Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/KDTM-PT

Ngày: 12/01/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình.

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Sơn; Bà Nguyễn Tuyết Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28/12/2023 và ngày 12/01/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 01/2023/TLPT- KDTM ngày 23/10/2023 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 08/2023/KDTM-ST ngày 02/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 01/2023/QĐ-PT ngày 06/11/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH E; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Bá M- chức vụ: Giám đốc (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Văn X, sinh năm 1979; Ông Trần Tuấn L, sinh năm 1999; Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1994; Bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 2001; Cùng địa chỉ: Số A, đường N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (đều vắng mặt)

- Bị đơn: Công ty TNHH X1; Địa chỉ cũ: Số A, lô F, đường H, khu A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Địa chỉ mới: 24, khu A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thế Đ - Chức vụ: Giám đốc (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Công Đ1, sinh năm 1992; Ông Nguyễn Công M1, sinh năm 1985; Cùng địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (đều vắng mặt).

Người kháng cáo: Công ty TNHH X1.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau: Phía nguyên đơn là Công ty TNHH E trình bày: Ngày 26/6/2019, Công ty TNHH E do ông Nguyễn Bá M - Chức vụ: Giám đốc công ty Đ2 và Công ty TNHH X1 do ông Nguyễn Thế Đ - Chức vụ: Giám đốc công ty Đ2 có thỏa thuận ký kết Hợp đồng kinh tế số: 521/2019/HĐKT/ENR- NK. Theo hợp đồng, Công ty TNHH E cung ứng bán cho Công ty TNHH X1 vật tư, thiết bị bể bơi để lắp đặt tại hạng mục Công trình bể bơi, sân vườn Trường liên cấp Trần Quốc T – thành phố B, công trình do UBND thành phố B làm chủ đầu tư và giao cho Ban QLDA thành phố B trực tiếp theo dõi, nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng (kèm theo hợp đồng là bảng kê chi tiết vật tư, thiết bị) với tổng giá trị hợp đồng bao gồm cả thuế VAT là: 926.948.000đ.

Về phương thức thanh toán và điều kiện giao hàng các bên thống nhất:

  1. Đợt 1: Bên A (tức Công ty TNHH X1) tạm ứng cho bên B (tức Công ty TNHH E) 100.000.000đ sau khi hợp đồng được ký kết.
  2. Đợt 2: Bên A thanh toán cho bên B 80 % giá trị hợp đồng còn lại, sau khi bên B vận chuyển vật tư, thiết bị tới chân công trình, nghiệm thu chất lượng đầu vào và cung cấp chứng từ CO, CQ, Pakinglist đối với thiết bị nhập khẩu.
  3. Đợt 3: Bên A thanh toán cho bên B 20% giá trị còn lại sau khi bên B chạy máy bàn giao hướng dẫn sử dụng trong vòng 30 ngày.

Về phạt vi phạm: Nếu bên nào vi phạm thì bị phạt 15% giá trị hợp đồng bị vi phạm.

Về giải quyết tranh chấp: Khi có tranh chấp xảy ra các bên thỏa thuận Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 03/7/2019 Công ty TNHH X1 chuyển khoản tạm ứng cho Công ty TNHH E 100.000.000đ, sau khi nhận tiền tạm ứng ngày 05/7/2019 Công ty TNHH E tiến hành bàn giao vật tư, thiết bị theo bảng kê chi tiết kèm theo hợp đồng cho bên mua là Công ty TNHH X1 tại chân công trình kèm theo các chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ hàng hóa như: Chứng nhận CO, CQ, Pakinglist đối với thiết bị nhập khẩu, sách hướng dẫn vận hành) khi bàn giao bên bán có lập biên bản nghiệm thu, bàn giao nhưng đại diện bên mua không ký.

