|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/KDTM-ST Ngày: 30-5-2024 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Trụ và ông Trần Đình Đậu
Thư ký phiên toà: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bích Phượng - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2023/TLST-KDTM ngày 23 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2024/QĐXXST-KDTM ngày 14 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
Địa chỉ: T, A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T, chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị. (Vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thị Mai H, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh P, theo Quyết định số 963/QĐ-BIDV ngày 25/10/2021 của Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ về việc ủy quyền tham gia tố tụng, phá sản và thi hành án dân sự. (Vắng mặt)
Người được ủy quyền lại: Ông Hà Minh T1, chức vụ: Giám đốc phòng G - Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh P, là đại diện theo Quyết định số 961/QĐ-BIDV.PT ngày 09/08/2022 của Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh P về việc ủy quyền tham gia tố tụng. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Anh Đoàn Văn H1, sinh năm 1988 và chị Hoàng Thị S, sinh năm 1987, (Anh Hùng, chị S đều vắng mặt và có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Khu A, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đoàn Văn H2, sinh năm 1959 và bà Hà Thị K, sinh năm 1962. (Bà K, ông H2 đều vắng mặt và đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khu I, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, những lời trình bày tiếp theo tại Toà án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Hà Minh T1 trình bày:
Ông Đoàn Văn H1 và bà Hoàng Thị S là khách hàng có quan hệ vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ (Ngân hànĐ) chi nhánh P từ năm 2018. Ngày 11/9/2019, giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Đoàn Văn H1, bà Hoàng Thị S có ký Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/8733627/HĐTD với hạn mức tín dụng thường xuyên với số tiền 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) trong đó đã bao gồm toàn bộ dư nợ vay ngắn hạn của khách hàng tại ngân hàng được chuyển tiếp từ các hợp đồng tín dụng ngắn hạn cụ thể theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2018/8733627/HĐTD ngày 24/8/2018, với mục đích vay để bổ sung vốn lưu động; thời hạn cấp hạn mức là 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng. Với các hợp đồng tín dụng cụ thể:
- Ngày 20/4/2020, giữa Ngân hàng và ông Đoàn Văn H1 có ký Hợp đồng tín dụng cụ thể (áp dụng đối với khoản vay theo hạn mức tín dụng đối với KHBL và KHDN) số 01/2020/8733627/HĐTD với số tiền vay là 1.200.000.000VND (Một tỷ hai trăm triệu đồng chẵn), thời hạn vay 134 ngày, lãi suất trong hạn là 9%/năm; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn (kể cả trường hợp đã được điều chỉnh) tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lãi chậm trả (áp dụng với số tiền lãi chậm trả): 10%/năm tính trên số tiền lãi chậm trả tương ứng với thời gian nhưng tối đa không quá 2.000.000VNĐ/lần chậm trả lãi, lãi suất được trả định kỳ vào ngày 25 hàng tháng. Đến hạn trả nợ, ông H1, bà S còn nợ là 1.200.000.000VNĐ (Một tỷ hai trăm triệu đồng) tiền gốc và tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng cụ thể đã ký kết. Tính đến hết ngày 30/5/2024, ông H1, bà S còn nợ: 1.200.000.000 đồng tiền gốc; tiền lãi trên nợ gốc trong hạn: 20.120.548 đồng; tiền lãi trên nợ gốc quá hạn: 293.218.356đồng;
