Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HSST

Ngày: 09/01/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Xuân Hà.

Các Hội thẩm dân nhân:

  1. Ông Nghiêm Đình Chế .
  2. Ông Nguyễn Thế Long.

Thư ký phiên toà: Bà Trần Việt Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09/01/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 213/2023/TLST-HS ngày 01/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 207/2023/QĐ-TA ngày 14/12/2023 đối với bị cáo:

Bạc Văn T, sinh năm 2001; Trú tại: Bản B, xã T, huyện P, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Bạc Văn C, sinh năm 1964; con bà Lò Thị N, sinh năm 1970; Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ, con: chưa có.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1970.

Trú tại: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Bạc Văn T: Ông Vũ Văn X1, sinh năm 1979 – Luật sư thuộc Công ty L1, Đoàn Luật sư tỉnh B.

Địa chỉ: Số A, đường N, Khu C, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1984; Trú tại: Thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bạc Văn T sinh năm 2001, Hộ khẩu thường trú: Bản Bùa Hạ, xã T, huyện P, tỉnh Sơn La là đối tượng không có công ăn việc làm ổn định. T ở cùng phòng trọ với anh Đinh Văn N1 sinh năm 2001, HKTT: Bản N, xã T, huyện P, tỉnh Sơn La tại thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng 12 giờ 00 ngày 06/9/2023, do không có tiền tiêu sài cá nhân nên T nảy sinh ý định đi cướp tài sản. T mang theo 01 con dao, dạng dao gọt hoa quả, chuôi bằng gỗ màu xám, lưỡi bằng kim loại (kích thước dài khoảng 25 cm, chuôi bằng gỗ dài khoảng 05cm, phần lưỡi bằng kim loại rộng khoảng 02 cm, dài 20 cm, phần đầu lưỡi nhọn, cong) dao dùng để sinh hoạt hàng ngày. T cất giấu con dao này ở bên trong cạp quần và đi bộ từ thôn Ấ, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh ra khu vực vòng xuyến Khu công nghiệp Y tìm đối tượng cướp tài sản. Khi T đi đến cổng Công ty O tại Khu công nghiệp Y gặp chị Nguyễn Thị X sinh năm 1970, HKTT: Thôn L, xã T, huyện Y điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát (BKS): 99D1-12776 là người lái xe ôm. Chị X hỏi T, “Đi xe ôm không cô chở”. Lúc này, T nảy sinh ý định cướp xe mô tô của chị X nên T trả lời “có”. Sau đó, T ngồi lên sau xe mô tô của chị X và bảo chị X chở T lên trại dê thôn Đ, xã Đ, huyện Y. Khi chị X chở T đến đê thôn Đ, thì T tiếp tục bảo chị X chở T đến đoạn đường đê thuộc thôn C, xã L, huyện Y chị X đồng ý. Khi chị X chở T đến đoạn đường đê này, T quan sát thấy đoạn đường này vắng người nên T bảo chị X dừng xe lại, chị X đồng ý. Khi chị X dừng xe lại, T rút dao từ trong cạp quần ra, cầm bằng tay trái vòng về phía trước kề phần lưỡi dao vào cổ chị X, T hô “Xuống xe”. Do sợ hãi nên chị X dừng xe lại và xuống xe. T tiếp tục kề dao vào cổ chị X và kéo chị X ra bãi cỏ rìa sông bên trái, cách xe mô tô của chị X khoảng 02 mét. Do sợ T cứa dao vào cổ nên chị X phải dùng tay phải cầm vào lưỡi dao T đang kề ở cổ chị X thì bị T cứa phần lưỡi dao vào bàn tay chị X khiến chị X bị thương tích ở bàn tay phải, đồng thời T đẩy chị X khiến chị X ngã ra bãi cỏ rìa đường. Sau khi cướp được xe của chị X, T vứt con dao trên tại đường thuộc cánh đồng thôn P, Đ, Y. Sau đó, T lên xe mô tô của chị X phóng đi. Sau khi cướp được chiếc xe mô tô của chị X, T điều khiển xe về phòng trọ của chị Bạc Thị D sinh năm 2000, cùng HKTT với T (là chị gái của T), hiện đang trọ tại nhà anh Đinh Văn H1 sinh năm 1982 ở thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Tại phòng trọ của chị D, T nấu mỳ tôm ăn rồi T đi ra khu vực cánh đồng thôn L, Tri P mở cốp xe mô tô BKS 99D1-127.76 của chị X ra. T phát hiện bên trong cốp xe có 01 ví

bằng da màu đỏ và 01 ví bằng vải dạng thổ cẩm màu đỏ xanh. Lúc này, T kiểm tra 02 chiếc ví phát hiện có nhiều giấy tờ gồm: 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS 99D1-127.76; 01 giấy phép lái xe mô tô; 01 căn cước công dân, thẻ ngân hàng của chị Nguyễn Thị X và 2.700.000 đồng. T lấy 2.700.000 đồng; Giấy đăng ký xe mô tô BKS 99D1-127.76; 01 Giấy đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Cupthai, Bks: 20AF-001.22, còn 02 ví và những giấy tờ khác T vứt ở đường thuộc cánh đồng thôn L, xã T. Cùng ngày 06/9/2023, anh Đào Tiến Quang sinh năm 1977, HKTT: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh đã nhặt được toàn bộ số vật chứng trên sau đó giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Sau đó, T điều khiển xe mô tô cướp được của chị X về xã Y, huyện Y rồi T mang chiếc xe mô tô này đến cửa hàng C1 ở thôn Y, xã Y, huyện Y và bán xe mô tô được cho anh Nguyễn Văn H sinh năm 1984, HKTT: Thôn Y, xã Y, huyện Y được 3.300.000 đồng. Sau khi bán xe mô tô cướp được của chị X xong, T đi đến huyện Q, tỉnh Bắc Ninh chơi và chi tiêu cá nhân hết.

Đến khoảng 07 giờ 00 ngày 07/09/2023, T đi từ huyện Q về ở phòng trọ của anh N1. Đến khoảng 17 giờ 00 cùng ngày, T một mình đi đến thôn N, xã L, huyện Y tìm mua ma túy Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Khi T đi đến đoạn đường gần chợ thôn N, xã L, T gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi mua của người đàn ông này 600.000 đồng tiền ma túy Heroine. Sau đó, người đàn ông này đưa cho T 01 túi nilon bên trong có 06 gói giấy bạc màu vàng đều chứa chất bột màu trắng. T cầm gói ma túy trên và cất giấu vào bên trong túi quần phía sau bên phải của T để sử dụng. Đến khoảng 21 giờ 00 cùng ngày, tại trị trấn C, huyện Y, T bị lực lượng Công an huyện Y kiểm tra, phát hiện thu giữ, niêm phong 06 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng và 675.000 đồng và đưa T về trụ sở Công an làm việc. Cùng ngày 07/9/2023, Cơ quan CSĐT ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Bạc Văn T. Toàn bộ số tiền T bán xe và chiếm đoạt của chị X, T đã chi tiêu cá nhân còn lại 675.000 đồng.

Chị X bị T gây thương tích chiều ngày 06/9/2023, được gia đình đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu và điều trị từ ngày 06/9/2023 đến ngày 11/9/2023 thì ra viện. Cùng ngày chị X gửi đơn trình báo về việc bị T gây thương tích, cướp xe và tài sản như đã nêu trên. Ngoài ra chị X khai trong ví đỏ chị có để 01 nhẫn vàng ý trọng lượng hai chỉ có giá trị 5.620.000 đồng.

* Vật chứng thu giữ: Tại túi quần phía sau bên phải của T 01 túi nilon bên trong túi nilon có 06 gói giấy bạc màu vàng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng và số tiền 675.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu trắng có số IMEI: 357625/08/588604/5, IMEI: 357651/08/588604/1.

Ngày 07/9/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bạc Văn T tại thôn Y, xã Y, huyện Y thu giữ: 01 quần bò dài màu đen, đai quần màu nâu, trên mặt đai có số 1964; 01 áo cộc tay không cổ màu đen, xanh, mặt trước của áo có họa tiết hình số 3 màu trắng; 01 đôi giày màu đen trắng, ở phần viền đế có dòng chữ vip.

Cùng ngày 07/9/2023, Cơ quan điều tra tiến hành tiến hành thu giữ tại nhà anh Đinh Văn H1: 03 đoạn Camera lưu trữ thời gian sau khi T đến phòng trọ của chị D.

Ngày 06/9/2023, anh Đào Tiến Quang sinh năm 1977, HKTT: Thôn L, Tri P, T, Bắc Ninh giao nộp: 01 ví bằng da màu đỏ (không có nhãn hiệu); 01 ví bằng vải dạng thổ cẩm (không có nhãn hiệu); 01 Giấy đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Cupthai, Bks: 20AF-001.22; 01 Căn cước công dân; 01 Giấy phép lái xe và 01 thẻ ngân hàng V1 đều mang tên Nguyễn Thị X.

Ngày 07/9/2023, anh Nguyễn Văn H tự nguyện giao nộp: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ, đen, xám, BKS: 99D1-127.76; 01 giấy đăng ký của xe mô tô và 01 giấy mua bán xe mô tô với T.

* Kết quả trưng cầu định giá và giám định:

Tại bản kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐĐGTS ngày 18/09/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Y, kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ, đen, xám, BKS: 99D1-127.76 trị giá 8.000.000 đồng; 01 ví bằng da màu đỏ (không có nhãn hiệu) trị giá 0 đồng; 01 ví bằng vải dạng thổ cẩm màu đỏ xanh (không có nhãn hiệu) trị giá 0 đồng; 01 nhẫn bằng vàng ý trọng lượng 2 chỉ trị giá 5.620.000 đồng. Tổng giá trị tại thời điểm xảy ra sự việc là 13.620.000 đồng.

- Tại bản kết luận giám định số 1857/KL-KTHS ngày 08/09/2023, của Phòng K Công an tỉnh B kết luật:

“Chất bột màu trắng bên trong 06 gói giấy bạc màu vàng có khối lượng là 0,2344 gam; Là ma túy, Loại ma túy: Heroine (H2), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính Phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.”.

* Về thương tích: Tại giấy chứng nhận thương tích số 279 ngày 11/10/2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B xác nhận thương tích của chị Nguyễn Thị X như sau:

“01 vết thương mặt gan đốt 3 ngón II bàn tay phải kích thước 0,1 x 0,5 x 0,5 cm bờ sắc gọn đứt gân gấp sâu ngón II cách điểm bám gân 0,3 cm; 01 vết thương mặt gan đốt 2 ngón III bàn tay phải kích thước 1,5 x 0,5 x 0,5 cm bờ sắc gọn đứt gân gấp nông, sâu ngón III (vị trí gân đứt vùng cấm; 01 vết thương mặt gan đốt 2 ngón IV bàn tay phải kích thước 1,5 x 0,5 x 0,5 cm bờ sắc gọn đứt gân gấp nông, sâu vùng cấm; 01 vết thương mặt gan đốt 3 ngón V bàn tay phải kích thước 01 x 0,5 x 0,5 cm bờ sắc gọn rách da”.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 138/KLTTCT-TTPY ngày 06/11/2023 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh B, kết luận:

“Thương tích mặt gan đốt 3 ngòn II bàn tay phải kích thước 2,5cm x 0,5cm, bờ mép gọn đứt gân gấp sâu ngón II đã khâu nối, liền sẹo tốt. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mền. Mục I.1 sẹo nhỏ = 1%; Thương tích mặt gan đốt 1,2,3 ngón III bàn tay phải kích thước 5cm x 0,2cm (trong đó có đoạn 2cm sát liền đốt 2,3 đoạn phẫu thuật nối gân) bờ mép gọn, liền sẹo tốt. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mền. Mục I.1 sẹo nhỏ = 1%; Thương tích mặt gan đốt 2,3 ngón IV bàn tay phải kích thước 2,6cm x 0,5cm bờ mép gọn, đứt gân gấp nông sâu vùng cấm, đã khâu nối, liền sẹo tốt. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mền. Mục I.1 sẹo nhỏ = 1%; Thương tích mặt gan đốt 3 ngón V bàn tay phải kích thước 3,5cm x 0,1cm bờ mép gọn, liền sẹo tốt. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mền. Mục I.1 sẹo nhỏ = 1%; Đứt gân gấp sâu ngón II cách điểm bán gân 0,3cm đã phẫu thuật. hiện tại hạn chế vận động gấp duỗi đốt 3 ngón II tay phải (gấp 30°, duỗi 170°). Áp dụng chương 7 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương cơ-xương-khớp. Mục VI.5.2.2=4%; Đứt gân nông, sâu ngón III đã phẫu thuật. Hiện tại hạn chế vận động gấp duỗi đốt 2-3 ngón III tay phải (gấp 20°, duỗi 150°). Áp dụng chương 7 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương cơ-xương-khớp. Mục VI.5.2.2=2%; Đứt gân nông, sâu ngón IV đã phẫu thuật. Hiện tại hạn chế vận động gấp duỗi đốt 2-3 ngón IV tay phải (gấp 30°, duỗi 150°). Áp dụng chương 7 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương cơ-xương-khớp. Mục VI.5.2.2=2%.

- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị X tại thời điểm giám định là: 11% (Mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Kết luận khác: Cơ chế do tác động ngoại lực bởi vật sắc.

* Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định các tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị X. Ngày 26/9/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ, đen, xám, BKS: 99D1-127.76; 01 ví bằng da màu đỏ (không có nhãn hiệu); 01 ví bằng vải dạng thổ cẩm (không có nhãn hiệu); 01 Giấy đăng ký xe Honda Wave RSX, màu đỏ, đen, xám, BKS: 99D1-127.76; 01 Giấy đăng ký xe máy nhãn hiệu Cupthai, BkS: 20AF-001.22; 01 Căn cước công

dân; 01 Giấy phép lái xe và 01 thẻ ngân hàng V1 đều mang tên Nguyễn Thị X cho bà Nguyễn Thị X.

* Về trách nhiệm dân sự:

Anh Nguyễn Văn H yêu cầu Bạc Văn T bồi thường cho anh H 3.300.000 đồng đến nay Trường chưa bồi thường.

Chị Nguyễn Thị X yêu cầu Bạc Văn T bồi thường cho chị X 50.000.000 đồng đến nay T chưa bồi thường cho chị X.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Bạc Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.

Với hành vi trên tại bản Cáo trạng số 219/CT-VKSYP ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo: Bạc Văn T về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bạc Văn T khai nhận: Nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, bị cáo có thực hiện những hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Bị cáo T thừa nhận: Khoảng 12 giờ ngày 06/9/2023, tại đoạn đường đê thuộc thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Bị cáo dùng tay phải cầm 01 con dao chuôi bằng gỗ màu xám, lưỡi bằng kim loại kề vào cổ chị Nguyễn Thị X, chị X dùng tay phải cầm vào phần lưỡi dao, đẩy dao ra nên đã bị thương tích. Sau đó, bị cáo chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ, đen, xám, BKS: 99D1-127.76 trị giá 8.000.000 đồng và số tiền 2.700.000 đồng của chị X. Tổng trị giá là tài sản chiếm đoạt là 10.700.000 đồng. Sau đó bị cáo biết chị X bị thương tích tổn hại 11% sức khỏe. Sau khi chiếm đoạt được xe, bị cáo đã mang đi bán cho anh H được 3.300.000 đồng. Toàn bộ số tiền bán xe được, bị cáo sử dụng mua ma túy hết 600.000 đồng và chi tiêu cá nhân, còn lại 675.000 đồng. Đến 21 giờ ngày 07/9/2023, tại thị trấn C, huyện Y, T bị Công an huyện Y bắt giữ có hành vi tàng trữ 06 gói Heroine khối lượng 0,2344 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo đồng ý với yêu cầu bồi thường của chị X tại phiên tòa và của anh H tại đơn xin xét xử vắng mặt mà HĐXX công bố.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị hại là chị Nguyễn Thị X trình bày: Sự việc xảy ra như quá trình điều tra và bản Cáo trạng thể hiện như vậy là đúng. Bị cáo khai tại phiên tòa như vậy là đúng, từ khi xảy ra sự việc đến nay bị cáo T chưa bồi thường cho tôi đồng nào.

Đến nay chị đề nghị HĐXX giải quyết buộc bị cáo T phải bồi thường cho tôi các khoản như sau: Số tiền 2.700.000đ bị T cướp nay chưa thu hồi được; tiền sửa xe mô tô Honda Wave RSX, màu đỏ, đen, xám, BKS: 99D1-127.76 sau khi bị cướp; tiền mất thu nhập trong 06 ngày nằm viện; tiền mất thu nhập sau khi nằm viện; tiền mất thu nhập của người chăm nuôi trong 06 ngày; tiền viện phí có hóa đơn; tiền thuốc điều trị; tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe; tiền tổn thất tinh thần tổng cộng là 55.660.000đ. Về trách nhiệm hình sự chị đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H trình bày:

Ngày 07/09/2023, anh có nhận mua của Bạc Văn T, sinh năm 2001; Trú tại: Bản B, xã T, huyện P, tỉnh Sơn La 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 99D1-12776 với giá 3.300.000đ. Lúc mua tài sản, T không nói cho anh biết tài sản là do phạm tội mà có, bản thân anh cũng không biết tài sản này do T phạm tội mà có. Sau khi biết là tài sản này do T1 cướp được của chị Nguyễn Thị X thì anh đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan Công an huyện Y để trả cho chị X. Nay đối với số tiền bỏ ra mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 99D1-12776 này là 3.300.000đ. Anh yêu cầu bị cáo T phải bồi thường, trả lại cho anh số tiền này.

Đại diện VKSND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố theo bản Cáo trạng số 219/CT-VKS ngày 30/11/2023. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bạc Văn T phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 168; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bạc Văn T:

  • + Từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”.
  • + Từ 18 tháng tù đến 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo T phải chịu hình từ 10 năm tù đến 10 năm 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2023. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo T.

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589 và 590 Bộ luật dân sự:

  • - Buộc bị cáo Bạc Văn T phải bồi thường trả cho chị Nguyễn Thị X tổng số tiền là: 55.660.000₫ - 675.000₫ = 54.985.000₫.
  • - Buộc bị cáo T phải bồi thường trả cho anh Nguyễn Văn H số tiền đã bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 99D1-12776 cho anh hưng là 3.300.000₫.

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Trả lại cho bị cáo Bạc Văn t 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu trắng có số IMEI: 357625/08/588604/5, IMEI: 357651/08/588604/1 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho chị Nguyễn Thị X số tiền 675.000₫ (Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành nộp bảo quản tại Kho bạc Nhà nước huyện Y ngày 09/11/2023).

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 quần bò dài màu đen, đai quần mầu nâu, trên mặt đai có số 1964;
  • + 01 áo cộc tay không cổ màu đen, xanh, mặt trước của áo có họa tiết hình số 3 màu trắng.
  • + 01 đôi giày màu đen trắng, ở phần viền đế có dòng chữ V.
  • + 01 phong bì thư niêm phong dán kín, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 1857/KL-KTHS ngày 08/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh B.

Lưu trong hồ sơ 01 đĩa CD hỏi cung bị can và 01 đĩa video dữ liệu thu tại nhà trọ của Bạc Văn T.

- Tại phiên tòa hôm nay, người bào chữa cho bị cáo Bạc Văn T trình bày: Qua nghiên cứu hồ sơ, dựa trên kết quả thẩm tra công khai tại phiên tòa ông đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, trách nhiệm dân sự, vật chứng và các vấn đề khác. Riêng về mức hình phạt ông cho rằng mức đề nghị như vậy của đại diện Viện kiểm sát là cao.

- Bị hại là chị Nguyễn Thị X không có ý kiến gì tranh luận.

- Đại diện Viện kiểm sát đối đáp, phân tích, căn cứ vào động cơ, mục đích, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo T rây ra cho chị X và vẫn giữ nguyên mức đề nghị hình phạt đối với bị cáo T2.

- Sau khi nghe đối đáp của đại diện Viện kiểm sát, ông Vũ Văn X1 không có ý kiến gì thêm.

- Bị cáo T không có ý kiến gì tranh luận và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan

tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản nhận dạng, biên bản dẫn giải, tang vật thu hồi được và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 12 giờ ngày 06/9/2023, đoạn đường đê thuộc thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Bạc Văn T dùng tay phải cầm 01 con dao chuôi bằng gỗ màu xám, lưỡi bằng kim loại kề vào cổ chị Nguyễn Thị X, chị X dùng tay phải cầm vào phần lưỡi dao, đẩy dao ra nên đã bị thương tích. Sau đó, T chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ, đen, xám, BKS: 99D1-127.76 trị giá 8.000.000 đồng và số tiền 2.700.000 đồng của chị X. Tổng trị giá là tài sản chiếm đoạt là 10.700.000 đồng. Chị X bị thương tích tổn hại 11% sức khỏe. Sau khi chiếm đoạt được xe T đã mang đi bán cho anh H được 3.300.000 đồng. Toàn bộ số tiền T bán xe và chiếm đoạt của chị X, T sử dụng mua ma túy hết 600.000 đồng và chi tiêu cá nhân, còn lại 675.000 đồng. Đến 21 giờ ngày 07/9/2023, tại thị trấn C, huyện Y, T bị Công an huyện Y bắt giữ có hành vi tàng trữ 06 gói Heroine khối lượng 0,2344 gam, mục đích để sử dụng.

Hành vi dùng vũ lực (01 con dao chuôi bằng gỗ màu xám, lưỡi bằng kim loại) của bị cáo Bạc Văn T đe dọa tấn công chị Nguyễn Thị X để chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ, đen, xám, BKS: 99D1-127.76 trị giá 8.000.000 đồng và số tiền 2.700.000 đồng của chị X. Tổng trị giá là tài sản chiếm đoạt là 10.700.000 đồng và gây thương tích cho chị X với tỉ lệ thương tích là 11%. Do vậy hành vi của T đã phạm tội cướp tài sản theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Sau khi thực hiện xong hành vi cướp tài sản, ngày 07/9/2023 thì T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,2344 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy hành vi của Bạc Văn T đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Do vậy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo T về hai tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội cướp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu riêng về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho người có tài sản, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo phạm tội vào ban ngày,

điều đó thể hiện sự liều lĩnh, manh động, coi thường pháp luật của bị cáo nên đã đi vào con đường phạm tội.

Hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo T là nguy hiểm là nguy hiểm cho xã hội. Ma túy hiện đang là tệ nạn của xã hội, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, lao động, học tập của con người. Ma túy ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình trật tự an toàn xã hội hiện nay. Ma túy cũng chính là nguyên nhân để bị cáo thực hiện hành vi cướp tài sản của chị X trong vụ án này. Bị cáo nhận thức được những tác hại đó, biết được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi cất giữ bất hợp pháp chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Do vậy HĐXX xét thấy cần phải đưa ra xét xử kịp thời để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân và có hình phạt tương xứng với hành vi, động cơ phạm tội và hậu quả đã gây ra của bị cáo T đối với bị hại là chị Nguyễn Thị X.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy:

  • + Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • + Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Vì vậy, bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại là chị Nguyễn Thị X yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản như sau: Số tiền 2.700.000đ bị T cướp nay chưa thu hồi được; tiền sửa xe mô tô Honda Wave RSX, màu đỏ, đen, xám, BKS: 99D1-127.76; tiền mất thu nhập trong 06 ngày nằm viện; tiền mất thu nhập thực tế sau khi ra viện; tiền mất thu nhập của người chăm nuôi trong 06 ngày; tiền viện phí có hóa đơn; tiền thuốc điều trị; tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe; tiền tổn thất tinh thần tổng cộng là 55.660.000đ.

Tại phiên tòa, bị cáo T đồng ý và sẽ có trách nhiệm trả cho chị Nguyễn Thị X số tiền này nên cần chấp nhận và buộc bị cáo phải trả cho chị X số tiền theo chị yêu cầu tổng cộng là 55.660.000đ. Quá trình điều tra thu giữ số tiền 675.000đ, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận số tiền bị thu giữ là do cướp được của chị X. Do vậy cần trả cho chị X số tiền này là có căn cứ và phù hợp. Sau khi khấu trừ số tiền 675.000đ hiện đang

nộp bảo quản tại Kho bạc Nhà nước huyện Y ngày 09/11/2023, buộc bị cáo phải bồi thường cho chị X số tiền là: 54.985.000đ là có căn cứ và phù hợp.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H yêu cầu đối với số tiền bỏ ra mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 99D1-12776 này là 3.300.000đ. Anh yêu cầu bị cáo T phải bồi thường, trả lại cho anh số tiền này. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T đồng ý trả cho anh H số tiền này nên cần buộc bị cáo phải trả cho anh H số tiền là 3.300.000đ là có căn cứ và phù hợp.

- Đối với 01 đĩa CD hỏi cung bị can và 01 đĩa video dữ liệu thu tại nhà trọ của Bạc Văn T cần lưu trong hồ sơ là phù hợp.

- Liên quan trong vụ án có:

  • + Đối với 01 nhẫn vàng ý trọng lượng hai chỉ có giá trị 5.620.000 đồng chị X trình bày bị T chiếm đoạt. Cơ quan điều tra đã đấu tranh với Bạc Văn T nhưng Bạc Văn T không thừa nhận chiếm đoạt chiếc nhẫn này của chị X. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho chị Nguyễn Thị X và Bạc Văn T đối chất. Đến nay, Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ để xác định Bạc Văn T chiếm đoạt chiếc nhẫn của chị X. Cơ quan điều tách phần tài liệu liên quan đến chiếc nhẫn nêu trên ra tiếp tục xác minh khi nào có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
  • + Đối với con dao dạng dao gọt hoa quả, chuôi bằng gỗ màu xám, lưỡi bằng kim loại Bạc Văn T dùng làm hung khí gây án. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy. Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm đối với con dao trên. Khi nào tìm thấy sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
  • + Đối với anh Nguyễn Văn H - chủ cơ sở cầm đồ “Quang Trung” tại Y, Y, Y mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ, đen, xám, BKS : 99D1-127.76 mà Trường cướp của chị X. Anh H không biết nguồn gốc chiếc xe là do T cướp được. Vì vậy, hành vi của anh H không cấu thành tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự. Cơ quan điều tra tiến hành gọi hỏi, giáo dục, nhắc nhở đối với anh Nguyễn Văn H và không đề cập xử lý là phù hợp.
  • + Đối với đối tượng bán ma túy cho T ở thôn N, xã L, huyện Y. T không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
  • + Đối với anh Đinh Văn N1, chị Bạc Thị D đều không biết việc T đã thực hiện hành vi cướp tài sản của chị X nên không xem xét là phù hợp.

[7] Về vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu trắng có số IMEI: 357625/08/588604/5, IMEI: 357651/08/588604/1 của bị cáo Bạc Văn T không sử

dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Bạc Văn T nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Đối với số tiền 675.000đ (Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành nộp bảo quản tại Kho bạc Nhà nước huyện Y ngày 09/11/2023) là do bị cáo T bán tài sản cướp được của chị X để bán mà có được nên cần trả lại chị X là phù hợp.

- Đối với 01 quần bò dài màu đen, đai quần mầu nâu, trên mặt đai có số 1964; 01 áo cộc tay không cổ màu đen, xanh, mặt trước của áo có họa tiết hình số 3 màu trắng; 01 đôi giày màu đen trắng, ở phần viền đế có dòng chữ Vip của bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Các tài sản trên không còn giá trị, bị cáo khong xin lại nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

- Đối với 01 phong bì thư niêm phong dán kín, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 1857/KL-KTHS ngày 08/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh B là tang vật còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

- Đối với 01 đĩa CD hỏi cung bị can và 01 đĩa video dữ liệu thu tại nhà trọ của Bạc Văn T cần lưu giữ trong hồ sơ là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Bạc Văn T phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 168; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bạc Văn T:

  • + 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”.
  • + 22 (hai mươi hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo T phải chịu hình phạt là 10 (mười) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2023. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo T.

- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo Bạc Văn T 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589 và 590 Bộ luật dân sự:

- Buộc bị cáo Bạc Văn T phải bồi thường trả cho chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1970; Trú tại: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh tổng số tiền 54.985.000đ (Năm mươi tư triệu, chín trăm tám mươi năm nghìn đồng).

- Buộc bị cáo T phải bồi thường trả cho anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1984; Trú tại: Thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh số tiền là 3.300.000đ (Ba triệu ba trăm nghìn đồng).

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Trả lại cho bị cáo Bạc Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu trắng có số IMEI: 357625/08/588604/5, IMEI: 357651/08/588604/1 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho chị Nguyễn Thị X số tiền 675.000₫ (Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành nộp bảo quản tại Kho bạc Nhà nước huyện Y ngày 09/11/2023).

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 quần bò dài màu đen, đai quần mầu nâu, trên mặt đai có số 1964;
  • + 01 áo cộc tay không cổ màu đen, xanh, mặt trước của áo có họa tiết hình số 3 màu trắng.
  • + 01 đôi giày màu đen trắng, ở phần viền đế có dòng chữ V.
  • + 01 phong bì thư niêm phong dán kín, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 1857/KL-KTHS ngày 08/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh B.

Lưu trong hồ sơ 01 đĩa CD hỏi cung bị can và 01 đĩa video dữ liệu thu tại nhà trọ của Bạc Văn T.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Bạc Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 2.914.250₫ (hai triệu, chín trăm mười bốn nghìn, hai trăm lăm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND huyện Yên Phong;
  • - Công an huyện Yên Phong;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT khác;
  • - Lưu HS, VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Ngô Xuân Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HSST ngày 09/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về cướp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 02/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bạc Văn T phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger