Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUYÊN MỘC

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

Bản án số: 02/2024/HS-ST

Ngày: 05 - 01 - 2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bành Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Khanh

Bà Đoàn Thị Mến

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh T - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 119/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Hữu T1, sinh năm: 1969 tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T2 (chết) và bà Nguyễn Thị H (chết); vợ Bùi Thị Mai C, sinh năm: 1972 (đã ly hôn); có 02 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 2001.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 11/02/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, ngày 25/8/2023 chuyển tạm giam đến Nhà tạm giữ Công an huyện X (có mặt tại phiên tòa).

Tiền án: Ngày 08/8/2019 bị Toà án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh BR-VT xử phạt 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Theo bản án số 37/2019/HSST), chấp hành xong ngày 11/9/2022;

Tiền sự: Không;

Nhân thân: - Ngày 03/02/1997 bị Toà án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh BR-VT xử phạt 10 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (Theo bản án số 14/1997/HSST), đã đóng án phí, chấp hành xong hình phạt chính ngày 26/10/1997;

- Ngày 24/3/1998 bị Toà án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh BR-VT xử phạt 08 tháng tù giam về tội “Đánh bạc” (Theo bản án số 23/1998/HSST), đã chấp hành xong hình phạt chính, phần án phí; chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung;

- Ngày 25/12/2002 bị Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh BR-VT xử phạt 20 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Theo bản án số 52/2002/HSST), đã chấp hành xong phần án phí, chưa chấp hành xong phần dân sự. Chấp hành xong hình phạt chính ngày 21/4/2004.

- Ngày 07/06/2005 bị Toà án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh BR-VT xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 18 tháng tù về tội “Đánh bạc”, tổng hợp hình phạt là 54 tháng tù (Theo bản án số 12/2005/HSST). Đã nộp án phí, chấp hành xong hình phạt chính ngày 23/3/2009.

- Ngày 11/7/2023 bị Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh BR-VT xử phạt 02 năm 09 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Theo bản án số 92/2023/HS-ST). Sau khi Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ xét xử, bị cáo được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X trích xuất về Nhà tạm giữ Công an huyện X để phục vụ cho công tác điều tra trong vụ án.

Bị hại: Ông Huỳnh Hoàng Đ, sinh năm: 1976 (có mặt)

Bà Nguyễn Thị Trường A, sinh năm: 1983 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ F, ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Phan Thiện C1, sinh năm: 1981 (có mặt)
  • + Bà Nguyễn Thị Bé H1, sinh năm: 1984 (có mặt)
  • Địa chỉ: Tổ H, ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • + Ông Đỗ Lương K, sinh năm: 1969 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • + Bà Phạm Thị R, sinh năm: 1981 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • + Ông Phạm Hữu T3, sinh năm: 1976 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • + Bà Bùi Thị Như M, sinh năm: 1960 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai;
  • + Ông Trần Văn T4, sinh năm: 1969 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ ngày 03/01/2023 đến ngày 20/01/2023 Phạm Hữu T1 đã nhiều lần nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng cách đưa ra các thông tin gian dối để lừa bán các vườn tràm không phải thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trước khi thực hiện hành vi, T1 chạy xe mô tô đi đến khu vực có vườn tràm tại huyện X và huyện Đ nhớ vị trí các vườn tràm và chọn những khu vực cách xa nhà dân. Cụ thể như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 03/01/2023, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Wave (chưa rõ biển số) đến chợ xã X, huyện X gặp một người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch). T1 hỏi người đàn ông khu vực này có ai mua tràm không thì được người này dẫn đến nhà ông Huỳnh Hoàng Đ tại ấp N, xã X gặp bà Nguyễn Thị Trường A (vợ ông Đ), giới thiệu có người muốn mua tràm. Bà A điện thoại cho ông Đ về gặp T1 nói chuyện. Khi gặp ông Đế T5 nói dối tên “Ba Thông” có 01 vườn tràm ở cổng đỏ xã X, cần bán để lấy tiền chữa bệnh cho con. Ông Đ nói T5 dẫn đi xem thì T5 đồng ý điều khiển xe mô tô dẫn Đế đến vườn tràm ở ấp N, xã X nói tràm của mình. Sau khi xem, cả 02 ra quán cà phê để thỏa thuận giá. Ông Đ hỏi T5 bán giá bao nhiêu thì T5 trả lời 70.000.000 đồng nhưng ông Đ trả 50.000.000 đồng. Thấy vậy, T5 đồng ý và nói con đang bệnh xin thêm 3.000.000 đồng, ông Đ đồng ý. Đến khoảng 9 giờ ngày 04/01/2023, T5 chạy xe mô tô đến nhà gặp vợ chồng ông Đ, bà A lấy 53.000.000 đồng tiền mặt. Ông Đ chụp lại tấm hình T5 cầm tiền làm tin. Sau đó, T5 về nhà ở xã L, huyện Đ sử dụng tiền chiếm đoạt được tiêu xài cá nhân hết.

