|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/KDTM-PT Ngày 28 tháng 11 năm 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Sơn; Ông Đỗ Thế Bình.
- Thư ký phiên toà: Ông Chu Quang Duy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2024/TLPT-KDTM ngày 11/10/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2024/KDTM - ST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 14/2024/QĐPT-KDTM ngày 24 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ; Địa chỉ: T, T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – Chủ tịch Hội đồng quản trị (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc S – Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ – chi nhánh B1 (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Vũ Quang T1 – Giám đốc Đ (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc S1, sinh năm 1970 (vắng mặt) bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1974 (vắng mặt); Cùng HKTT: Thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông S1, bà T2: Ông Nguyễn Đức T3, sinh năm 1976; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1992 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1994 (vắng mặt).
Cùng HKTT: thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
Do có kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc S1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 11/11/2019, hộ kinh doanh ông Nguyễn Ngọc S1 (gồm ông Nguyễn Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị T2) có giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất kinh doanh gửi đến Ngân hàng TMCP Đ (B2), chi nhánh B1 với nội dung đề nghị cấp hạn mức vay vốn 800.000.000 đồng với mục đích kinh doanh giấy phế liệu. Cùng ngày 11/11/2019, ông Nguyễn Ngọc S1 đã đại diện hộ kinh doanh cá thể (theo hợp đồng ủy quyền ngày 06/11/2019 giữa bên ủy quyền là bà Nguyễn Thị T2, bên được ủy quyền là ông Nguyễn Ngọc Sáng L tại Văn phòng C, tỉnh Bắc Ninh, số công chứng 1620/2019/HĐUQ quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD được công chứng viên Nguyễn Thị Băng T5 chứng nhận) cùng B2 Chi nhánh B1 – Phòng G có ký hợp đồng tín dụng (áp dụng đối với khoản vay theo món của khách hàng bán lẻ - giải ngân 01 lần và cùng ngày ký HĐTD) số: 0202/2019/13231314/HĐTD với nội dung vay tổng số tiền 800.000.000 đồng trong thời hạn 11 tháng (từ 11/11/2019 đến 11/10/2020) với mục đích kinh doanh giấy phế liệu. Ngoài ra hợp đồng còn quy định lãi suất, phí, phạt vi phạm, lịch trả nợ gốc và các nội dung khác.
Khoản vay trên được bảo đảm bởi hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0054/2019/13231314/HĐBĐ ngày 06/11/2019 được ký giữa hộ ông Nguyễn Ngọc S1 (do đại diện là ông Nguyễn Ngọc S1) với B2. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được công chứng viên Nguyễn Thị B Tâm chứng nhận với số công chứng 1622/2019/HĐTC quyển số 01/ TP/CC-SCC/HĐGD. Hợp đồng thế chấp có nội dung hộ ông Nguyễn Ngọc S1 sử dụng tài sản là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN540020, vào sổ cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CH000255 do UBND huyện Y cấp ngày 12/9/2013, chủ sở hữu là Hộ ông Nguyễn Ngọc S1 đối với thửa đất số 373, tờ bản đồ 23 có diện tích 125m² tại thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh và toàn bộ nhà ở và các công trình trên đất đang hiện hữu và các tài sản hình thành trong tương lai, các công trình được cải tạo, xây dựng thêm gắn liền với Quyền sử dụng đất nêu trên để bảo đảm cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của bên được bảo đảm (ông Nguyễn Ngọc S1) đối với ngân hàng phát sinh từ các hợp đồng cấp tín dụng bao gồm nhưng không giới hạn nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, tiền bồi thường thiệt hại, chi phí xử lý tài sản thế chấp và tất cả các nghĩa vụ liên quan khác. Ngoài ra hợp đồng thế chấp còn quy định các nội dung khác theo quy định pháp luật.
Sau khi ký kết hợp đồng, B2 đã giải ngân cho hộ kinh doanh cá thể ông Nguyễn Ngọc S1 toàn bộ khoản tiền vay là 800.000.000 đồng.
Đến thời hạn trả nợ ngày 11/10/2020, hộ kinh doanh ông Nguyễn Ngọc S1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. B2 đã làm việc nhiều lần với hộ kinh doanh ông Nguyễn Ngọc S1 để đôn đốc trả nợ nhưng bên vay vẫn không thực hiện. Xét thấy hộ kinh doanh ông Nguyễn Ngọc S1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh buộc ông Nguyễn Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị T2 phải hoàn trả cho B2 số tiền gốc là 800.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả theo quy định trong hợp đồng tín dụng.
