|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/HNGĐ-PT Ngày 04-01-2024 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng và ông Chu Tuấn Vương
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình: Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2023/TLPT-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình.
Do Bản án số 72/203/HNGĐ - ST ngày 29/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 94/2023/QĐ-PT ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1987.
- Địa chỉ: Thôn D, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình. (có đơn xin vắng mặt)
- - Bị đơn: Anh Phạm Thế H1, sinh năm 1982
- HKTT: Thôn D, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- Chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Thái Bình. (có đơn xin vắng mặt)
- - Người kháng cáo: Anh Phạm Thế H1 - Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn – chị Vũ Thị H trình bày: Chị và anh Phạm Thế H1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 12/3/2011 tại UBND xã Đ, huyện K, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng gia đình anh H1 tại xã Đ được khoảng 7 tháng, sau đó vợ chồng thuê nhà tại xã V sinh sống. Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 8/2015 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi chửi nhau, không tôn trọng nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh H1 không chịu khó làm ăn, không quan tâm đến vợ con, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng ly thân từ năm 2018 đến nay, anh H1 về nhà bố mẹ đẻ tại xã Đ sinh sống, mỗi người sống một nơi không quan tâm đến nhau. Chị thấy không thể tiếp tục cuộc sống chung được nữa, không thể đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Thế H1.
Chị và anh H1 có 01 con chung là Phạm Vũ Bảo A, sinh ngày 17/8/2011, con đang ở cùng chị. Ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con Phạm Vũ Bảo A, yêu cầu anh H1 cấp dưỡng cho con 1.500.000đ/tháng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chị và con đang ở nhà của vợ chồng, hiện tại chị đang là giáo viên dạy nhạc trường Tiểu học xã Q, thu nhập từ lương là hơn 7.000.000đ/tháng, chị có đủ điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc con. Còn anh H1 là lái xe khách của nhà xe N chạy tuyến Thái Bình-Hà Nội, thu nhập khoảng 15.000.000đ/tháng.
Về tài sản chung: Chị và anh H1 có diện tích 104,4m² đất ở tại nông thôn, thửa đất số 535, tờ bản đồ số 08 tại thôn D, xã V, huyện K. Nguồn gốc đất là do bố mẹ đẻ chị H cho vợ chồng 01 mảnh đất tại thôn D, xã V vào năm 2014, năm 2015 vợ chồng vay ngân hàng 200.000.000 đồng để mua mảnh đất đang sử dụng, năm 2020, vợ chồng bán mảnh đất do bố mẹ đẻ chị H cho để lấy tiền trả nợ ngân hàng số tiền đã vay. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU673713 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 25/4/2015 mang tên Phạm Thế H1 và Vũ Thị H. Trị giá đất khoảng 350.000.000 đồng. Trên diện tích đất là 01 gian nhà là kho lương thực khoảng 30m² mái lợp ngói, xây khoảng những năm 1970; 01 gian công trình phụ xây năm 2015, tường xây 10cm, mái lợp tôn, điện tích khoảng 10m²; 01 mái lợp tấm nhựa sáng phía trước cửa gian nhà kho, làm năm 2015, điện tích khoảng 10m². Giá trị công trình phụ và mái lợp tấm nhựa khoảng 50.000.000 đồng. Tổng giá trị đất và tài sản trên đất khoảng 400.000.000 đồng. Ly hôn, chị đề nghị được sở hữu nhà và quyền sử dụng đất vì đây là chỗ ở đuy nhất của mẹ con chị, không có chỗ ở nào khác. Chị sẽ thanh toán cho anh H1 giá trị của đất và tài sản trên đất bằng tiền. Anh chị không nợ cá nhân, tổ chức, đoàn thể nào, cũng không có tài sản cho vay. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Phạm Thế H1 không trình bày lời khai, vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; phiên toà sơ thẩm nên không có ý kiến trình bày.
Tại bản án số 72/203/HNGĐ - ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 147; 203; 235; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 33, 56, 58, 59, 69, 71; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 213, 218, 219 Bộ luật dân sự; Điều 7 Thông tư số 01/2016/TTLT-TANĐTC-VKSNĐTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao- Viện kiểm sát nhân dân Tối cao - Bộ Tư pháp hướng đẫn thi hành một số quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình; Điều 24; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 30 Luật thi hành án dân sự:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Phạm Thế H1.
- Về nuôi con chung: Xử giao cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi đưỡng con chung là Phạm Vũ Bảo A, sinh ngày 17/8/2011; anh Phạm Thế H1 phải cấp dưỡng cho con 1.500.000đ/tháng kể từ tháng 10/2023 cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chị H và anh H1 đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo đục con, có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng theo quy định.
- Về chia tài sản chung:
- Giao cho chị H được sử hữu tài sản trên đất và sử dụng đất, cụ thể: Thửa đất 535, tờ bản đồ số 02, điện tích 104,4m² loại đất ở tại nông thôn, địa chỉ tại thôn D, xã V, huyện K đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Vũ Thị H và Phạm Thế H1 trị giá 137.808.000 đồng; 01 nhà một tầng, mái lợp ngói, xây đựng năm 1970, điện tích 52m², nền nhà sửa năm 2014, lát gạch hoa trị giá 5.358.000 đồng; công trình phụ khép kín, tường xây 110mm, xây dựng năm 2014, điện tích 9,7m² trị giá 8.042.000 đồng; khung sắt mái nhựa trồng lan, xây đựng năm 2014, điện tích 29,1m², cao 4,5m trị giá 15.427.000 đồng; sân gạch trước nhà xây đựng năm 2014, điện tích 29,1m² trị giá 3.309.000 đồng. Tổng giá trị đất và tài sản trên đất là 169.944.000 đồng.
- Chị H phải thanh toán chênh lệch về tài sản cho anh H1 số tiền là 67.977.600 đồng.
- Về chi phí tố tụng: Chị H tự nguyện nộp chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản (đã nộp xong).
- Về án phí:
- Chị Vũ Thị H nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và phải nộp 5.098.320 đồng án phí chia tài sản. Tổng số tiền án phí sơ thẩm chị H phải nộp là 5.398.320 đồng, chuyển số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm chị H đã nộp là 3.300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí số 0001945 ngày 31/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương thành án phí, chị H còn phải nộp 2.098.320 đồng án phí sơ thẩm.
- Anh Phạm Thế H1 phải nộp 300.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp đưỡng và 3.398.880 đồng án phí chia tài sản. Tổng số tiền án phí sơ thẩm mà anh H1 phải nộp là 3.698.880 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 11/10/2023, anh Phạm Thế H1 kháng cáo phần chia tài sản chung, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm định giá lại tài sản chung của anh chị là nhà và đất mà chị H đang quản lý, sử dụng theo giá chuyển nhượng tại thị trường.
Ngày 22/12/2023, các bên thống nhất thỏa thuận: Chị H được quyền sử dụng toàn bộ điện tích 104,4m² đất ở nông thôn tại thôn D, xã V, huyện K, trên đất là 01 gian nhà kho lợp ngói khoảng 30m², chị H phải thanh toán cho anh H1 100 triệu đồng. Chị H đã giao xong 50 triệu đồng (Giấy biên nhận ngày 22/12/2023). Anh H1 có nghĩa vụ hoàn tất các thủ tục, chị H có nghĩa vụ thanh toán 50 triệu đồng còn lại cho anh H1 trong hạn 07 ngày kể từ khi làm xong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị H.
Đại điện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận sự thỏa thuận về chia tài sản chung của chị H, anh H1 như trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Phạm Thế H1 làm trong hạn luật định, nên kháng cáo là hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Xét nội đung kháng cáo của anh Phạm Thế H1 thấy: Anh H1 kháng cáo phần tài sản chung của vợ chồng, đề nghị Toà án định giá lại tài sản chung của vợ chồng là điện tích 104,4m² đất ở nông thôn tại thôn D, xã V, huyện K, trên đất là 01 gian nhà kho lợp ngói khoảng 30m². Anh cho rằng mua nhà đất này năm 2015 với giá 195 triệu đồng, đến nay đã gần 10 năm, giá đất phải tăng lên. Sau khi mua nhà đất, anh còn phải phải sửa nhà hết khoảng 140 triệu đồng, vì vậy giá Hội đồng định giá đưa ra là thấp, anh không nhất trí.
Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản ngày 30/8/2023 thể hiện:
- Thửa đất 535, tờ bản đồ số 02, điện tích 104,4m² loại đất ở tại nông thôn, địa chỉ tại thôn D, xã V, huyện K. Hiện trạng đất đúng như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho anh Phạm Thế H1 và chị Vũ Thị H ngày 25/4/2015. Đất không có tranh chấp với các hộ liền kề. Giá trị thửa đất là 137.808.000 đồng.
- Tài sản trên đất gồm:
- Nhà một tầng mái ngói xây đựng năm 1970, điện tích 52m², nền nhà sửa năm 2014, lát gạch hoa 40x40 (cm) có giá trị là 5.358.000 đồng.
- Công trình phụ khép kín, tường xây 110, xây đựng năm 2014, điện tích 9,7m² có giá trị là 8.042.000 đồng
- Khung sắt mái nhựa trồng lan, xây đựng năm 2014, điện tích 29,1m², cao 4,5m có giá trị là 15.427.000 đồng.
- Sân gạch trước nhà xây đựng năm 2014, điện tích 29,1m² có giá trị 3.309.000 đồng.
Tổng giá trị đất và tài sản trên đất là 169.944.000 đồng.
Tuy nhiên trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận: Chị H được quyền sử dụng toàn bộ điện tích 104,4m² đất ở nông thôn tại thôn D, xã V, huyện K, trên đất có 01 gian nhà kho lợp ngói khoảng 30m², chị H phải thanh toán cho anh H1 100 triệu đồng. Chị H đã giao xong 50 triệu đồng (Giấy biên nhận ngày 22/12/2023). Anh H1 có nghĩa vụ hoàn tất các thủ tục, chị H có nghĩa vụ thanh toán 50 triệu đồng còn lại cho anh H1 trong hạn 07 ngày kể từ khi làm xong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị H. Xét thấy thỏa thuận này của anh chị là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm công nhận sự thỏa thuận này, chấp nhận một phần kháng cáo của anh H1, sửa bản án sơ thẩm, ghi nhận sự thỏa thuận về tài sản chung giữa các đương sự.
- [3] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí chia tài sản tương ứng với giá trị tài sản mà chị được chia ( 169.944.000 đồng – 100.000.000 đồng = 69.944.000 đồng). Anh H1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với 100.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của anh Phạm Thế H1, sửa Bản án sơ thẩm số 72/203/HNGĐ - ST ngày 29/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Cụ thể:
Căn cứ vào các Điều 147; 203; 235; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 33, 56, 58, 59, 69, 71; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 213, 218, 219 Bộ luật dân sự; Điều 7 Thông tư số 01/2016/TTLT-TANĐTC-VKSNĐTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao- Viện kiểm sát nhân dân Tối cao - Bộ Tư pháp hướng đẫn thi hành một số quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình; Điều 24; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 30 Luật thi hành án dân sự:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Phạm Thế H1.
- Về nuôi con chung: Xử giao cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi đưỡng con chung là Phạm Vũ Bảo A, sinh ngày 17/8/2011; anh Phạm Thế H1 phải cấp đưỡng cho con 1.500.000đ/tháng kể từ tháng 10/2023 cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chị H và anh H1 đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng theo quy định.
- Về chia tài sản chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận chia tài sản chung khi ly hôn giữa chị H và anh H1 như sau:
- Chị Vũ Thị H được sở hữu tài sản là nhà và công trình phụ trên đất và quyền sử dụng đất tại số thửa 535, tờ bản đồ số 02, điện tích 104,4m² loại đất ở nông thôn, địa chỉ tại thôn D, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU673713 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 25/4/2015 mang tên Phạm Thế H1 và Vũ Thị H.
- Chị H phải thanh toán tiền tài sản cho anh H1 số tiền là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Chị H đã trả số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng cho anh Phạm Thế H1 vào ngày 22/12/2023. Hai bên thống nhất anh H1 có nghĩa vụ hoàn tất các thủ tục, chị H có nghĩa vụ thanh toán 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng còn lại cho anh H1 trong hạn 07 ngày kể từ khi làm xong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị H.
- Về chi phí tố tụng: Chị H tự nguyện nộp chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản (đã nộp xong).
- Về án phí sơ thẩm:
- Chị Vũ Thị H nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và phải nộp 3.497.200 đồng án phí chia tài sản. Tổng số tiền án phí sơ thẩm chị H phải nộp là 3.797.200 đồng, chuyển số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm chị H đã nộp là 3.300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí số 0001945 ngày 31/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương thành án phí, chị H còn phải nộp 497.200 (bốn trăm chín mươi bẩy nghìn hai trăm) đồng án phí sơ thẩm.
- Anh Phạm Thế H1 phải nộp 300.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp đưỡng và 5.000.000 đồng án phí chia tài sản. Tổng số tiền án phí sơ thẩm mà anh H1 phải nộp là 5.300.000 (năm triệu ba trăm nghìn) đồng.
Anh Phạm Thế H1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Đối trừ với số tiền 300.000 đồng anh H1 đã nộp tại biên lai số 0001991 ngày 11/10/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, anh H1 đã chấp hành xong nghĩa vụ án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 04/01/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Duy Luân |
6
Bản án số 02/2024/HNGĐ-PT ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 02/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Vũ Thị H - Nguyễn Thế T