Thấy Đ dễ bị lừa nên cách 2 đến 3 ngày sau lần thứ nhất (cả T5 và Đ không nhớ rõ ngày). Khoảng 06 giờ 00 phút, T5 điện thoại cho ông Đ nói có đám tràm của con T5 nếu mua thì dẫn đi xem và hẹn gặp ở vòng xoay Trung tâm y tế huyện X, ông Đ đồng ý lấy xe máy chở ông Phan Thiện C1 (là người làm tràm chung) đến điểm hẹn gặp T5, cả ba người đến vườn tràm ở khu phố L, thị trấn P, huyện X. Tấn nói dối đất này của T5 cho con trồng tràm 7 - 8 năm nay, giờ con cho T5 bán tràm lấy tiền. Sau đó, T5 tiếp tục chỉ vào đám tràm khác gần đó nói của anh T5, nếu anh đồng ý bán sẽ nói cho Đ biết. Sau khi xem xong, ông Đ, ông C1 và T5 đến quán cà phê “Thanh Hương” thuộc ấp N, xã X, huyện X thoả thuận giá. Tại đây, ông Đ hỏi T5 bán giá bao nhiêu thì T5 trả lời 60.000.000 đồng, ông Đ, ông C1 không đồng ý và trả 45.000.000 đồng. Thấy vậy, T5 xin thêm 1.000.000 đồng thì ông Đ đồng ý. Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, T5 về nhà ông Đ lấy tiền thì gặp ông Đ, bà A, ông C1 và bà Nguyễn Thị Bé H1 (vợ C1), vợ chồng ông Đ đưa cho T5 46.000.000 đồng tiền mặt, T5 cầm tiền mang về sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Khoảng 8 giờ 00 phút ngày 15/01/2023, T5 tiếp tục nói dối với ông Đ còn một vườn tràm của bạn, hiện bạn đang bệnh đi lại khó khăn nên vợ bạn nhờ bán dùm và hẹn gặp ông Đ tại chợ L, xã L, huyện Đ đi xem. Ông Đ nghe vậy lấy xe mô tô chở ông C1 đến điểm hẹn, sau đó cả ba người cùng đến vườn tràm thuộc xã L, thị trấn Đ, huyện Đ xem. Ông Đ và ông C1 hỏi bán giá bao nhiêu thì T5 trả lời là 67.000.000 đồng, ông Đ và ông C1 đồng ý mua. Đến ngày 16/01/2023, T5 gọi cho ông Đ nói vợ của bạn đồng ý bán giá 67.000.000 đồng và nói Đ chuyển khoản vào tài khoản Ngân hàng A1 số 6002205536459 mang tên Phạm Thị R. Do chưa đủ tiền nên ông Đ chuyển vào tài khoản cho T5 10.000.000 đồng số còn lại hẹn trả sau thì T5 đồng ý. Đến ngày 17/01/2023, T5 gọi cho ông Đ nói bạn bị phỏng nước sôi nhập viện cần tiền viện phí nên Đ tiếp tục chuyển cho T5 30.000.000 đồng vào tài khoản tên Phạm Thị R. Đến ngày 19/01/2023, T5 gọi nói bạn chết rồi, vợ bạn nói Đ chuyển 10.000.000 đồng, số còn lại cho Đ. Ông Đ nghe vậy đồng ý chuyển cho T5 thêm 10.000.000 đồng vào tài