- Ngày 18/6/2020, giữa Ngân hàng và ông H1 có ký Hợp đồng tín dụng cụ thể (áp dụng đối với khoản vay theo hạn mức tín dụng đối với KHBL và KHDN) số Hợp đồng: 01/2020/8733627/HĐTD với số tiền vay là 500.000.000VND (Năm trăm triệu đồng chẵn), thời hạn vay 134 ngày, lãi suất trong hạn là 9%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn (kể cả trường hợp đã được điều chỉnh) tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lãi chậm trả (áp dụng với số tiền lãi chậm trả): 10%/năm tính trên số tiền lãi chậm trả tương ứng với thời gian nhưng tối đa không quá 2.000.000VNĐ/lần chậm trả lãi, lãi suất được trả định kỳ vào ngày 25 hàng tháng. Đến hạn trả nợ, anh H1, chị S còn nợ là 500.000.000VNĐ (Năm trăm triệu đồng) tiền gốc và tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng cụ thể đã ký kết. Tính đến hết ngày 30/5/2024, ông H1, bà S còn nợ: Tiền gốc: 500.000.000 đồng; tiền lãi trên nợ gốc trong hạn: 15.657.534đồng; tiền lãi trên nợ gốc quá hạn: 112.253.424 đồng;
- Ngày 01/7/2020, giữa Ngân hàng và ông H1 có ký Hợp đồng tín dụng cụ thể (áp dụng đối với khoản vay theo hạn mức tín dụng đối với KHBL và KHDN) số Hợp đồng: 01/2020/8733627/HĐTD với số tiền vay là 300.000.000VND (Ba trăm triệu đồng chẵn), thời hạn vay 4 tháng, lãi suất trong hạn là 8,2%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn (kể cả trường hợp đã được điều chỉnh) tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lãi chậm trả (áp dụng với số tiền lãi chậm trả): 10%/năm tính trên số tiền lãi chậm trả tương ứng với thời gian nhưng tối đa không quá 2.000.000VNĐ/lần chậm trả lãi, lãi suất được trả định kỳ vào ngày 25 hàng tháng. Đến hạn trả nợ, anh H1, chị S còn nợ là 300.000.000VNĐ (Ba trăm triệu đồng) tiền gốc và tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng cụ thể đã ký kết. Tính đến hết ngày 30/5/2024, ông H1, bà S còn nợ: Tiền gốc: 300.000.000 đồng; tiền lãi trên nợ gốc trong hạn: 8.357.260đồng; tiền lãi trên nợ gốc quá hạn: 67.457.054 đồng;
Để đảm bảo cho các khoản vay trên tại Ngân hàng, ông H1, bà S và ông H2, bà K có ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/11415893/HĐBĐ ngày 22/8/2018 và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/11415893/HĐBĐ số 01/2019/8733627/HĐBĐ ngày 15/8/2019 với tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng diện tích đất 45.490,8 m² thuộc thửa đất số 1, tờ bản đồ số 18 tại khu H, xã T (nay là khu A, xã L), huyện T, tỉnh Phú Thọ đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 688300 mang tên ông Đoàn Văn H2, bà Hà Thị K và toàn bộ tài sản bên thế chấp đã, đang và sẽ đầu tư gắn liền với thửa đất cũng thuộc tài sản thế chấp;
Đến thời hạn trả nợ, ông H1, bà S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trong thời gian qua, Ngân hàng đã có nhiều thông báo trả nợ và trực tiếp làm việc với ông H1, bà S. Tuy nhiên, ông H1, bà S vẫn không thực hiện đúng các nội dung đã cam kết trong Hợp đồng tín dụng cũng như trong các nội dung làm việc đã thống nhất với Ngân hàng.
Ông H1, bà S nợ Ngân hàng, với tổng dư nợ đến hết ngày 30/5/2024 là: 2.517.064.177 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ năm trăm mười bảy triệu không trăm sáu mươi tư nghìn một trăm bảy mươi bảy đồng). Trong đó:
- + Dư nợ gốc là: 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng);
- + Dư nợ lãi trong hạn là: 44.135.342 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi tư triệu một trăm ba mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng);
- + Dư nợ lãi quá hạn: 472.928.835 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm bảy mươi hai triệu chín trăm hai mươi tám nghìn tám trăm ba mươi lăm đồng).
Vì vậy, Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc:
1. Ông Đoàn Văn H1, bà Hoàng Thị S phải trả toàn bộ nợ vay Ngân hàng, với tổng dư nợ đến hết ngày 30/5/2024 là: 2.517.064.177 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ năm trăm mười bảy triệu không trăm sáu mươi tư nghìn một trăm bảy mươi bảy đồng).