Căn cứ phương thức thanh toán đã thỏa thuận, ngày 06/7/2019 Công ty TNHH E xuất hóa đơn GTGT đề nghị Công ty TNHH X1 thanh toán tiền hàng theo thỏa thuận, ngày 01/8/2019 Công ty TNHH X1 chuyển khoản thanh toán trả cho Công ty TNHH E 200.000.000đ sau đó thì không thanh toán trả thêm được bất cứ đồng nào. Thấy bên mua không thanh toán tiền hàng theo hợp đồng, Công ty TNHH E nhiều lần thông báo và yêu cầu Công ty TNHH X1 thanh toán trả tiền hàng theo hợp đồng song phía công ty TNHH X1 vẫn không thực hiện. Do bên mua không thanh toán trả tiền và còn viện ra nhiều lý do để chây ì thanh toán nên ngày 27/02/2023 Công ty TNHH E có đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh yêu cầu tòa án xem xét buộc Công ty TNHH X1 thanh toán trả số tiền hàng còn lại là: 626.948.000đ và buộc công ty TNHH X1 phải chịu phạt vi phạm hợp đồng tương ứng 15% giá trị hợp đồng bị vi phạm tương ứng số tiền là: 94.042.000đ.

Quá trình tố tụng thấy việc thỏa thuận phạt vi phạm với mức phạt là 15% giá trị hợp đồng là vượt quá quy định tại Điều 301 của Luật Thương mại, Công ty TNHH E thay đổi yêu cầu khởi kiện đề nghị Công ty TNHH X1 thanh toán trả số tiền hàng còn lại và đề nghị tòa án phạt vi phạm do vi phạm hợp đồng với mức phạt là 8% giá trị hợp đồng bị vi phạm.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông X, bà D đại diện cho Công ty TNHH E1 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc Công ty TNHH X1 thanh toán trả tổng số tiền là 677.103.840đ, trong đó nợ gốc tiền mua hàng còn lại là: 626.948.0000đ; Tiền phạt vi phạm hợp đồng theo qui định của pháp luật là: 626.948.000₫ x 8% = 50.155.840đ.

Phía bị đơn là Công ty TNHH X1 trình bày: Công ty TNHH X1 là đơn vi trúng thầu thi công xây dựng hạng mục bể bơi, sân vườn Trường liên cấp Trần Quốc T thành phố B, công trình do UBND thành phố B làm chủ đầu tư, giao cho BQLDA thành phố trực tiếp theo dõi, nghiệm thu công trình đưa công trình vào sử dụng. Để triển khai xây dựng hạng mục công trình bể bơi, sân vườn, ngày 26/6/2019 Công ty có ký hợp đồng mua của Công ty TNHH E1 vật tư, thiết bị bể bơi với giá trị của hợp đồng là: 926.948.000đ, quá trình thực hiện Công ty đã tuân thủ đúng thảo thuận của hợp đồng, thực hiện việc tạm ứng tiền hàng đúng thỏa thuận, lý do Công ty không ký biên bản nghiệm thu giao nhận hàng, chưa thanh toán trả dứt điểm tiền hàng vì Công ty E1 chưa tuân thủ đúng hợp đồng. Khi bàn giao hàng hóa, hàng hóa không có chứng nhận CO, CQ, thiếu List hàng nhập khẩu. Sau đó đại diện công ty và người bảo vệ quyền lợi cho công ty lại trình bày số tiền còn lại của hợp đồng là 626.948.000₫ đã được Công ty chuyển giao sang cho bên thế nghĩa vụ là anh em ông Nguyễn Công Đ1 và ông Nguyễn Công M1 trú tại: Thôn L, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh theo biên bản thỏa thuận và chốt nợ ngày 30/7/2021 giữa Công ty TNHH X1 với ông Nguyễn Công M1 và ông Nguyễn Công Đ1 ( Bản đối chiếu công nợ do ông M1 ký) với nội dung ông Đ1 cam kết đứng ra thanh toán trả cho Công ty TNHH E1 số tiền còn lại là 626.948.000đ. Việc Công ty TNHH E1 yêu cầu Công ty TNHH X1 thanh toán số tiền 626.948.000đ và yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng là không đúng, không phù hợp với tinh thần quy định tại Điều 370 của BLDS về chuyển giao nghĩa vụ “Kể từ thời điểm chuyển giao người thế nghĩa vụ thành người có nghĩa vụ”.

Tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện cho bị đơn, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị đơn giữ nguyên quan điểm đã trình bày, ngoài ra người đại diện cho bị đơn còn có ý kiến cho rằng: Tuy công trình bể bơi, sân vườn Trường phổ thông liên cấp Trần Quốc T đã được chủ đầu tư nghiệm thu đưa vào sử dụng và chủ đầu tư đã thanh toán đầy đủ cho bên thi công là công ty, song chỉ dựa vào biên bản nghiệm thu của chủ đầu tư và tài liệu do nguyên đơn cung cấp là giấy chứng nhận CO, CQ là chưa đủ cơ sở đẳng khẳng định vật tư, thiết bị của hạng mục công trình bể bơi, sân vườn Trường Trần Quốc T là do phía nguyên đơn cung cấp, trong khi giữa 2 bên không có biên bản nghiệm thu, bàn giao hàng hóa mua bán. Tòa án yêu cầu đại diện nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh và cho tòa án biết: Vật tư, thiết bị bể bơi, sân vườn T1 không phải do Công ty TNHH E cung cấp mà do tổ chức, cá nhân khác cung cấp thì đại diện Công ty TNHH X1 không chứng minh được.

Ông Nguyễn Bá M đại diện cho Công ty TNHH E1 khẳng định: Công ty không biết gì về việc thỏa thuận chuyển giao nghĩa vụ thanh toán công nợ từ Công ty TNHH X1 sang cho ông M1, ông Đ1, khi chuyển giao nghĩa vụ bên có nghĩa vụ là Công ty TNHH X1 cũng không thông báo gì với Công ty TNHH E1, công ty cũng không đồng ý với nội dung chuyển giao nghĩa vụ và đến nay ông M1, ông Đ1 cũng chưa thanh toán trả bất cứ đồng nào.

Để làm rõ việc giao nhận hàng hóa cũng như chất lượng nguồn gốc xuất xứ hàng hóa là vật tư, thiết bị tại hạng mục công trình bể bơi, sân vườn Trường phổ thông liên cấp Trần Quốc T - tp Bắc Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh có văn bản gửi Ban quản lý dự án thành phố B. Tại văn bản trả lời ngày 09/6/2023, Ban quản lý dự án cho biết: Công trường Trường phổ thông liên cấp Trần Quốc Toản thành phố B trong đó có hạng mục bể bơi, sân vườn đã được chủ đầu tư nghiệm thu đưa vào sử dụng vào ngày 14/02/2020. Các vật tư, thiết bị đều có chứng nhận CO, CQ và giấy chứng nhận CO, CQ đang do BQLDA thành phố Bắc Ninh lưu cùng biên bản nghiêm thu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Công M1 và ông Nguyễn Công Đ1 khẳng định việc tranh chấp giữa các bên không có liên quan gì đến quyền lợi hay trách nhiệm của các ông. Đối với nội dung biên bản chốt nợ ngày 30/7/2021 ông M1, ông Đ1 cho biết: Ông M1 là người ký biên bản chốt nợ ngày 30/7/2021 khi ký ông M1 không hề được ông Đ1 ủy quyền, do vậy biên bản chốt nợ không có giá trị pháp lý, các ông không đồng ý việc chuyển giao nghĩa vụ.

Với nội dung trên bản án sơ thẩm đã căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39. Điều 143, 144; 147. Điều 235, 264, 267. 271, 273 của BLTTDS; Điều 24, Điều 50, Điều 301 Luật Thương mại; Điều 274, 275, 278, 280, 351, 352, 353, 357 của BLDS, Nghị quyết số: 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi xuất, phạt vi phạm” Nghị quyết số: 326/NQ- UBTVQH ngày 27/02/2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH E. Buộc Công ty TNHH X1 phải thanh toán trả cho Công ty TNHH E tổng số tiền là: 677.103.840đ, trong đó nợ gốc tiền mua hàng còn lại là: 626.948.0000đ; Tiền phạt vi phạm hợp đồng là 626.948.000₫ x 8% = 50.155.840₫.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xử sơ thẩm, ngày 15/8/2023 Công ty TNHH X1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn, những người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và đề nghị giữ nguyên đơn khởi kiện; phí bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Trong phần tranh luận, phí nguyên đơn vắng mặt, phía bị đơn đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, bác một phần yêu cấu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn chỉ còn nợ hơn 100 triệu đồng, bị đơn cung cấp cho Tòa án phai ghi âm và nộp vi bằng làm căn cứ giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của Công ty TNHH X1 nộp trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.

  2. Về nội dung:

    Ngày 26/6/2019 Công ty TNHH E và Công ty TNHH X1 có thỏa thuận ký kết Hợp đồng kinh tế số: 521/2019/HĐKT/ENR-NK. Về nội dung của hợp đồng Công ty TNHH E cung ứng bán cho Công ty TNHH X1 vật tư, thiết bị, bể bơi để lắp đặt tại hạng mục Công trình bể bơi, sân vườn Trường liên cấp Trần Quốc T, thành phố B, công trình do UBND thành phố B làm chủ đầu tư và giao cho Ban QLDA thành phố B trực tiếp theo dõi, nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng với tổng giá trị hợp đồng bao gồm thuế VAT là 926.948.000 đồng. Hai bên thỏa thuận phương thức thanh toán được chia làm 03 đợt: Đợt 1 bên mua là công ty TNHH X1 phải tạm ứng cho bên bán là công ty TNHH E 100.000.000 đồng sau khi hai bên ký kết hợp đồng; Đợt 2 ngay sau khi bên bán vận chuyển vật tư, thiết bị tới chân công trình, nghiệm thu chất lượng đầu vào và cung cấp chứng từ CO, CQ, Parkinglist đối với thiết bị nhập khẩu thì bên mua sẽ thanh toán cho bên bán thêm 80% giá trị hợp đồng; Đợt 3 bên mua sẽ thanh toán nốt cho bên bán 20% giá trị còn lại sau khi bên bán chạy máy bàn giao hướng dẫn sử dụng trong vòng 30 ngày. Về phạt vi phạm nếu bên nào vi phạm thì bị phạt 15% giá trị hợp đồng bị vi phạm.

    Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 03/7/2019 Công ty TNHH X1 đã chuyển khoản tạm ứng cho Công ty TNHH E 100.000.000 đồng và ngày 05/7/2019 phía Công ty TNHH E cũng đã bàn giao vật tư, thiết bị theo bảng kê chi tiết kèm theo hợp đồng cùng các chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ hàng hóa như: chứng nhận CO, CQ, Parkinglist đối với thiết bị nhập khẩu, sách hướng dẫn cho Công ty TNHH X1. Tiếp đó đến ngày 06/7/2019 Công ty TNHH E2 đã xuất hóa đơn GTGT đề nghị Công ty TNHH X1 thanh toán theo đúng hợp đồng nhưng ngày 01/8/2019 Công ty TNHH X1 chỉ thanh toán 200.000.000 đồng cho Công ty TNHH E bằng hình thức chuyển khoản, sau đó không trả thêm khoản tiền nào.

    Mặc dù phía Công ty TNHH E đã nhiều lần thông báo và yêu cầu Công ty TNHH X1 thanh toán tiền hàng theo hợp đồng nhưng phía công ty TNHH X1 vẫn không thực hiện. Do đó Công ty TNHH E đã khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét buộc Công ty TNHH X1 thanh toán tổng số tiền là 677.103.840đ, trong đó nợ gốc tiền hàng còn lại là 626.948.000đ và tiền phạt vi phạm hợp đồng là 50.155.840đ.

    Bản án sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi bản án sơ thẩm xử, Công ty TNHH X1 kháng cáo toàn bộ bản án. Xét kháng cáo của Công ty TNHH X1.

    Thứ nhất, về việc ký kết hợp đồng giữa các bên: Hợp đồng kinh tế số 521/2019/HĐKT/ENR-NK giữa Công ty TNHH E và Công ty TNHH X1 được ký kết dựa trên nguyên tắc tự nguyện, chủ thể tham gia ký kết là những người có đủ năng lực hành vi dân sự, mục đích hợp đồng không trái pháp luật, đạo đức xã hội do đó hợp đồng có giá trị thực hiện với các bên và các bên có trách nhiệm thực hiện đúng các nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng.

    Thứ hai, về quá trình thực hiện hợp đồng: Cả nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận sau khi ký kết hợp đồng kinh tế số 521/2019/HĐKT/ENR-NK phía Công ty TNHH X1 đã chuyển khoản tạm ứng số tiền 100.000.000 đồng cho Công ty TNHH E vào ngày 03/7/2019, sau đó Công ty TNHH E đã bàn giao thiết bị vật tư cho Công ty TNHH X1 vào ngày 05/7/2019. Công ty TNHH E trình bày khi bàn giao thì bên bán có lập biên bản nghiệm thu, bàn giao nhưng đại diện của Công ty TNHH X1 không ký. Phía Công ty TNHH X1 cho rằng lý do mà công ty không ký biên bản nghiệm thu giao nhận hàng và chưa thanh toán trả dứt điểm tiền hàng vì Công ty TNHH E không tuân thủ đúng nội dung hợp đồng, khi bàn giao hàng hóa không có chứng nhận CO, CQ và thiếu List hàng nhập khẩu. Thế nhưng tại công văn trả lời của Bản quản lý dự án xây dựng thành phố B đã xác nhận : “Công trình sân vườn, bể bơi và các hạng mục phụ trợ trường liên cấp Trần Quốc T thành phố Bắc Ninh đã triển khai thi công hoàn thành theo đúng hồ sơ thiết kế được phê duyệt và đã được cơ quan chuyên môn về xây dựng chấp thuận công tác nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng tại Văn bản số 388/UBND-QLĐT ngày 07/02/2020, bàn giao đưa công trình vào sử dụng ngày 14/02/2020”. Kèm theo đó Ban quản lý dự án xây dựng thành phố B cũng cung cấp cho Tòa án biên bản nghiệm thu cùng các chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ CO, CQ của Công ty TNHH E. Ngoài ra phía Công ty TNHH X1 cho rằng công ty TNHH E không tuân thủ đúng theo nội dung hợp đồng nhưng sau khi Công ty TNHH E xuất hóa đơn GTGT, đến ngày 01/8/2019 Công ty TNHH X1 vẫn tiếp tục chuyển khoản thanh toán tiền hàng cho Công ty TNHH E số tiền là 200.000.000 đồng, sau đó không trả thêm khoản tiền nào khác. Như vậy tại thời điểm đó Công ty TNHH X1 không có bất cứ khiếu nại hay thắc mắc gì về vấn đề hàng hóa và vẫn thực hiện quá trình thanh toán tiền hàng cho Công ty TNHH E.