khoản. Tổng số tiền T5 chiếm đoạt của ông Đ trong lần này là 50.000.000 đồng và sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Tiếp đó, ngày 20/01/2023, T5 gọi điện thoại hẹn gặp ông Đ ở vòng xoay Trung tâm y tế huyện X đi xem vườn tràm trước đó T5 nói dối của anh trai T5. Ông Đ đồng ý chở ông C1 đến điểm hẹn gặp T5 rồi cả ba người đến khu phố L, thị trấn P, huyện X xem tràm. Sau khi xem, T5 nói anh T5 bán giá 70.000.000 đồng nhưng ông Đ và C1 không đồng ý trả 60.000.000 đồng. Để ông Đ tin tưởng, T5 nói về hỏi lại anh rồi trả lời sau. Đến tối cùng ngày, T5 gọi cho ông Đ đồng ý bán giá 60.000.000 đồng và yêu cầu đặt cọc nhưng Đ chưa có tiền. Sợ ông Đ đổi ý, T5 nói Đ chuyển cọc trước 10.000.000 đồng, số tiền còn lại khi nào có ông Đ trả sau, ông Đ đồng ý. Đến ngày 23/01/2023, T5 gọi cho ông Đ nói anh T5 cần tiền ăn tết nên ông Đ đã chuyển cho T5 20.000.000 đồng vào tài khoản tên Phạm Thị R theo yêu cầu của T5. Đến ngày 25/01/2023, T5 tiếp tục nói ông Đ chuyển tiền cho anh T5 đi nhậu và gửi số tài khoản tên Phạm Hữu T3 cho ông Đ chuyển vào 10.000.000 đồng. Những lần sau đó, T5 tiếp tục yêu cầu ông Đ chuyển tiền vào số tài khoản Phạm Hữu T3 mỗi lần 10.000.000 đồng vào các ngày 27 và ngày 28/01/2023, còn lại 10.000.000 đồng T5 nói anh T5 cho Đ 5.000.000 đồng, cho T5 5.000.000 đồng là tiền công giới thiệu nên ông Đ không chuyển nữa. Đến ngày 29/01/2023, sợ ông Đ phát hiện T5 gọi nói “Đế ơi đừng cưa rừng của chú ba, con cưa rừng của con trước đi, khi nào chú ba xuất viện chú ba về chỉ ranh cho con cưa, để cưa lộn của người ta, đầu năm, đầu tháng”. Lúc này, ông Đ nghi ngờ mình bị lừa nên cưa thử đám tràm ở khu phố L, thị trấn P, huyện X thì ông Đỗ Lương K đến nói vườn tràm này của ông K. Đế gọi cho T5 nhưng không liên lạc được nên đến Công an xã X, huyện X trình báo sự việc.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Hữu T1 khai nhận hành vi của mình như trên. Ngoài ra cùng phương thức thủ đoạn lừa đảo như trên, T1 còn thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền 46.000.000 đồng tại xã C, thị xã P đã bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ tuyên xử 02 năm 9 tháng tù tại bản án số 92/2023-HS-ST ngày 11/7/2023.