Ngoài ra, ông H1, bà S còn phải thanh toán tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc thực tế từ ngày 31/5/2024 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ hoặc thi hành án xong theo mức lãi suất nợ quá hạn đã thoả thuận trong các hợp đồng tín dụng cụ thể mà ông H1 đã ký kết với Ngân hàng.
2. Trường hợp ông H1, bà S không tự nguyện thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền thi hành án tiến hành kê biên, bán tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp và văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Bị đơn, anh Đoàn Văn H1, chị Hoàng Thị S trình bày:
Vợ chồng anh, chị và Ngân hàng TMCP Đ có mối quan hệ làm ăn với nhau. Ngày 11/9/2019, vợ chồng anh chị có ký Hợp đồng tín dụng hạn mức 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) trong đó bao gồm toàn bộ dư nợ ngắn hạn cửa vợ chồng tại ngân hàng được chuyển tiếp từ các hợp đồng tín dụng cụ thể theo Hợp đồng hạn mức số 01/2018/8733627/HĐTD ngày 24/8/2018, thời hạn cấp hạn mức là 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng. Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng hạn mức trên có ký hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/11415893/HĐBĐ ngày 2/8/2018 và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2019/8733627/HĐBĐ ngày 15/8/2019 giữa Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh P với ông Đoàn Văn H2, bà Hà Thị K với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đối với thửa đất sô 01 tờ bản đồ số 18 tại khu I, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, diện tích 45.490,8m2, mục đích sử dụng đất rừng sản xuất, thời hạn sử dụng 15/7/2049 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 688300 ngày 31/12/2013 đứng tên ông Đoàn Văn H2, bà Hà Thị K và tài sản gắn liền với đất là toàn bộ tài sản bên thế chấp đã, đang và sẽ đầu tư gắn liền với đất được dùng để bảo đảm cho bên được bảo đảm.
Để thực hiện hợp đồng tín dụng hạn mức trên, vợ chồng anh chị có ký 3 Hợp đồng tín dụng cụ thể: Ngày 20/4/2020, có ký Hợp đồng tín dụng cụ thể (áp dụng với số tiền vay là 1.200.000.000đ (Một tỷ hai trăm triệu đồng chẵn), thời hạn vay 134 ngày, lãi suất trong hạn là 9%/năm; ngày giải ngân 20/4/2020, ngày đáo hạn 01/9/2020; Ngày 18/6/2020, có ký Hợp đồng tín dụng cụ thể với số tiền vay là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng chẵn), thời hạn vay 134 ngày, lãi suất trong hạn là 9%/năm, ngày giải ngân 18/6/2020, ngày đáo hạn 30/10/2020; Ngày 01/7/2020, có ký Hợp đồng tín dụng cụ thể với số tiền vay là 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng chẵn), thời hạn vay 4 tháng, lãi suất trong hạn là 8,2%/năm, ngày giải ngân 01/7/2020, ngày đáo hạn 01/01/2021.
Do bệnh tật dẫn đến làm ăn thua lỗ nên vợ chồng anh chị chưa trả được cho ngân hàng cả gốc lẫn lãi. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh, chị phải có nghĩa vụ trả nợ số tiền gốc là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng cụ thể đã ký kết. Trường hợp anh H1, chị S không trả được số tiền nợ trên thì đề nghị Toà án xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật, quan điểm của vợ chồng anh chị đồng ý với ngân hàng nhưng vợ chồng anh, chị xin trả gốc cho ngân hàng và ngân hàng cho vợ chồng anh chị xin phần lãi vì dịch bệnh dẫn đến làm ăn khó khăn không có vốn và lực để làm trả nợ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Đoàn Văn H2 và bà Hà Thị K trình bày:
Ông, bà là bố mẹ của anh Đoàn Văn H1 và chị Hoàng Thị S. Ngày 22/8/2018, ông bà có thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh P thửa đất số 01, tờ bản đồ số 18, diện tích 45.490,8m2, địa chỉ: Khu H, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ đứng tên chủ sử dụng đất ông Đoàn Văn H2 và bà Hà Thị K. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 688300 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 31/12/2013 tại Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/8733627/HĐBĐ để đảm bảo cho anh Đoàn Văn H1, chị Hoàng Thị S vay số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) theo hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2018/8733627/HĐTD ngày 24/8/2018 tại Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh P.