Trường hợp ông Nguyễn Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị T2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì BIDV có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn xác nhận số nợ ngân hàng yêu cầu là đúng. Bị đơn đồng ý trả số nợ gốc và dư nợ lãi và xin được miễn phần lãi phạt. Về tài sản thế chấp và án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Ngọc T4, bà Nguyễn Thị N đã được tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập đến làm việc nhưng có đơn xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng. Trong đơn xin vắng mặt, ông T4, bà N đều không cho ý kiến về việc ngân hàng đòi nợ ông S1, bà T2 và khẳng dịnh không rõ, không sử dụng khoản vay. Về việc xử lý tài sản thế chấp ông T4, bà N đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/01/2024 có kết quả như sau:
“I. Đối tượng xem xét thẩm định tại chỗ: Thửa đất số 373, tờ bản đồ số 23 tại thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh và tài sản trên đất
II. Thực trang tài sản khi xem xét thẩm định tại chỗ:
* Thửa đất số 373, tờ bản đồ 23 tại thôn C xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh có tứ cận như sau:
- Phía Nam giáp đường thôn
- Phía Đông giáp ngõ đi
- Phía Bắc giáp thửa số 343 tờ bản đồ 23
- Phía tây giáp thửa số 341 tờ bản đồ 23
* Tài sản trên đất
- Trên đất có 01 ngôi nhà 02 tầng, cửa xếp xây dựng năm 1999
- 01 khu vệ sinh và công trình phụ, kho 2 tầng và 1 phần công trình đã tháo dỡ.
- 01 cổng sắt 2 cánh và tường bao xây gạch
- Còn lại diện tích đất là sân lát gạch đỏ; ở 1 phần sân có mái lợp tôn, vì kèo sắt”
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày; Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh buộc ông Nguyễn Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị T2 phải hoàn trả cả gốc, lãi, phí cho B2 số tiền nợ gốc, lãi tạm tính đến hết ngày 20/5/2024 là:
- + Dư nợ gốc: 800.000.000,đồng
- + Dư nợ lãi trong hạn: 18.163.013 đồng
- + Nợ lãi quá hạn: 394.290.411 đồng
- + Nợ lãi phạt quá hạn lãi: 6.675.451 đồng.
- Tổng cộng: 1.219.128.875 đồng
Kể từ ngày 21/5/2024, Ông Nguyễn Ngọc S1, bà Nguyễn Thị T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, lãi quá hạn đối với khoản tiền nợ gốc chậm trả cho đến ngày thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP Đ với mức lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp ông Nguyễn Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị T2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Từ những nội dung trên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã căn cứ vào khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95, khoản 3 Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng; Căn cứ vào các Điều 290, 292, 293, 299, 317, 318, 320, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ vào các Điều: 30, 35, 39, 147, 184, 185, 220, 227, 228, 235, 254, 262, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP Đ.
Buộc ông Nguyễn Ngọc S1, bà Nguyễn Thị T2 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ đối với các khoản nợ theo hợp đồng tín dụng số 0202/2019/13231314/HĐTD ngày 11/11/2019 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Đ với hộ kinh doanh ông Nguyễn Ngọc S1. Cụ thể số nợ tạm tính đến ngày 20/5/2024 là:
- + Nợ gốc: 800.000.000,đồng
- + Nợ lãi trong hạn: 18.163.013 đồng
- + Nợ lãi quá hạn: 394.290.411 đồng
- + Nợ lãi phạt quá hạn lãi: 6.675.451 đồng.
- Tổng cộng: 1.219.128.875 đồng
Kể từ ngày 21/5/2024, ông Nguyễn Ngọc S1, bà Nguyễn Thị T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, lãi quá hạn, lãi phạt theo quy định tại Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
Trường hợp ông Nguyễn Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị T2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý phát mại tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN540020, vào sổ cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CH000255 do UBND huyện Y cấp ngày 12/9/2013, chủ sở hữu là Hộ ông Nguyễn Ngọc S1 đối với thửa đất số 373, tờ bản đồ 23 có diện tích 125m2 tại thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh và toàn bộ nhà ở và các công trình trên đất đang hiện hữu và các tài sản hình thành trong tương lai, các công trình được cải tạo, xây dựng thêm gắn liền với Quyền sử dụng đất nêu trên để thu hồi nợ.
Nếu số tiền bán tài sản thế chấp không đủ để thanh toán khoản nợ thì ông Nguyễn Ngọc S1, bà Nguyễn Thị T2 phải thanh toán phần còn thiếu cho Ngân hàng. Nếu số tiền từ bán tài sản thế chấp lớn hơn giá trị khoản nợ phải thanh toán thì phần chênh lệch được trả hộ ông Nguyễn Ngọc S1. Trường hợp ông Nguyễn Ngọc S1, bà Nguyễn Thị T2 trả hết nợ thì Ngân hàng có trách nhiệm giải chấp toàn bộ tài sản thế chấp theo quy định.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lệ phí Tòa án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 05 tháng 6 năm 2024, bị đơn ông Nguyễn Ngọc S1 kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Sau khi phát sinh dư nợ quá hạn, ngày 16/6/2020 ông S1 có trả 60.000.000 đồng cho Ngân hàng, số tiền này được trừ vào gốc của số tiền vay 800.000.000 đồng. Sau khi tính toán số nợ gốc và lãi phát sinh, Ngân hàng đề nghị Tòa án tuyên buộc ông Nguyễn Ngọc S1, bà Nguyễn Thị T2 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ đối với các khoản sau (tạm tính đến 20/5/2024):
- + Số tiền nợ gốc: 740.000.000 đồng.
- + Số tiền nợ lãi: 18.163.013 đồng.
- + Số tiền lãi đối với nợ gốc quá hạn: 426.294.247 đồng.
- + Số tiền lãi đối với nợ lãi quá hạn: 6.675.451 đồng.
- Tổng cộng: 1.191.132.711 đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Trong phần tranh luận, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của mình, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị Ngân hàng cho trả dần và miễn lãi suất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS, xử: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc S1, sửa một phần bản án sơ thẩm.
Các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc S1 trong thời hạn luật định đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Vụ án được xác định là vụ án Kinh doanh và thương mại với tranh chấp hợp đồng tín dụng. Tại điểm b khoản 10 Hợp đồng tín dụng số 0202/2019/13231314/HĐTD ngày 11/11/2019 có quy định “Hai bên thống nhất Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh”. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh là tòa án nơi nguyên đơn đặt chi nhánh nên theo thỏa thuận của các bên và sự lựa chọn của nguyên đơn (theo điểm b khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 1 Điều 40) thì Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh thụ lý giải quyết tranh chấp là đúng thẩm quyền theo quy định.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của ông S1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính lại khoản lãi và không đồng ý việc xử lý tài sản thế chấp đảm bảo cho khoản vay.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm thì giữa hộ ông S1 và Ngân hàng TMCP Đ có ký kết Hợp đồng tín dụng số 0202/2019/13231314/HĐTD ngày 11/11/2019, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0054/2019/13231314/HĐBĐ ngày 06/11/2019. Số tiền vay là 800.000.000 đồng; Thời hạn vay từ ngày 11/11/2019 đến ngày 11/10/2020; Lãi suất trong hạn 10,5%/năm (lãi suất thay đổi 3 tháng một lần theo quy định của B2); Lãi suất nợ quá hạn: Đối với nợ gốc là 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả đối với khoản nợ lãi là 10%/năm trên số tiền lãi chậm trả; K trả lãi là ngày 25 hàng tháng.
Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, Ngân hàng TMCP Đ đã giải ngân toàn bộ số tiền 800.000.000 đồng cho hộ kinh doanh ông S1. Theo trình bày của B2 thì đến ngày 20/8/2020 hộ kinh doanh ông S1 đã trả được tổng số 58.706.969 đồng tiền lãi. Sau đó hộ kinh doanh ông S1 đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi tại các kỳ trả lãi vào tháng 8, tháng 9, tháng 10 năm 2020 và nghĩa vụ trả số tiền 800.000.000 đồng nợ gốc theo hợp đồng nên B2 khởi kiện.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, Ngân hàng TMCP Đ đã giải ngân toàn bộ số tiền 800.000.000 đồng cho hộ kinh doanh ông S1. Đến thời hạn trả nợ ngày 11/10/2020 hộ ông S1 không trả được số tiền 800.000.000 đồng theo thỏa thuận giữa các bên tại hợp đồng tín dụng. Do đó, theo thỏa thuận thì từ ngày 12/10/2020 ông S1 còn phải chịu lãi suất 150%x10,5%=15,75%/năm đối với khoản nợ gốc tương ứng với thời gian chậm thanh toán. Tại phiên tòa sơ thẩm, sau khi phát sinh khoản nợ quá hạn, B2 xác nhận ngày 16/6/2020 ông S1 đã trả B2 số tiền 60.000.000 đồng. Theo khoản 2 Điều 5 Điều kiện và điều khoản vay kèm theo hợp đồng tín dụng thì số tiền 60.000.000 đồng phải được ưu tiên thanh toán vào khoản nợ gốc 800.000.000 đồng quá hạn. Việc B2 trừ số tiền 60.000.000 đồng vào số tiền lãi chậm trả là không phù hợp. Do đó, Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của B2 buộc ông S1, bà T2 phải trả số tiền 800.000.000 đồng nợ gốc là không phù hợp với điều kiện và điều khoản vay kèm theo hợp đồng tín dụng. Như vậy, kể từ ngày 17/6/2020 dư nợ gốc của hộ kinh doanh ông Nguyễn Ngọc S1 tại B2 theo hợp đồng tín dụng là 740.000.000 đồng. Vì vậy kháng cáo của ông S1 về việc xem xét lại phần lãi là có căn cứ, cần phải sửa bản án sơ thẩm.
Đối với số tiền lãi chậm trả trên khoản nợ gốc: Số tiền lãi chậm trả trên số tiền nợ gốc 800.000.000 đồng từ ngày phát sinh nghĩa vụ trả nợ 12/10/2020 đến ngày 16/6/2021 là 247 ngày tương ứng với số tiền là: 800.000.000 đồng x 15,75%/năm : 365 x 247 ngày = 85.265.753 đồng.
Số tiền lãi chậm trả trên số tiền nợ gốc 740.000.000 đồng từ ngày 17/6/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 20/5/2024 là 1068 ngày tương ứng với số tiền là: 740.000.000 đồng x 15,75%/năm : 365 x 1068 ngày = 341.028.493 đồng.
Như vậy số tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc là: 85.265.753 đồng + 341.028.493 đồng = 426.294.247 đồng.
Đối với số tiền lãi trong hạn và lãi chậm trả của khoản lãi: Theo thỏa thuận thì kỳ trả lãi của khoản vay là ngày 25 hàng tháng. Hộ kinh doanh ông Nguyễn Ngọc S1 đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi tại các kỳ trả lãi vào tháng 8, tháng 9, tháng 10 năm 2020, lãi chậm trả đối với khoản nợ lãi là 10%/năm trên số tiền lãi chậm trả đến ngày xét xử sơ thẩm 20/5/2024, cụ thể như sau:
| Ngày phát sinh | Số tiền lãi trong hạn | Số ngày chậm trả lãi | Số tiền lãi chậm trả của khoản lãi trong hạn |
|---|---|---|---|
| 25/8/2020 | 7.116.438 | 1364 | 2.659.403 |
| 25/9/2020 | 7.134.247 | 1333 | 2.605.466 |
| 12/10/2020 | 3.921.328 | 1316 | 1.410.582 |
| Tổng | 18.163.013 | 6.657.451 |
Như vậy, số tiền lãi trong hạn phải trả là: 18.163.013 đồng. Số tiền lãi chậm trả đối với nợ lãi là: 6.657.451 đồng.
Từ những phân tích trên, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Ngọc S1, bà Nguyễn Thị T2 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ đối với các khoản sau (tạm tính đến 20/5/2024):
- + Số tiền nợ gốc: 740.000.000 đồng.
- + Số tiền nợ lãi: 18.163.013 đồng.
- + Số tiền lãi đối với nợ gốc quá hạn: 426.294.247 đồng.
- + Số tiền lãi đối với nợ lãi quá hạn: 6.675.451 đồng.
- Tổng cộng: 1.191.132.711 đồng.
