|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2024/HSST
Ngày: 04 - 01 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: | Ông Ngô Văn Dương |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Văn Được |
| Bà Nguyễn Thị Vinh | |
| Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Bùi Hoàng Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. | |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Chẩu Thị Ngọc - Kiểm sát viên. | |
Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 144/2023/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Minh T (tên gọi khác: M), sinh năm 1965, tại: Long An.
Nơi đăng ký thường trú: Ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1922 (đã chết) và bà Võ Thị Đ, sinh năm 1923 (đã chết); vợ tên Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963 (đã ly hôn) và có 03 người con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số:73/2022/HSST ngày 04/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình phước xử phạt bị cáo 04 năm tù, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, hiện đang chấp hành án tại Trại giam A - Bộ C từ ngày 02/5/2023 cho đến nay và có mặt tại phiên toà.
Bị hại:
1/ Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1983 (có mặt).
Địa chỉ: Khu phố X, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
2/ Ông Bùi Văn Q, sinh năm 1972 (có mặt).
Địa chỉ: Số A, Khu phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1975 (có mặt).
Địa chỉ: Số A, Khu phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
2/ Bà Lê Thị Hải Â, sinh năm 1960 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
3/ Bà Võ Thị Kim M1, sinh năm 1974 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
4/ Ông Đinh Văn T2, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong năm 2022, tại thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, Nguyễn Minh T 02 lần thực hiện hành vi phạm tội như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng tháng 3/2022, Nguyễn Minh T thuê phòng trọ số 6 tại Nhà nghỉ “Thành Huy” thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước để ở. Trong quá trình sinh sống tại đây, T quen biết bà Võ Thị Kim M1 (là người quản lý Nhà nghỉ). T giới thiệu với bà M1 là T làm nghề môi giới đất đai, sổ sách để kiếm sống.
Khoảng tháng 4/2022, bà M1 biết ông Huỳnh Văn N đang tìm người để nhờ liên hệ tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà nói với ông N đến gặp T để liên hệ. Sau đó, ông N gặp T nói chuyện về việc đang cần tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi nghe ông N nói vậy thì T nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông N, nhằm tạo niềm tin cho ông N thì T nói với ông N “Tôi có quen người làm ở Sở Tài Nguyên M huyện Đ” nếu nhờ sẽ liên hệ làm giúp cho thì ông N đồng ý. Ông N và T thỏa thuận, T làm thủ tục tách thửa đất số 19, tờ bản đồ 09, địa chỉ thửa đất: Ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước cho ông N với số tiền thỏa thuận là 53.000.000 đồng, thời hạn làm xong là ngày 18/7/2022. Ngày 26/4/2022, ông N đưa trước cho T số tiền 30.000.000 đồng, đến ngày 05/6/2022, ông N đưa tiếp cho T số tiền 13.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền từ ông N, T mang đi trả nợ và tiêu xài cá nhân hết, T không làm bất cứ việc gì theo thoả thuận với ông N. Ngày 14/9/2022, ông Huỳnh Văn N làm đơn tố cáo Nguyễn Minh T về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Lần thứ hai: Ngày 22/6/2022, ông Bùi Văn Q đến Nhà nghỉ “Thành Huy” thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước để thuê phòng nghỉ. Tại đây, trong quá trình nói chuyện thì ông Q nói cho bà Võ Thị Kim M1 (là người quản lý Nhà nghỉ) biết là đang tìm người để nhờ làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất nhưng chưa tìm được. Khi nghe ông Q nói vậy, bà M1 nói biết ông Nguyễn Minh T là người làm cò, chuyên làm đất, sổ đỏ và cũng đang ở tại Nhà nghỉ. Sau đó, bà M1 gọi T ra gặp ông Q nói với ông Q là “Anh muốn làm gì thì anh tự liên hệ với ông T” rồi bỏ đi vào trong. T nói với ông Q là “Có mối quan hệ thân thiết với Giám đốc Sở nên có khả năng làm chuyển đổi mục đích sử dụng đất được”. Ông Q và T thỏa thuận là T làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với 03 thửa đất tại huyện Đ với giá 60.000.000 đồng/thửa đất, 03 thửa là 180.000.000 đồng. Ngày 27/6/2022, tại Nhà nghỉ “Thành Huy” ông Q đã đưa cho T 03 giấy chứng quyền sử dụng đất gồm: Giấy CNQSDĐ số DE 874702 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 08/4/2022; giấy CNQSDĐ số DE 864872 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 22/4/2022 và giấy CNQSDĐ số DĐ 834951 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 10/3/2022 và thỏa thuận đến ngày 15/10/2022 sẽ chuyển đổi xong mục đích sử dụng đất. Cùng ngày, ông Q nói với bà Nguyễn Ngọc H (vợ ông Q) chuyển tiền vào số tài khoản 050069220761 mang tên Nguyễn Minh T tại Ngân hàng S số tiền là 40.000.000 đồng, đến ngày 02/8/2022 bà H chuyển khoản tiếp 35.000.000 đồng, ngày 22/8/2022 chuyển khoản tiếp 15.000.000 đồng và ngày 30/8/2022 chuyển khoản 45.000.000 đồng. Tổng số tiền bà H đã chuyển cho T 135.000.000 đồng, T rút tiền tiêu xài cá nhân và trả nợ hết.