Ngày 15/8/2019, ông bà ký Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2019/8733627/HĐBĐ để đảm bảo duy trì cho khoản vay 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) của anh H1, chị S tại Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/8733627/HĐTD ngày 11/9/2019 tại Ngân hàng.
Do điều kiện kinh tế khó khăn nên đến hạn trả nợ khoản vay trên, anh H1, chị S không có khả năng trả nợ dẫn đến vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh H1, chị S phải có nghĩa vụ trả nợ số tiền gốc là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng hạn mức và hợp đồng tín dụng cụ thể. Trường hợp anh H1, chị S không trả được số tiền nợ trên thì đề nghị Toà án xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật thì ông, bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Do điều kiện đi lại khó khăn nên ông, bà đề nghị Toà án giải quyết và xét xử vắng mặt ông, bà.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ, xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp trong Hợp đồng thế chấp và Văn bản sủa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì có quan điểm giải quyết vụ án như sau:
-Về tố tụng: Vụ án được thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
-Về nội dung:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, Điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 90, 91, 95 Luật tổ chức tín dụng; Điều 116, Điều 117, Điều 280, Điều 299, Điều 301, Điều 463 và điều 466 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ điểm b khoản 1 điều 24; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ đối với anh Đoàn Văn H1, chị Hoàng Thị S.
Buộc anh Đoàn Văn H1, chị Hoàng Thị S có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền tính đến hết ngày 30/5/2024 là: 2.517.064.177 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ năm trăm mười bảy triệu không trăm sáu mươi tư nghìn một trăm bảy mươi bảy đồng). Trong đó: Dư nợ gốc là: 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng); Dư nợ lãi trong hạn là: 44.135.342 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi tư triệu một trăm ba mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng); Dư nợ lãi quá hạn: 472.928.835 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm bảy mươi hai triệu chín trăm hai mươi tám nghìn tám trăm ba mươi lăm đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, anh Đoàn Văn H1, chị Hoàng Thị S còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng cụ thể đã ký kết cho đến khi thi hành xong khoản nợ gốc này.
Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp anh Đoàn Văn H1 và chị Hoàng Thị S không thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án phát mại và xử lý tài sản đảm bảo để trả nợ.
Về chi phí tố tụng: Buộc anh Đoàn Văn H1 và chị Hoàng Thị S phải thanh toán lại số tiền tạm ứng chi phí tố tụng 11.000.000đ (Mười một triệu đồng) cho Ngân hàng Đ.
Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Buộc anh Đoàn Văn H1 và chị Hoàng Thị S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Tranh chấp Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Đ với anh Đoàn Văn H1, chị Hoàng Thị S là tranh chấp kinh doanh thương mại, cả hai bên đương sự đều có mục đích kinh doanh và lợi nhuận. Anh Đoàn Văn H1, chị Đoàn Thị S1 có địa chỉ tại xã L (trước là xã T), huyện T, tỉnh Phú Thọ và trong Hợp đồng tín dụng hai bên thỏa thuận nếu tranh chấp xảy ra thì đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì giải quyết và bị đơn cũng đồng ý giải quyết tại Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì theo quy định tại khoản 1 điều 30, điểm b khoản 1 điều 35 và điểm b khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt. Toà án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hoà giải được nên vụ án được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật. Su khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2]. Về nội dung:
[2.1].Về hình thức và nội dung của Hợp đồng tín dụng:
Căn cứ vào các lời trình bày của các đương sự và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có đủ cơ sở xác nhận ngày 11/9/2019, giữa Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh P và anh Đoàn Văn H1, chị Hoàng Thị S ký hợp đồng tín dụng số 01/2019/8733627/HĐTD với hạn mức tín dụng thường xuyên với số tiền 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) trong đó đã bao gồm toàn bộ dư nợ vay ngắn hạn của khách hàng tại ngân hàng được chuyển tiếp từ các hợp đồng tín dụng ngắn hạn cụ thể theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2018/8733627/HĐTD ngày 24/8/2018, với mục đích vay để bổ sung vốn lưu động; thời hạn cấp hạn mức là 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng. Số tiền giải ngân từng lần được xác định theo từng Hợp đồng tín dụng cụ thể. Thực hiện hợp đồng trên, Ngân hàng và anh H1, chị S đã ký kết 3 Hợp đồng tín dụng cụ thể và đã giải ngân gồm 3 Hợp đồng cụ thể. Qua trình thực hiện hợp đồng, anh H1, chị S không trả được nợ.