Kể từ ngày 21/5/2024, ông Nguyễn Ngọc S1, bà Nguyễn Thị T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi trên số tiền nợ gốc, số tiền nợ lãi theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng tương ứng với thời gian chậm trả đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
Đối với việc xử lý tài sản thế chấp: Khi giao kết hợp đồng tín dụng, các bên đã ký hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN540020, vào sổ cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CH000255 do UBND huyện Y cấp ngày 12/9/2013, chủ sở hữu là Hộ ông Nguyễn Ngọc S1 đối với thửa đất số 373, tờ bản đồ 23 có diện tích 125m² tại thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh và toàn bộ nhà ở và các công trình trên đất đang hiện hữu và các tài sản hình thành trong tương lai, các công trình được cải tạo, xây dựng thêm gắn liền với Quyền sử dụng đất nêu trên để thu hồi nợ. Hợp đồng thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm do đó bản án sơ thẩm quyết định về việc xử lý tài sản đảm bảo trong trường hợp ông S1, bà T2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ là phù hợp. Do đó, kháng cáo của ông S1 về việc không chấp nhận việc xử lý tài sản đảm bảo là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông S1 được chấp nhận một phần nên ông S1 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự,
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc S1, sửa một phần quyết định bản án sơ thẩm số 06/2024/KDTMST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Áp dụng Điều: 30, 35, 39, 147, 184, 185, 220, 227, 228, 235, 254, 262, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95, khoản 3 Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng; Các Điều 290, 292, 293, 299, 317, 318, 320, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP Đ.
Buộc ông Nguyễn Ngọc S1, bà Nguyễn Thị T2 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ đối với các khoản nợ theo hợp đồng tín dụng số 0202/2019/13231314/HĐTD ngày 11/11/2019 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Đ với hộ kinh doanh ông Nguyễn Ngọc S1. Cụ thể số nợ tính đến ngày 20/5/2024 là:
- + Số tiền nợ gốc: 740.000.000 đồng
- + Số tiền nợ lãi: 18.163.013 đồng
- + Số tiền lãi đối với nợ gốc quá hạn: 426.294.247 đồng
- + Số tiền lãi đối với nợ lãi quá hạn: 6.675.451 đồng.
- Tổng cộng: 1.191.132.711 đồng
Kể từ ngày 21/5/2024, ông Nguyễn Ngọc S1, bà Nguyễn Thị T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi trên số tiền nợ gốc, số tiền nợ lãi theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, tương ứng với thời gian chậm trả đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
Trường hợp ông Nguyễn Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị T2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý phát mại tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN540020, vào sổ cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CH000255 do UBND huyện Y cấp ngày 12/9/2013, chủ sở hữu là Hộ ông Nguyễn Ngọc S1 đối với thửa đất số 373, tờ bản đồ 23 có diện tích 125m² tại thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh và toàn bộ nhà ở và các công trình trên đất đang hiện hữu và các tài sản hình thành trong tương lai, các công trình được cải tạo, xây dựng thêm gắn liền với Quyền sử dụng đất nêu trên để thu hồi nợ
Nếu số tiền bán tài sản thế chấp không đủ để thanh toán khoản nợ thì ông Nguyễn Ngọc S1, bà Nguyễn Thị T2 phải thanh toán phần còn thiếu cho Ngân hàng. Nếu số tiền từ bán tài sản thế chấp lớn hơn giá trị khoản nợ phải thanh toán thì phần chênh lệch được trả hộ ông Nguyễn Ngọc S1. Trường hợp ông Nguyễn Ngọc S1, bà Nguyễn Thị T2 trả hết nợ thì Ngân hàng có trách nhiệm giải chấp toàn bộ tài sản thế chấp theo quy định.
2. Về án phí: Ngân hàng TMCP Đ không phải chịu án phí KDTM sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 22.126.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0000511 ngày 29/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Ông Nguyễn Ngọc S1, bà Nguyễn Thị T2 phải chịu 47.733.981 đồng tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Ông Nguyễn Ngọc S1 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Hoàn trả lại ông Nguyễn Ngọc S1 đã nộp số tiền 2.000.000 đồng theo biên lai thu số 0000844 ngày 10/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Ngọc S1, bà Nguyễn Thị T2 phải chịu 7.500.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Buộc trả ông Nguyễn Ngọc S1, bà Nguyễn Thị T2 phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 7.500.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Bình |
Bản án số 02/2024/KDTM-PT ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 02/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam; Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc Sáng