Để có giấy chứng nhận quyền sử đất giao cho ông Q, T sử dụng điện thoại di động hiệu Oppo, số sim 0816075049 vào mạng xã hội “Zalo” kết bạn với tài khoản tên “Nguyễn Hữu T3” (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là người làm giả các loại giấy tờ, giấy giấy chứng nhận quyền sử đất. Sau khi kết bạn với T3, T chụp hình 03 giấy chứng nhận quyền sử đất của ông Q gửi qua cho tài khoản “Zalo” tên “Nguyễn Hữu T3” và yêu cầu làm giả con dấu và mọc tên ông Nguyễn Thìn B ở phần xác nhận của Cơ quan có thẩm quyền (trang số 03) của giấy CNQSDĐ đất thì tài khoản “Zalo” tên “Nguyễn Hữu T3” đồng ý làm với giá 1.800.000 đồng/01giấy giấy chứng nhận quyền sử đất thì T đồng ý. Sau đó, T đã gửi 03 giấy giấy chứng nhận quyền sử đất của ông Q cho T3. Sau khi làm xong, T3 gửi lại 03 giấy giấy chứng nhận quyền sử đất trên cho T thông qua dịch vụ giao hàng. Khi kiểm tra thấy đã làm theo đúng yêu cầu của mình nên T trả tiền cho T3 thông qua người giao hàng. Sau khi lấy lại giấy chứng nhận quyền sử đất thấy đã có mọc tên Nguyễn Thìn B và mọc con dấu nên để cho ông Q tin tưởng, T đã tự mình dùng bút viết thêm nội dung “Chuyển mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn 100m² đất trồng cây lâu năm của 03 giấy giấy chứng nhận quyền sử đất: 960m, 1127,1m và 1.094,3m. Thời hạn sử dụng đến 30/3/2071” và tự mình ký giả tên “B” vào trong con dấu tròn. Sau đó T gọi điện thoại cho ông Q nói “Muốn lấy sổ đất lên thổ cư sớm thì phải đưa thêm số tiền 21.000.000 đồng” thì ông Q đồng ý. Đến ngày 11/9/2022, T hẹn gặp ông Q tại quán cà phê không tên ở thị trấn T, huyện Đ. Tại đây, T đưa cho ông Q 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nói đã chuyển đổi mục đích sử dụng đất lên thổ cư xong ở trang số 03 của các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu ông Q đưa số tiền 21.000.000 đồng. Khi kiểm tra thì ông Q thấy ở trang số 03 của các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều đã được ghi chuyển đổi lên 100m thổ cư có đóng mộc đỏ của Sở Tài nguyên huyện Đ thì ông Q nghi ngờ và nói T để mang đi kiểm tra rồi mới trả hết số tiền còn lại, lúc này T sợ ông Q phát hiện làm giả nên đã bỏ đi.
Ngày 12/9/2022, ông Q đã mang 03 giấy giấy chứng nhận quyền sử đất trên đến Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai để nhờ kiểm tra thì phát hiện là giả.
Ngày 16/9/2022, ông Q đã làm đơn trình báo vụ việc đến Công an phường T, thành phố Đ.
Tại bản kết luận giám định số 89/KL(TL) –KTHS ngày 11/01/2023 của Phòng KTHS – Công an tỉnh B kết luận: Chữ ký đứng tên Nguyễn Thìn B dưới mục “Xác nhận của cơ quan có thẩm quyền” ở mặt trong trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1-A3 so với chữ ký đứng tên Nguyễn Thìn B trên tài liệu mẫu ký hiệu M1- M10 không phải do cùng một người ký ra.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật tài liệu và xử lý vật chứng: Giấy CNQSDĐ số DE 874702 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 08/4/2022; Giấy CNQSDĐ số DE 864872 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 22/4/2022; Giấy CNQSDĐ số DĐ 834954 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 10/3/2022.
Trách nhiệm dân sự: Ông Huỳnh Văn N yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 43.000.000 đồng, ông Bùi Văn Q yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 135.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 165/Ctr -VKS ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Minh T, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 38 và 50 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức án từ 07 đến 08 năm tù.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38 và 50 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức án từ 02 đến 03 năm tù.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội từ 09 đến 11 năm tù.
Căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2022/HSST ngày 04/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình phước xử phạt bị cáo 04 năm tù, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án.
Ngoài ra, còn đề nghị xử lý trách nhiệm dân sự, vật chứng vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân và trả nợ, khoảng tháng 4 năm 2022, tại phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, Nguyễn Minh T đã dùng thủ đoạn gian dối là hứa tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Bùi Văn N1 rồi chiếm đoạt số tiền 43.000.000 đồng; đến tháng 6/2022, tại phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, Nguyễn Minh T tiếp tục dùng thủ đoạn gian dối là có khả năng chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với 03 thửa đất của ông Bùi Văn Q để chiếm đoạt của ông Bùi Văn Q tổng số tiền 135.000.000 đồng.
Nhằm che dấu cho hành vi gian dối của mình với ông Q, Nguyễn Minh T thuê một người đàn ông có tài khoản mạng xã hội Zalo: “Nguyễn Hữu T3” nhờ làm giả con dấu và mọc tên của ông Nguyễn Thìn B ở phần xác nhận của cơ quan có thẩm quyền (trang số 3) giấy CNQSDĐ đất đối với 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Q. Sau khi nhận được 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ Nguyễn Hữu T3, T dùng bút viết thêm nội dung “Chuyển mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn 100m² đất trồng cây lâu năm của 03 giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 960m, 1127,1m và 1.094,3m; thời hạn sử dụng đến 30/3/2071” và tự mình ký giả tên “B” vào trong con dấu tròn. Hành vi trên của bị cáo đã phạm vào các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án, xâm phạm trực tiếp đến việc quản lý Nhà nước về con dấu, tài liệu và xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm, sử dụng con dấu, tài liệu giả nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm trị thích đáng, nhưng với mong muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không phải lao động nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần xử mức án nghiêm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong thời gian ngắn bị cáo 02 lần thực hiện hành vi phạm tội (chiếm đoạt tài sản của ông N1 và của ông Q), nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo có trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật hạn chế, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Cần áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2022/HSST ngày 04/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình phước. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án ông Huỳnh Văn N yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 43.000.000 đồng; ông Bùi Văn Q yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 135.000.000 đồng. Tại phiên toà, bị cáo cũng đồng ý bồi thường lại số tiền trên cho các bị hại. Xét thấy, đây là sự thoả thuận của các bên, phù hợp pháp luật nên cần ghi nhận.
[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu (lưu theo hồ sơ vụ án) 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gồm: Giấy CNQSDĐ số phát hành DE 874702, thửa số 412, tờ bản đồ số 4, địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, diện tích 1.149,3 m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 08/4/2022; Giấy CNQSDĐ số phát hành DE 864872, thửa số 413, tờ bản đồ số 4, địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, diện tích 1.127,1 m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 22/4/2022; và Giấy CNQSDĐ số phát hành DĐ 834951, thửa số 577, tờ bản đồ số 27, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, diện tích 1.060,6 m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 10/3/2022. Do 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên có nội dung chỉnh lý biến động tại trang 03 là giả nên không còn giá trị pháp lý, không còn giá trị sử dụng và không được phép lưu hành.
Ông Bùi Văn Q và bà Nguyễn Ngọc H được quyền liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục cấp, đổi lại giấy 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên theo quy định của pháp luật.
Cần kiến nghị Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp, đổi lại 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Bùi Văn Q và bà Nguyễn Ngọc H theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông làm giả con dấu và mọc tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Nguyễn Minh T có tài khoản zalo Nguyễn Hữu T3 chưa rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh khi có kết quả xử lý sau là phù hợp.
Đối với bà Võ Thị Kim M1 là người giới thiệu ông Huỳnh Văn N và ông Bùi Văn Q cho Nguyễn Minh T để tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nhưng bà M1 không biết việc T lừa các bị hại nên không đặt vấn đề xử lý là phù hợp.
[7] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng pháp luật, mức hình phạt, xử lý trách nhiệm dân sự, vật chứng vụ án là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.
Án phí hình sự, dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T (tên gọi khác: M1) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 38 và 50 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 07 năm tù (Bảy năm tù).
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38 và 50 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 02 năm tù (Hai năm tù).
- Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là: 09 năm tù (Chín năm tù).
- Căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2022/HSST ngày 04/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình phước xử phạt bị cáo 04 năm tù, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án là 13 năm tù (M1 ba năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2023.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc bị cáo Nguyễn Minh T hoàn trả cho ông Huỳnh Văn N số tiền 43.000.000 đồng (Bốn mươi ba triệu đồng)
- Buộc bị cáo Nguyễn Minh T hoàn trả cho ông Bùi Văn Q số tiền 135.000.000 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng).
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Về vật chứng vụ án:
- Tịch thu (lưu theo hồ sơ vụ án) 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gồm: Giấy CNQSDĐ số phát hành DE 874702, thửa số 412, tờ bản đồ số 4, địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, diện tích 1.149,3 m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 08/4/2022; Giấy CNQSDĐ số phát hành DE 864872, thửa số 413, tờ bản đồ số 4, địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, diện tích 1.127,1 m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 22/4/2022; và Giấy CNQSDĐ số phát hành DĐ 834951, thửa số 577, tờ bản đồ số 27, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, diện tích 1.060,6 m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 10/3/2022.
- Ông Bùi Văn Q và bà Nguyễn Ngọc H được quyền liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp, đổi lại 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới theo quy định của pháp luật.
- Kiến nghị Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp, đổi lại 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Bùi Văn Q và bà Nguyễn Ngọc H.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 20/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
- Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 9.750.000 đồng (Chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Minh T; bị hại ông Huỳnh Văn N, Bùi Văn Q; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Những Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Ngô Văn Dương |
Bản án số 02/2024/HSST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự sơ thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 02/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