Đây là các hợp đồng tín dụng mục đích của hợp đồng là phục vụ mục đích kinh doanh, nội dung các thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội có nội dung và hình thức phù hợp với điều 463 Bộ luật dân sự; về lãi suất các bên thỏa thuận phù hợp với Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng và Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng nên Hợp đồng tín dụng có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên nên được thừa nhận và bảo vệ.
[2.2]. Quá trình thực hiện hợp đồng và yêu cầu thanh toán nợ:
Quá trình thực hiện hợp đồng, anh H1, chị S đã ký kết Ngân hàng 03 Hợp đồng tín dụng cụ thể và Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh P đã giải ngân cho anh H1, chị S theo đúng quy định. Sau khi ký kết hợp đồng, đến thời hạn trả nợ, anh H1, chị S đã không trả được nợ theo hợp đồng tín dụng cụ thể đã ký kết. Như vậy, anh H1, chị S đã vi phạm Điều 4 của Hợp đồng tín dụng hạn mức, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng. Căn cứ bảng kê dư nợ khoản vay của anh H1, chị S do Ngân hàng cung cấp tính đến hết ngày 30/5/2024 là: 2.517.064.177 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ năm trăm mười bảy triệu không trăm sáu mươi tư nghìn một trăm bảy mươi bảy đồng). Trong đó: Dư nợ gốc là: 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng); Dư nợ lãi trong hạn là: 44.135.342 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi tư triệu một trăm ba mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng); Dư nợ lãi quá hạn: 472.928.835 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm bảy mươi hai triệu chín trăm hai mươi tám nghìn tám trăm ba mươi lăm đồng). Đồng thời, bị đơn cũng thừa nhận toàn bộ các hợp đồng trên. Vì vậy, yêu cầu của Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện yêu cầu anh H1, chị S trả nợ cho Ngân hàng là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Ngoài ra, căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, anh H1, chị S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng cụ thể cho đến khi anh H1, chị S trả hết tiền gốc. Như vậy yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[2.3].Về xử lý tài sản thế chấp:
Xét yêu cầu về xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp anh H1, chị S không thực hiện được hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, những người có tài sản thế chấp không thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp và văn bản sửa đổi Hợp đồng thế chấp thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền thi hành án tiến hành kê biên, bán tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho ngân hàng. Hội đồng xét xử nhận thấy, để đảm bảo cho các khoản vay trên, ông Đoàn Văn H2, bà Hà Thị K có ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/11415893/HĐBĐ ngày 22/8/2018 và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/11415893/HĐBĐ số 01/2019/8733627/HĐBĐ ngày 15/8/2019 với tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng diện tích đất 45.490,8 m² thuộc thửa đất số 1, tờ bản đồ số 18 tại khu H, xã T (nay là khu A, xã L), huyện T, tỉnh Phú Thọ đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 688300 mang tên ông Đoàn Văn H2, bà Hà Thị K và toàn bộ tài sản bên thế chấp đã, đang và sẽ đầu tư gắn liền với thửa đất cũng thuộc tài sản thế chấp. Hợp đồng thế chấp tài sản được lập thành văn bản, được công chứng hợp lệ và đã đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tài sản thế chấp theo quy định của Điều 292, Điều 295, Điều 298, Điều 317, Điều 319 Bộ luật Dân sự. Do đó, Hợp đồng thế chấp và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp là hợp pháp và có giá trị bắt buộc thực hiện giữa các bên.
