|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/HS-ST Ngày: 05 – 01 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Á
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Thanh
Ông Võ Văn Thành
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Panal - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
PHAN QUỐC H1 - sinh ngày 29/7/2006; tên gọi khác: Không có; nơi sinh:
Tại huyện P, tỉnh Hậu Giang. Nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Chỗ ở hiện tại: Ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Vinh S, sinh năm 1981 và bà Hà Thị Thùy D, sinh năm 1988; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại đang tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Phan Vinh S, bà Hà Thị Thùy D – có mặt
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Ngô Nhật L - Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hậu Giang. Có mặt
- Bị hại: Trần Quốc K, sinh năm: 2008 – Có mặt
Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần Quốc H – có mặt, bà Nguyễn Hồng D1 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp F, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
1
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Luật sư Đặng Lợi N – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H.
- Cơ quan, tổ chức nơi bị cáo và bị hại sinh sống: Thị Đoàn Cái Tắc, huyện C, tỉnh Hậu Giang, xã Đ, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Có yêu cầu xét xử vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Trần Minh T, sinh năm 2004 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ ngày 07/4/2023, Công an thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang tiếp nhận nguồn tin về tội phạm của Trần Quốc K (sinh ngày 19/6/2008, nơi cư trú: ấp F, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang) về việc vào ngày 04/4/2023, K có quen người bạn qua mạng xã hội biệt danh là W và có hẹn uống cà phê cùng một số người. Sau đó, W nói với K là nhờ điều khiển xe môtô, biển kiểm soát 95B1-698.13 chở đi lấy xăng đem lại cho người quen, K đồng ý. Sau đó, K đưa xe cho W điều khiển chở K phía sau, khi đến khu vực thuộc ấp L, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang, W kêu K xuống lấy bình xăng phía sau gốc cây. Khi K đi lấy xăng thì W điều khiển xe K chạy đi (bút lục 03-11).
Qua điều tra xác định: Vào khoảng 18 giờ ngày 04/4/2023, Phan Quốc H1 (sinh ngày 29/7/2006, nơi cư trú: ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang), Trần Minh T (sinh ngày 03/6/2004, nơi cư trú: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang), Từ Duy K1 (sinh ngày 30/6/2007, nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang) và Trần Quốc K rủ nhau đi uống cà phê ở khu di tích Tầm V. Khi đến nơi, H1 thấy T đi cùng xe với Từ Duy K1, còn Trần Quốc K điều khiển xe môtô, biển kiểm soát 95B1-698.13 (xe thuộc sở hữu của cha K tên Trần Quốc H, sinh năm 1980 mua cũ chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu) đi một mình nên H1 nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của Trần Quốc K. Phan Quốc H1 nói với Trần Quốc K bạn của H1 đang bị hết xăng giữa đường, nhờ K chở đi lấy can xăng nhưng thực chất là đợi K sơ hở giao xe sẽ chiếm đoạt xe. Lúc này, H1 điều khiển xe môtô, biển kiểm soát 95B1-698.13 chở K đi dọc sông B từ T về hướng thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Khi điều khiển xe đến lộ nông thôn thuộc ấp L, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang thì dừng xe lại, H1 kêu K xuống lấy can xăng giúp phía sau gốc cây cách chỗ dừng xe khoảng 20m. Sau khi K xuống xe đi lại gốc cây để lấy can xăng thì H1 quay đầu xe rồi tăng ga bỏ chạy. Lúc này, K phát hiện H1 lừa đảo chiếm đoạt xe môtô, nên đi bộ ra lộ rồi đi nhờ xe của người đi đường về nhà, rồi đi trình báo Cơ quan Công an.
2
Đối với Phan Quốc H1, sau khi chiếm đoạt được xe môtô của K điều khiển chạy về Trại cá giống Duy Nguyễn nơi H1 làm việc. Đến nơi, H1 mở cốp xe thấy bên trong có 50.000 đồng, một điện thoại di động S1 A22, một bộ tem xe Honda Sirius nên lấy ra sử dụng. Đối với điện thoại di động H1 đem bán được 1.000.000 đồng rồi sử dụng cá nhân hết. Đối với xe môtô, biển kiểm soát 95B1-698.13, H1 sử dụng làm phương tiện đi lại hàng ngày. Đến ngày 11/4/2023, Công an thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang mời Phan Quốc H1 về làm việc, H1 thừa nhận toàn bộ hành vi như trên. Đồng thời, giao nộp xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 95B1- 698.13 đã chiếm đoạt của Trần Quốc K (bút lục 04-19, 36-47, 118-127).
Tài sản đã tạm giữ gồm:
Khi lực lượng Công an kiểm tra xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, biển kiểm soát 95B1-698.13 mà Phan Quốc H1 đã chiếm đoạt của Trần Quốc K ghi nhận: số khung RLCUE3210-TY173458, số máy E32VE403649. Tuy nhiên số máy E32VE403649 là của xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, biển kiểm soát 95B2-013.97 do Trần Minh T (sinh năm 2004) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Qua kiểm tra xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, biển kiểm soát 95B2-013.97 của Trần Minh T ghi nhận: số khung RLCUE3740MY109488, số máy E3X9E404855. Tuy nhiên số máy E3X9E404855 là của xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, biển kiểm soát 95B1-698.13 do anh Huỳnh Văn K2 (sinh năm 1992) đăng ký chủ sở hữu đã bán lại cho Trần Quốc H (cha bị hại Trần Quốc K).
Làm việc với Trần Minh T và Trần Quốc K cả hai thừa nhận trước đó trong quá trình sử xe môtô đã tự ý đổi cho nhau cục máy số E32VE403649 từ xe mô tô biển kiểm soát 95B2-013.97 do Trần Minh T sang xe mô tô biển kiểm soát 95B1-698.13 của K và cục máy số E3X9E404855 từ xe của K sang xe của T.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 30/KL-ĐGTS ngày 26/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện C kết luận định giá tài sản trong vụ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, xảy ra ngày 04/4/2023, tại ấp L, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang, thì một cục máy xe môtô, loại xe Yamaha, số máy E32VE403649 và một xe mô tô, biển kiểm soát 95B1-698.13, số khung RLCUE3210-TY173458, không có cục máy, có tổng giá là 5.500.000 đồng (bút lục 53-55).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 42/KL-ĐGTS ngày 22/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện C kết luận định giá tài sản trong vụ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, xảy ra ngày 04/4/2023, tại ấp L, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang, thì đối với một điện thoại di động, nhãn hiệu S1 A22, màu tím và một bộ tem xe Honda Sirius, màu đỏ đen không có
3
cơ sở để dựa vào xác định giá trị tài sản, vì không xem được thực tế tài sản và đơn vị không cung cấp được các giấy tờ có liên quan đến tài sản yêu cầu định giá và nguồn gốc, giá trị tài sản mua sử dụng (bút lục 56-58).
Về vật chứng: Một xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, biển kiểm soát 95B1-698.13, số khung RLCUE3210-TY173458, lắp cục máy số E32VE403649; Một xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, biển kiểm soát 95B2-013.97, số khung RLCUE3740MY109488, lắp cục máy số E3X9E404855 đang tạm giữ tại kho vật chứng theo quy định.
Về phần dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo Phan Quốc H1 bồi thường số tiền 3.000.000 đồng, gia đình bị cáo H1 đã bồi thường xong, bị hại không có yêu cầu gì thêm (bút lục 126-129).
Tại Cáo trạng số 67/CT-VKS-HCTA ngày 17/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Phan Quốc H1 về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Người bào chữa cho bị cáo là ông Ngô Nhât L1 trình bày: Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo thống nhất với lời luận tội của kiểm sát viên đề nghị, người bào chữa có ý kiến bổ sung: Bị cáo hiện đang sống cùng ông bà ngoại do cha mẹ bị cáo đã ly hôn, mẹ bị cáo đi làm ăn xa thỉnh thoảng mới về thăm nhà, không có cha mẹ sống cùng nên bị cáo thiếu sự chăm sóc, dạy dỗ của gia đình, trình độ học vấn của bị cáo thấp nên nhận thức pháp luật cũng hạn chế, bị cáo cũng đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, gia đình bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nơi cư trú ổn định, chấp hành tốt pháp luật của Nhà nước nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của kiểm sát viên và cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo làm lại cuộc đời.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị cáo không yêu cầu bị cáo trả số tiền đã bồi thường cho bị hại.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có ông Đặng Lợi N trình bày: Đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên và bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp bị hại và bị hại không yêu cầu bồi thường thêm, yêu cầu được nhận lại xe mô tô đã bị tạm giữ.
4
Tại phiên tòa, người có quyền lượi, nghĩa vụ liên quan Trần Minh T yêu cầu nhận lại xe mô tô bị tạm giữ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phan Quốc H1 về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 36, Điều 91 và khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự; Bị cáo tác động gia đình bồi thường; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Phan Quốc H1 từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản án. Giao bị cáo H1 cho UBND xã T giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Giao 01 (Một) xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, biển kiểm soát 95B1-698.13, số khung RLCUE3210-TY173458, lắp cục máy số E32VE403649 và 01 (Một) xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, biển kiểm soát 95B2-013.97, số khung RLCUE3740MY109488, lắp cục máy số E3X9E404855 cho Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang xử lý theo quy định pháp luật. Sau đó, sẽ trả lại hai xe nêu trên cho Trần Quốc H và Trần Minh T.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Buộc bị cáo Phan Quốc H1 nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ vụ án là 1.050.000 đồng.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, vụ án không có liên quan đến công việc bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo nên xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C; Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A; Điều tra viên; kiểm sát
5
viên đã thực hiện theo quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay đại diện hợp pháp của bị cáo, bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[1.2] Sự vắng mặt của Cơ quan, tổ chức nơi bị cáo và bị hại sinh sống: Thị Đoàn Cái Tắc, huyện C, tỉnh Hậu Giang, xã Đ, huyện V, tỉnh Hậu Giang có yêu cầu xét xử vắng mặt; bà Nguyễn Hồng D1 vắng mặt, có lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 xét xử vắng mặt họ là phù hợp.