    Bên cạnh đó Công ty TNHH X1 trình bày cuối năm 2019 đầu năm 2020 đã chuyển tiền cho ông Nguyễn Công Đ1 50.000.000 đồng và ông Nguyễn Công M1 521.930.000 đồng để ông Đ1, ông M1 thay mặt Công ty TNHH X1 thanh toán tiền hàng cho Công ty TNHH E. Ông M1, ông Đ1 thừa nhận có nhận số tiền của Công ty TNHH X1 nhưng chưa thanh toán bất kỳ tiền hàng nào cho Công ty TNHH E. Bản thân ông M1, ông Đ1 cũng khẳng định hai ông không phải là nhân viên của Công ty TNHH X1. Căn cứ vào Điều 370 BLDS năm 2015 quy định: “Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ.” Trong trường hợp này tại lời trình bày của phía Công ty TNHH E khẳng định phía công ty không hề biết việc Công ty TNHH X1 chuyển giao nghĩa vụ thanh toán tiền hàng cho ông M1, ông Đ1 cũng như hai Công ty không có bất cứ thỏa thuận nào về việc để ông Nguyễn Công M1 và ông Nguyễn Công Đ1 đứng ra thanh toán nốt số tiền hàng còn lại cho Công ty TNHH E. Như vậy việc chuyển giao nghĩa vụ thanh toán của Công ty TNHH X1 cho ông Nguyễn Công Đ1, ông Nguyễn Công M1 không được phía Công ty TNHH E đồng ý do đó việc chuyển giao nghĩa vụ này không thể thực hiện được và Công ty TNHH X1 vẫn phải có trách nhiệm thanh toán tiền hàng cho Công ty TNHH E. Vì vậy việc chậm và không thanh toán tiền hàng theo hợp đồng của Công ty TNHH X1 là vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký kết giữa hai Công ty.

    Thứ ba, đối với yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng: Trong hợp đồng các bên có thống nhất “Nếu bên nào vi phạm thì bị phạt 15% giá trị hợp đồng. Tuy nhiên trong biên bản hòa giải, Công ty TNHH E đã thay đổi chỉ yêu cầu bị đơn phải trả tiền phạt tương ứng với 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng vi phạm là 50.155.840 đồng. Xét thấy tiền phạt vi phạm hợp đồng phù hợp với Điều 301 Luật Thương mại năm 2005: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.” Nên cấn chấp nhận.

    Từ những nhận định, phân tích nêu trên có thể thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn là Công ty TNHH X1 phải thanh toán cho Công ty TNHH E tổng số tiền là 677.103.840đ, trong đó nợ gốc tiền hàng còn lại là 626.948.000đ và tiền phạt vi phạm hợp đồng là 50.155.840đ là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

    Tại phiên tòa ngày 28/12/2023, phia bị đơn cung cấp file ghi âm cuộc nói chuyện giữa ông M, giám đốc Công ty TNHH E và ông Đ giám đốc Công ty TNHH X1 và đề nghị hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để ông Đ lập vi bằng cung cấp cho Tòa án làm căn cứ giải quyết vụ án, hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên tòa theo đề nghị của bị đơn, tuy nhiên, sau khi tiếp cận công khai vi bằng thấy nội dung không phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên không có căn cứ chấp nhận.

    Công ty X1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nhưng trong giai đoan chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới nên kháng cáo của Công ty TNHH X1 không có căn cứ chấp nhận nên cần bác toàn bộ kháng cáo của Công ty TNHH X1 và giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.

  3. Các quyết định khác của bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 08/2023/KDTM-ST ngày 02/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

  4. Về án phí: Công ty TNHH X1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; Xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH X1. Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 08/2023/KDTM-ST ngày 02/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh

  2. Các quyết định khác của bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 08/2023/KDTM-ST ngày 02/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

  3. Về án phí phúc thẩm: Công ty TNHH X1 phải chịu 2.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm nhưng được trừ số tiền 2.000.000 đồng đã tạm ứng theo Biên lai thu số AA/2022/0000281 ngày 18/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND thành phố Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS tp Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/KDTM-PT ngày 12/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 02/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/01/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Nguyên đơn: Công ty TNHH ENERGIE Việt Nam; Bị đơn: Công ty TNHH xây dựng thương mại Nam Kinh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger