|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/HNGĐ-PT |
Ngày: 10-01-2024.
V/v: "Ly hôn, tranh chấp chia tài sản"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiệp
Các thẩm phán: Ông Võ Công Phương
Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Tiên - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Tú Oanh- Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân & gia đình thụ lý số: 26/2023/TLPT-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2023 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”.
Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 198/2023/HNGĐ-ST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 25/2023/QĐ-PT ngày 01 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Phạm Thị Anh P, sinh năm 1980; có mặt
Trú tại: P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
Bị đơn: anh Võ Minh H, sinh năm 1979; có mặt
Trú tại: P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng N1, chi nhánh huyện H, do ông Phan Lê T - Giám đốc làm đại diện. Người đại diện theo uỷ quyền: ông Lê Phước T1 - Trưởng phòng kế hoạch kinh doanh; có mặt.
(Theo giấy uỷ quyền số 139/NHNo.HA-KHKD ngày 09/6/2023)
- UBND xã Â, do ông Nguyễn Văn L - Chủ tịch làm đại diện. Người được uỷ quyền: Ông Nguyễn Ngọc H1 - Công chức địa chính; có mặt
(Theo giấy uỷ quyền số 02/GUQ ngày 02/7/2023)
Người kháng cáo: Bị đơn anh Võ Minh H2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30/01/2023 các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị Anh P trình bày: Chị và anh Võ Minh H tự nguyện kết hôn ngày 26/8/2003 tại UBND xã Â, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2004 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H không lo làm ăn, cờ bạc, rượu chè, gây ra nhiều nợ nần, chị phải ký giấy vay để anh H trả nợ. Chị và gia đình nhà chồng khuyên can, nhưng anh H chỉ hứa hẹn, không thay đổi. Nay tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống không hạnh phúc, nên yêu cầu ly hôn anh Võ Minh H2.
Về con chung: Chị và anh Võ Minh H2 có 02 con chung là Võ Tuấn K, sinh ngày 18/5/2004 và Võ Phạm Yến N, sinh ngày 13/9/2009. Võ Tuấn K đã trưởng thành, làm ở S, cháu N đang ở chung với vợ chồng. Ly hôn, yêu cầu trực tiếp nuôi con Võ Phạm Yến N, yêu cầu anh H2 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ.
Về tài sản chung: Chị và anh Võ Minh H có tài sản chung là nhà đất, tài sản khác gắn liền với đất thửa số 920 tờ bản đồ số 2 diện tích 360m²; 01 bộ bàn ghế sa lon bằng gỗ, 01 bộ bàn ghế chân tiện bằng gỗ. Cách chia: yêu cầu được nhận nhà đất và tài sản khác gắn liền với đất để ở nuôi con, thanh toán lại tiền giá trị chênh lệch cho anh H; còn 02 bộ bàn ghế thì anh H muốn nhận bộ nào cũng được; Đối với hai rẫy trồng keo chị và anh H đã tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Nợ Ngân hàng N1 chi nhánh huyện H 70.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 01/7/2023, chị nhận trả 30.000.000đ, anh H trả 40.000.000 đồng và tiền lãi còn lại.
Bị đơn anh Võ Minh H trình bày: Về hôn nhân, con chung, tài sản chung thống nhất như chị P trình bày là đúng. Anh cũng thừa nhận có đánh bạc nên dẫn đến nợ nần phải bán rẫy, vay tiền Ngân hàng để trả nợ, nay chị P yêu cầu ly hôn thì anh chấp nhận. Về con chung, thống nhất để chị P nuôi con Võ Phạm Yến Nhi, đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ. Về tài sản chung: yêu cầu vợ chồng bán toàn bộ nhà và đất được bao nhiêu thì chia mỗi bên ½ giá trị. Về nợ chung: đến nay còn nợ Ngân hàng N1 chi nhánh huyện H 70.000.000₫ và tiền lãi, anh nhận trả 40.000.000đ, chị P trả 30.000.000đ. Đối với 02 rẫy trồng keo anh và bà P tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
- - Đại diện cho Ngân hàng N1, chi nhánh huyện H, ông Lê Phước T1 trình bày: Năm 2021, anh Võ Minh H và chị Phạm Thị Anh P có lập hợp đồng tín dung, vay của Ngân hàng N1 chi nhánh huyện H 100.000.000đ; đến tháng 6/2023, vợ chồng anh H đả trả gốc được 30.000.000đ, nay còn nợ 70.000.000₫ và lãi phát sinh từ ngày 01/7/2023. Nay vợ chồng anh H, chị P ly hôn yêu cầu vợ chồng phải có trách nhiệm trả số tiền nợ 70.000.000₫ và tiền lãi đến ngày hết hợp đồng, tài sản thế chấp vay lô số 30, diện tích 16.500m² đất trồng rừng sản xuất theo giấy chứng quyền sử dụng đất ngày 30/7/2015 của UBND huyện H (tài sản không tranh chấp) giao cho bên nào thì người đó phải có trách nhiệm trả nợ chung.
- - Đại diện theo uỷ quyền của Chủ tịch UBND xã Â, ông Nguyễn Ngọc H1 trình bày: Đối với diện tích đất phía sau nhà, vợ chồng anh H1, chị P tự khai phá, là đất gò, núi; đã sử dụng ổn định, không có tranh chấp. Nay địa phương không có ý kiến gì; nếu toà án giao thửa đất ở cho người nào thì người đó tiếp tục sử dụng.
Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 198/2023/HNGĐ-ST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định đã quyết định:
Áp dụng Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật TTDS 2015; các Điều 55, 59, 62, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14;
Tuyên xử:
- Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Phạm Thị Anh P và ông Võ Minh H.
- Về con chung: Giao con chung Võ Phạm Yến N, sinh ngày 13/9/2009 cho bà Phạm Thị Anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Võ Minh H có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không được ai ngăn cản.
Vì quyền lợi của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Võ Minh H phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, cho đến khi cháu Võ Phạm Yến N đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung:
- - Giao cho bà Phạm Thị Anh P được quyền sở hữu, sử dụng thửa đất ở số hiệu 920 tờ bản đồ số 2, diện tích 360m2 (đất ở); ngôi nhà, các công trình phụ và tài sản trong nhà, cụ thể: Nhà chính cấp N5, diện tích 83,487m2, trị giá 151.528.905đ; nhà sau cấp N7, trị giá 43,8m2, trị giá 58.582.500đ; mái hiên lợp Tol sống vuông, trụ sắt, cấp N17, diện tích 37,1595m2, trị giá 14.492.205đ; mái hiên lợp Tol Pro cimăng, trụ bê tông cốt thép, cấp N18, diện tích 24,82m2, trị giá 4.839.900đ; sân Bê tông ci măng, dày 10cm cấp S7, diện tích 24,82m2, trị giá 1.444.524đ; nhà tắm, nhà vệ sinh, cấp N8, diện tích 6,192m2, trị giá 4.830.039đ; chuồng heo trụ xây gạch, nền ci măng, mái ngói, cấp C4, diện tích 31,29m2, trị giá 6.674.157đ; chuồn heo trụ xây gạch, mái lợp Tol Prô cimăng, cấp C3, diện tích 17,88m2, trị giá 2.950.200đ; chuồng bò trụ gỗ, mái lợp Tol Prô cimăng, cấp C3, diện tích 12m2, trị giá 1.980.000đ; 01 bộ bàn ghế sa lon bằng gỗ trị giá 20.000.000đ, 01 bộ bàn ghế chân tiện bằng gỗ trị giá 15.000.000đ. Toàn bộ tài sản toạ lạc tại thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Tổng giá trị tài sản bà Phạm Thị P được nhận là: 390.322.430 đồng (Ba trăm chín chục triệu, ba trăm hai hai ngàn, bốn trăm ba chục đồng).
- - Bà Phạm Thị P phải thối lại cho ông Võ Minh H 155.161.215đ (một trăm năm lăm triệu, một trăm sáu một ngàn, hai trăm mười lăm đồng) về khoản tiền chia tài sản chung.
- Về nợ chung: Bà Phạm Thị Anh P phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N1, Chi nhánh H 70.000.000₫ và lãi phát sinh từ ngày 01/7/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí thẩm định và định giá tài sản, án phí, quyền nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/10/2023, bị đơn anh Võ Minh H kháng cáo không đồng ý về việc chia tài sản chung của bản án sơ thẩm số 198/2023/HNGĐ-ST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn anh Võ Minh H giữ nguyên nội dung kháng cáo, trình bày: Trước khi có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn và chia tài sản chung, anh và chị P có thỏa thuận về tài sản chung, giá trị tài sản chung, nợ chung và cách chia tài sản chung, trả nợ chung cụ thể:
- - Tài sản chung tranh chấp gồm:
- + Quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất thửa 920, tờ bản đồ số 2, diện tích 360 m², tại thôn P, xã Â theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào số cấp GCN: CH00982 ngày 03/8/2011 của UBND huyện H.
- + 02 bộ bàn ghế.
- Tổng giá trị tài sản là 800.000.000 đồng
- - Nợ chung: Nợ Ngân hàng N1 Chi nhánh H và lãi đến ngày 10/1/2024 là 70.210.950 đồng (nợ gốc 70.000.000đ, nợ lãi 210.950₫)
- - Cách chia tài sản chung:
- Chị P sở hữu, sử dụng toàn bộ tài sản chung, trả hết nợ chung, thanh toán cho anh ½ giá trị tài sản còn lại sau khi trả hết nợ chung là: 364.894.525 đồng (800.000.000₫ - 70.210.950₫)/2 hoặc anh nhận sở hữu, sử dụng toàn bộ tài sản chung, trả hết nợ chung, thanh toán cho chị P ½ giá trị tài sản còn lại sau khi trả hết nợ chung là: 364.894.525 đồng (800.000.000₫ - 70.210.950₫)/2
- Thời gian giao tiền, nhận nhà đến ngày 31/3/2024.
Chị Phạm Thị Anh P trình bày: anh H không lo làm ăn, cờ bạc, rượu chè, gây ra nhiều nợ nần, nếu nhận nhà và đất sẽ bán. Hiện tại, chị trực tiếp nuôi con. Cho nên, chị nhận sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất thửa 920, tờ bản đồ số: 12, diện tích 360 m², tại thôn P, xã Â, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào số cấp GCN: CH00982 ngày 03/8/2011 của UBND huyện H và 02 bộ bàn ghế, với tổng giá trị tài sản là 800.000.000 đồng, trả hết nợ Ngân hàng, thanh toán cho anh ½ giá trị còn lại sau khi trả hết nợ chung là: 364.894.525 đồng (800.000.000₫ - 70.210.950₫)/2 như anh H yêu cầu. Thời gian giao tiền, nhận nhà đến ngày 31/3/2024.
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
- - Đại diện cho Ngân hàng N1, chi nhánh huyện H, ông Lê Phước T1 trình bày: Hợp đồng tín dung giữa Chi nhánh và anh Võ Minh H chị Phạm Thị P còn thời hạn, hiện nợ gốc và lãi đến ngày 10/1/2024 là 70.210.950đ (nợ gốc 70.000.000đ, nợ lãi 210.950₫). Cho nên, tài sản nhà đất giao cho anh H hoặc chị P thì người đó phải có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng.
- - Đại diện theo uỷ quyền của UBND xã Â, ông Nguyễn Ngọc H1 trình bày: Đối với diện tích đất phía sau nhà, vợ chồng ông H1, bà P tự khai phá, là đất gò, núi; đã sử dụng ổn định, không có tranh chấp. Nay địa phương không có ý kiến gì; nếu toà án giao thửa đất ở cho người nào thì người đó tiếp tục sử dụng.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà.
- Kiến nghị: Theo đơn khởi kiện ngày 30/01/2023 và biên bản lấy lời khai ngày 10/02/2023 nguyên đơn chị Phạm Thị Anh P yêu cầu giải quyết ly hôn và chia tài sản chung là nhà và đất đã có giấy chứng nhận nhà và đất. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân không yêu cầu chị P nộp tạm ứng án phí chia tài sản chung nhưng vẫn thụ lý giải quyết chia tài sản chung là vi phạm quy định tại Điều 146, 195 Bộ luật TTDS; xác định án phí chia tài sản chung chưa tương ứng với giá trị tài sản được chia và chưa tính án phí nghĩa vụ cấp dưỡng quy định tại Điều 27 của Nghị quyết: 326/2016 ngày 30/12/2016 của U.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
- Ngày 04/10/2023, bị đơn anh Võ Minh H kháng cáo bản án về việc chia tài sản chung. Hình thức và nội dung đơn kháng cáo đúng quy định pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn chị Phạm Thị Anh P, bị đơn A tự nguyện thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án với nội dung, cụ thể:
- - Chị Phạm Thị Anh P nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất thửa 920, tờ bản đồ số 12, diện tích 360 m², tại thôn P, xã Â theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào số cấp GCN: CH00982 ngày 03/8/2011 của UBND huyện H và 02 bộ bàn ghế, tổng giá trị: 800.000.000 đồng.
- - Chị Phạm Thị Anh P có nghĩa vụ trả nợ chung cho Ngân hàng N1 Chi nhánh H 70.210.950 đồng (nợ gốc 70.000.000đ, nợ lãi 210.950đ) và tiền lãi phát sinh sau ngày 10/01/2024; đồng thời thanh toán cho anh Võ Minh H ½ giá trị tài sản còn lại sau khi trả hết nợ chung là: 364.894.525 đồng (800.000.000₫ - 70.210.950₫)/2.
- Chị Phạm Thị Anh P giao tiền, anh Võ Minh H giao nhà, thời gian giao tiền nhận nhà đến ngày 31/3/2024.
- Về án phí:
- [3.1] Án phí dân sự phúc thẩm: anh Võ Minh H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
- [3.2] Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Anh P và anh Võ Minh H mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản được chia. Chị P chịu án phí hôn nhân, anh H chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.
- [3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: việc thoả thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Do đó, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm số 198/2023/HN-ST ngày 19 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, công nhận sự thoả thuận như trên của các đương sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự; sửa bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 198/2023/HN-ST ngày 19 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân; công nhận sự thoả thuận của các đương sự như sau:
- Chị Phạm Thị Anh P nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất thửa 920, tờ bản đồ số 12, diện tích 360 m², tại thôn P, xã Â theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào số cấp GCN: CH00982 ngày 03/8/2011 của UBND huyện H (khi hoàn tất thủ tục đăng ký nhà đất theo quy định pháp luật) và 02 bộ bàn ghế, với tổng giá trị tài sản: 800.000.000 đồng.
- Chị Phạm Thị Anh P có nghĩa vụ trả nợ chung cho Ngân hàng N1 Chi nhánh H 70.210.950 đồng (nợ gốc 70.000.000đ, nợ lãi 210.950đ) và tiền lãi phát sinh sau ngày 10/01/2024; đồng thời thanh toán cho anh Võ Minh H 1/2 giá trị tài sản còn lại sau khi trả hết nợ chung là: 364.894.525 đồng (800.000.000₫ - 70.210.950₫)/2.
- Chị Phạm Thị Anh P giao tiền, anh Võ Minh H giao nhà, thời gian giao tiền nhận nhà đến ngày 31/3/2024.
- Về án phí : Căn cứ khoản 5 Điều 27, khoản 5, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- 2.1 Án phí dân sự phúc thẩm: anh Võ Minh H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0006608 ngày 9/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- 2.2 Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Chị Phạm Thị Anh P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án đã nộp theo biên lai số: 0010845 ngày 02/02/2023 của chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định (đã nộp xong) và 18.244.700 đồng án phí chia tài sản chung.
- - Anh Võ Minh H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con và 18.244.700 đồng án phí chia tài sản chung.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Quyền, nghĩa vụ thi thành án:
- 4.1 Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- 4.2 Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hiệp |
Bản án số 02/2024/HNGĐ-PT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp chia tài sản
- Số bản án: 02/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp chia tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp tài sản