[2] Về nội dung vụ án: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phan Quốc H1 thừa nhận hành vi bị cáo thực hiện. Đối chiếu lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở chứng minh được như sau: Vào khoảng 18 giờ ngày 04/4/2023, bị cáo Phan Quốc H1 hẹn Trần Minh T, Trần Quốc K và Từ Duy K1 đến Khu D để uống cà phê. Khi thấy Trần Quốc K chạy xe một mình nên Phan Quốc H1 nói với Trần Quốc K, bạn của H1 đang bị hết xăng giữa đường, nhờ K chở đi lấy can xăng nhưng thực chất là đợi K sơ hở giao xe sẽ chiếm đoạt xe. Lúc này, H1 Lên xe môtô, biển kiểm soát 95B1-698.13 của K, thấy vậy K lên xe đi cùng H1, H1 chạy dọc sông B từ T về hướng thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang đến địa điểm vắng mặt thì H1 yêu cầu K xuống lấy can xăng để ở gốc cây. Sau khi K xuống xe lấy can xăng thì H1 quay đầu xe rồi tăng ga bỏ chạy. Sau đó, bị cáo mở cốp xe lấy 50.000 đồng đổ xăng và lấy điện thoại của bị hại bán lấy tiền tiêu xài cá nhân và lấy xe sử dụng.
Về tội danh: Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì bản chất chay lười lao động nên bị cáo đã cố ý tạo ra tình huống gian dối để bị hại thực hiện nhằm có thời gian chiếm đoạt tài sản của bị hại, theo kết quả định giá có giá trị 5.500.000 đồng và bị cáo còn lấy tiền, điện thoại của bị hại bán lấy tiền tiêu xài. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội đối với người dưới 16 tuổi được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tác động gia đình bồi thường cho bị hại; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình
6
phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo khi thấy xe của bị hại qua hình ảnh anh Trần Minh T cung cấp, bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe nên bị cáo đã cố ý hẹn gặp anh T và bị hại để uống cà phê, lựa chọn thời cơ để thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử có mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, khi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức còn hạn chế nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 91 và khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự quy định về nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội để xem xét khi lượng hình. Bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo nơi cư trú ổn định trong thời gian tại ngoại không phạm tội mới, tuân thủ nghiêm túc khi có giấy mời của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao cho chính quyền địa phương quản lý cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo, đồng thời, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[6] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tại phiên Tòa, bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.
[7] Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã chiếm đoạt số tiền 50.000 đồng và bán một điện thoại đi động của bị hại, được số tiền 1.000.000 đồng. Do đó, cần thiết bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội với số tiền 1.050.000 đồng cho Nhà nước.
[8] Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: 01 (Một) xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, biển kiểm soát 95B1-698.13, số khung RLCUE3210-TY173458, lắp cục máy số E32VE403649 và 01 (Một) xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, biển kiểm soát 95B2-013.97, số khung RLCUE3740MY109488, lắp cục máy số E3X9E404855 là vật chứng của vụ án. Tuy nhiên, do hai xe của Trần Quốc H và Trần Minh T không đúng kết cấu đã mua ban đầu nên cần thiết giao hai xe nêu trên cho Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang xử lý theo quy định pháp luật. Sau đó, sẽ trả lại hai xe nêu trên cho Trần Quốc H và Trần Minh T.
[9] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng – 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc
7
làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thu nhập không ổn định và lần phạm tội này không liên quan đến công việc bị cáo đang làm nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung đối với bị cáo.
[10] Từ những phân tích nêu trên xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị hại là có căn cứ nên chấp nhận.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tuyên bố: Bị cáo Phan Quốc H1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1. Xử phạt: Bị cáo Phan Quốc H1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản án. Giao bị cáo H1 cho UBND xã T giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
3. Buộc bị cáo Phan Quốc H1 nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ vụ án là 1.050.000 đồng.
4. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Giao 01 (Một) xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, biển kiểm soát 95B1-698.13, số khung RLCUE3210-TY173458, lắp cục máy số E32VE403649 và 01 (Một) xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, biển kiểm soát 95B2-013.97, số khung RLCUE3740MY109488, lắp cục máy số E3X9E404855 cho Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang xử lý theo quy định pháp luật. Sau đó, sẽ trả lại hai xe nêu trên cho Trần Quốc H và Trần Minh T.
5. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo Phan Quốc H1 phải chịu án phí 200.000 đồng.
6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
8
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
7. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần liên quan đến mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nơi nhận:
|
Trần Thị Mỹ Á |
9
Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 02/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lừa đảo lấy xe