Bản cáo trạng số 115/CT-VKSXM ngày 31/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố Phạm Hữu T1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm b, c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

  • + Bị cáo Phạm Hữu T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, bào chữa cho hành vi phạm tội chỉ thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
  • + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 tuyên bố bị cáo Phạm Hữu T1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với mức hình phạt từ 05 năm đến 07 năm tù.
  • + Về trách nhiệm dân sự:
  • Bị hại ông Huỳnh Hoàng Đ và bà Nguyễn Thị Trường A yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 126.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phan Thiện C1 và bà Nguyễn Thị Bé H1 yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 73.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường.

Sau khi bị T1 lừa bán tràm, ông Đ và ông C1 dùng cưa một số cây tràm tại khu phố L, thị trấn P, huyện X. Qua xác minh, vườn tràm là của ông Đỗ Lương K, ông K không yêu cầu ông Đ, ông C1 bồi thường nên không xem xét thêm.

  • + Vật chứng thu giữ và xử lý:
  • Số tiền Phạm Hữu T1 chiếm đoạt đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết nên không thu giữ được.
  • Đối với xe mô tô hiệu Wave màu đen (không rõ biển số) của T1 sử dụng làm phương tiện đi thực hiện hành vi phạm tội, T1 khai xe mô tô là của T1 sau khi phạm tội đã bán xe trên cho một người đàn ông không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Hữu T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản Cáo trạng đã truy tố và lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Trong thời gian từ ngày 03/01/2023 đến ngày 20/01/2023 Phạm Hữu T1 nhiều lần dùng thủ đoạn đưa ra các thông tin gian dối để để tạo lòng tin nhằm lừa bán các vườn tràm không phải thuộc quyền sở hữu của mình cho vợ chồng ông Huỳnh Hoàng Đ, bà Nguyễn Thị Trường A lấy tiền tiêu xài cá nhân, cụ thể như sau:

  • + Lần thứ nhất: Ngày 03/01/2023, Phạm Hữu T1 đến nhà ông Huỳnh Hoàng Đ tại ấp N, xã X, huyện X nói dối với ông Đ có vườn tràm ở cổng đỏ xã X cần bán để lấy tiền chữa bệnh cho con. Sau đó, T1 dẫn ông Đ đến 01 vườn tràm tại ấp N, xã X, huyện X lừa bán cho ông Đ số tiền 50.000.000 đồng và xin thêm 3.000.000 đồng. Ông Đ tin tưởng nên ngày 04/01/2023 đưa tiền mặt cho T1. Số tiền T1 chiếm đoạt được là 53.000.000đ (Năm mươi ba triệu đồng);
  • + Lần thứ hai: Cách lần thứ nhất 02 - 03 ngày (khoảng ngày 05- 06/01/2023), T1 dẫn ông Đ đến một vườn tràm tại khu phố L, thị trấn P, huyện X nói dối tràm của con cho T1 bán lấy tiền với giá 60.000.000 đồng, ông Đ trả 45.000.000 đồng. T1 đồng ý và xin thêm ông Đ 1.000.000 đồng, ông Đ đồng ý. Số tiền T1 chiếm đoạt được là 46.000.000đ (Bốn mươi sáu triệu đồng);
  • + Lần thứ ba: Ngày 15/01/2023, T1 dẫn ông Đ đến vườn tràm thuộc xã L, thị trấn Đ, huyện Đ và tiếp tục nói dối của bạn T1 nhờ bán dùm giá 67.000.000 đồng, Đ đồng ý mua. Sau đó, ông Đ 03 lần chuyển khoản cho T1 vào tài khoản Ngân hàng tên Phạm Thị R tổng cộng 50.000.000 đồng, còn lại 17.000.000 đồng T1 nói dối bạn cho ông Đ nên nói ông Đ không chuyển khoản nữa. Số tiền T1 chiếm đoạt được là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng);
  • + Lần thứ tư: Ngày 20/01/2023, T1 tiếp tục lừa bán cho ông Đ vườn tràm tại khu phố L, thị trấn P, huyện X số tiền 60.000.000 đồng. Ông Đ tin tưởng, 04 lần chuyển tiền cho T1 vào các số tài khoản tên Phạm Thị R và Phạm Hữu T3 với tổng số tiền 50.000.000 đồng, còn lại 10.000.000 đồng do sợ ông Đ phát hiện nên T1 nói dối cho ông Đ nên không chuyển khoản nữa. Số tiền T1 chiếm đoạt được là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

Tổng cộng Phạm Hữu T1 đã 04 lần chiếm đoạt của ông Huỳnh Hoàng Đ, bà Nguyễn Thị Trường A và ông Phan Thiện C1, bà Nguyễn Thị Bé H1 với tổng số tiền là 199.000.000đ (Một trăm chín mươi chín triệu đồng), T1 đã sử dụng tiền tiêu xài cá nhân hết.

