000470449 của anh Phan Tuấn T1 mở tại Ngân hàng TMCP Đ (B), phần nội dung thanh toán có ghi rõ “Mirae Asset chuyển tiền GN Phan Tuấn T1 HD 2930121”, xét thấy số tài khoản và thông tin tài khoản đều trùng khớp với thông tin Anh T1 cung cấp trong giấy Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ký kết giữa Công ty T3 với Anh T1. Số tiền 3.960.000 đồng là tiền anh T1 đã trả tiền bảo hiểm khoản vay.
Quá trình thực hiện hợp đồng, A Phan Tuấn T1 đã thanh toán được 14 kỳ với tổng số tiền: 52.377.999 đồng (Năm mươi hai triệu ba trăm bảy mươi bảy nghìn chín trăm chín mươi chín đồng). Mặc dù còn trong thời hạn vay nhưng từ ngày 15/6/2023 anh Phan Tuấn T1 không trả thêm bất cứ khoản tiền nào là vi phạm thỏa thuận của hai bên. Công ty đã nhắc nhở, liên hệ đề nghị anh T1 tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán nhưng anh T1 vẫn không tiếp tục trả nợ.
Về tiền lãi: Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định:
“Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Khi ký kết Hợp đồng tín dụng, anh T1 xác nhận đã đọc, hiểu rõ và đồng ý với các điều khoản, điều kiện được quy định trong hợp đồng này. Do đó, anh T1 phải có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và tiền lãi cho Công ty T3 theo thỏa thuận tại Hợp đồng. Công ty T3 yêu cầu anh T1 trả tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn, tiền lãi chậm trả phù hợp quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được chấp nhận.
Căn cứ Điều 12 và Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận.
Theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đương sự phải có nghĩa vụ tôn trọng Tòa án, phải có mặt theo giấy triệu tập và chấp hành quyết định của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Như vậy, việc bị đơn không đến Tòa án làm việc được coi là đã từ bỏ quyền lợi của mình về việc được nêu quan điểm, ý kiến và cung cấp chứng cứ chứng minh. Theo Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa chỉ căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu do nguyên đơn giao nộp phù hợp với quy định của pháp định cũng như các tài liệu mà Tòa án đã thu thập để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T3 đối với anh Phan Tuấn T1.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh T1 phải chịu toàn bộ án phí là 4.563.200 đồng. Trả lại tiền tạm ứng án phí mà Công ty T3 đã nộp.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[7] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Khu vực 2 – Đồng Nai, xét thấy phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 12 và Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T3 (Việt Nam) đối với anh Phan Tuấn T1.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phan Tuấn T1 phải chịu 4.563.200 đồng (Bốn triệu năm trăm sáu mươi ba ngàn hai trăm đồng).
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Buộc Anh Phan Tuấn T1 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty T3 (Việt Nam) tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 02/7/2025 là 91.263.997 đồng (Chín mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi ba nghìn chín trăm chín mươi chín đồng). Trong đó : Số nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 38.095.074 đồng; Số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán: 11.970.871 đồng; Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn: 39.100.202 đồng ; Số tiền lãi chậm trả: 2.097.850 đồng.
Kể từ ngày 03/7/2025, anh T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi chậm trả của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 2930121 ngày 02/3/2022. Trường hợp trong Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của bên cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho bên cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của bên cho vay.
Hoàn trả cho Công ty T3 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.611.000 đồng (Một triệu sáu trăm mười một ngàn đồng) theo biên lai số 0016526 ngày 17/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Bình |
Bản án số 02/2025/DS-ST ngày 02/07/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 02/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