Như vậy, yêu cầu của ngân hàng về xử lý tài sản thế chấp khi bị đơn và những người có tài sản thế chấp không thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp và văn bản sửa đổi Hợp đồng thế chấp thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền thi hành án tiến hành kê biên, bán tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
[3]. Về chi phí tố tụng:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ có đơn đề nghị xem xét thẩm định tại chỗ. Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc là 11.000.000₫ (Mười một triệu đồng). Toàn bộ chi phí này nguyên đơn đã nộp tạm ứng. Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên cần buộc bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định của pháp luật tổng là 11.000.000đ (Mười một triệu đồng). nên cần buộc anh H1, chị S hoàn trả lại cho Ngân hàng là phù hợp quy định của pháp luật.
[4]. Về án phí:
Anh H1, chị S có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền là 2.517.064.177 đồng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 72.000.000đồng + 2 % x 517.064.177 đồng = 82.341.283,540 đồng, làm tròn 82.341.000 đồng.
Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận toàn bộ nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 30, điểm b khoản 1 điều 35, điểm b khoản 1 điều 39, khoản 1 điều 147, khoản 1 điều 157, hoản 1 điều 158 và khoản 1 điều 228, điều 271 và khoản 1 điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điều 280, điều 292, điều 298, điều 299, điều 463 và điều 466 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 91; Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ đối với anh Đoàn Văn H1, chị Hoàng Thị S.
1.1. Buộc anh Đoàn Văn H1, chị Hoàng Thị S có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền tính đến hết ngày 30/5/2024 là: 2.517.064.177 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ năm trăm mười bảy triệu không trăm sáu mươi tư nghìn một trăm bảy mươi bảy đồng). Trong đó: Dư nợ gốc là: 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng); Dư nợ lãi trong hạn là: 44.135.342 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi tư triệu một trăm ba mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng); Dư nợ lãi quá hạn: 472.928.835 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm bảy mươi hai triệu chín trăm hai mươi tám nghìn tám trăm ba mươi lăm đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, anh Đoàn Văn H1, chị Hoàng Thị S còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng cụ thể đã ký kết cho đến khi thi hành xong khoản nợ gốc này.
1.2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp anh Đoàn Văn H1, chị Hoàng Thị S không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ, ông Đoàn Văn H2, bà Hà Thị K không thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/11415893/HĐBĐ ngày 22/8/2018 và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/11415893/HĐBĐ số 01/2019/8733627 /HĐBĐ ngày 15/8/2019 thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền thi hành án tiến hành kê biên, bán tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp và Văn bản sửa đổi Hợp đồng thế chấp đã ký kết với tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng diện tích đất 45.490,8 m² thuộc thửa đất số 1, tờ bản đồ số 18 tại khu H, xã T (nay là khu A, xã L), huyện T, tỉnh Phú Thọ đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 688300 mang tên ông Đoàn Văn H2, bà Hà Thị K và toàn bộ tài sản bên thế chấp đã, đang và sẽ đầu tư gắn liền với thửa đất cũng thuộc tài sản thế chấp.
2.Về chi phí tố tụng:
Buộc anh Đoàn Văn H1, chị Hoàng Thị S phải chịu 11.000.000đ (Mười một triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Xác nhận Ngân hàng TMCP Đ đã nộp 11.000.000₫ (Mười một triệu đồng) tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định. Buộc anh Đoàn Văn H1, chị Hoàng Thị S hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 11.000.000đ (Mười một triệu đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành an cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Buộc anh Đoàn Văn H1, chị Hoàng Thị S phải chịu 82.341.000đ (Tám mươi hai triệu ba trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 39.240.000đ (Ba mươi chín triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005518 ngày 13/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Hà Thu Hiền |
Bản án số 02/2024/KDTM-ST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 02/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buộc anh Đoàn Văn H, chị Hoàng Thị S có nghĩa vụ trả co Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển VN