Phạm Hữu T1 từng có nhiều tiền án về hành vi chiếm đoạt tài sản, nay tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác trên 05 lần. Qua xác minh, T1 không có nghề nghiệp, mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác làm nguồn sống chính cho bản thân nên thuộc trường hợp phạm tội “có tính chất chuyên nghiệp”.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phạm Hữu T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  • - Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có sức khỏe, có nhận thức đầy đủ, ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã 06 lần bị xét xử về các tội Trộm cắp tài sản, Đánh bạc, Lùa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà còn tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật, thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo đã đưa ra những thông tin gian dối để tạo lòng tin nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác để thỏa mãn mục đích tiêu xài cá nhân. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét xử lý bị cáo bằng hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm mục đích cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo, cho bị cáo có thời gian sửa chữa sai lầm, cải tạo thành công dân tốt có ích cho xã hội và đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T1 phạm tội 02 lần trở lên, có tiền án chưa được xoá án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên bị áp dụng tính tiết “tái phạm” là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo T1 thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Xét bị cáo T1 không có nghề nghiệp, không có điều kiện kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Hữu T1 đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại ông Huỳnh Hoàng Đ và bà Nguyễn Thị Trường A số tiền 126.000.000đ (Một trăm hai mươi sáu triệu đồng) và bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phan Thiện C1 và bà Nguyễn Thị Bé H1 số tiền 73.000.000₫ (Bảy mươi ba triệu đồng). Ông Đ, bà A và ông C1, bà H1 đồng ý ý kiến của bị cáo.

[6] Về vật chứng:

  • + Số tiền Phạm Hữu T1 chiếm đoạt đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết, Cơ quan điều tra không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không xem xét;
  • + Đối với xe mô tô hiệu Wave màu đen (không rõ biển số) của Phạm Hữu T1 sử dụng làm phương tiện đi thực hiện hành vi phạm tội, T1 khai xe mô tô là của T1 sau khi phạm tội đã bán xe trên cho một người đàn ông không rõ lai lịch, Cơ quan điều tra không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[7] Về nội dung khác:

Đối với ông Phạm Hữu T3 và bà Phạm Thị R cho bị cáo T1 mượn tài khoản đăng ký tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam huyện X và huyện Đ để chuyển tiền phạm tội. Qua điều tra, xác minh, ông T3, bà R không biết tiền là do T1 lừa đảo chiếm đoạt của người khác mà có nên không xem xét xử lý hình sự đối với bà R, ông T3.

[8] Về án phí HSST:

Bị cáo Phạm Hữu T1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm không có giá ngạch và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hữu T1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điển g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phạm Hữu T1 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, tổng hợp hình phạt với Bản án số 92/2023/HS-ST ngày 11/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là 02 (hai) năm 9 (chín) tháng tù.

Buộc bị cáo Phạm Hữu T1 phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/02/2023.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 589 Bộ luật dân sự năm 2015

Buộc bị cáo Phạm Hữu T1 bồi thường thiệt hại cho bị hại ông Huỳnh Hoàng Đ và bà Nguyễn Thị Trường A số tiền 126.000.000đ (Một trăm hai mươi sáu triệu đồng).

Buộc bị cáo Phạm Hữu T1 bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cho ông Phan Thiện C1 và bà Nguyễn Thị Bé H1 số tiền 73.000.000₫ (Bảy mươi ba triệu đồng).

  1. Về vật chứng: Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Phạm Hữu T1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và 9.950.000đ (Chín triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  1. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Sở tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - VKSND huyện Xuyên Mộc;
  • - Công an huyện Xuyên Mộc;
  • - Chi cục THADS huyện Xuyên Mộc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bành Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU về hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 02/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Hữu T đã 04 lần chiếm đoạt của ông Huỳnh Hoàng Đ, bà Nguyễn Thị Trường A và ông Phan Thiện C, bà Nguyễn Thị Bé H với tổng số tiền là 199.000.000đ (Một trăm chín mươi chín triệu đồng).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger