|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2024/HS-ST
Ngày: 09 - 01 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Tấn Hiệp
Ông Phạm Hùng Cường
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Đình Vân Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2023/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2023/QĐXXST-HS ngày 27/12/2023 đối với bị cáo:
HUỲNH XUÂN SANG (Tên gọi khác: T), sinh năm 1990 tại Khánh Hòa;
Nơi đăng ký HKTT: Thôn B, xã S, huyện K, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã D, huyện D, Khánh Hòa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông: Huỳnh Xuân S (sinh năm 1966) và bà Phạm Thị Thanh H (sinh năm 1973); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh năm 1996 và có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 14/6/2011, Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 40/2011/HSST, chấp hành án phạt tù xong ngày 13/01/2013 nhưng chưa bồi thường dân sự.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Mỹ H1 Sinh năm 1996 (Vắng mặt)
- Ông Phạm Ngọc H2 năm 1968 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
Địa chỉ: Thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa;
- Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị Hồng V sinh năm 1994 (Có mặt)
- Bà Nguyễn Thị B năm 1991 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn Trung 2, xã Diên Điền, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa
Địa chỉ: Tổ A S, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 20 phút ngày 13/6/2023, tổ công tác của Công an xã D trên đường tuần tra kiểm soát trong địa bàn xã, khi đến khu vực đường Đ thuộc thôn P, xã D, huyện D thì phát hiện Huỳnh Xuân S1 điều khiển xe mô tô BKS 79N5–4402 đi một mình, Nguyễn Thị Hồng V điều khiển xe mô tô BKS 79H1 – 005.53 chở Nguyễn Thị B1 có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, phát hiện trong túi quần Jean phía trước bên phải của Huỳnh Xuân S1 có 01 chiếc khẩu trang, bên trong chứa 01 túi nilon màu trắng trong suốt loại hằn miệng màu trắng viền màu xanh, có kích thước (07x04) cm, bên trong có chứa 08 túi nilon màu trắng trong suốt loại túi có khóa hằn miệng màu trắng, có viền nhiều màu, có nhiều kích thước khác nhau, bên trong đựng nhiều tinh thể màu trắng dạng đá. S1 khai nhận 08 túi đựng chất tinh thể trắng nêu trên là ma túy đá, S1 mua về để sử dụng. Sau đó, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, thu giữ niêm phong tài liệu, đồ vật rồi đưa các đối tượng cùng tang vật về trụ sở làm việc.
Tài liệu, đồ vật thu giữ gồm (thu giữ của Huỳnh Xuân S1):
- - 01 túi ni lông màu trắng trong suốt loại hằn miệng màu trắng viền màu xanh, có kích thước (0,7x0,4)cm bên trong có chứa 08 túi ni lông màu trắng trong suốt loại túi có khóa hằn miệng màu trắng có viền nhiều màu có kích thước khác nhau bên trong đều đựng chất tinh thể màu trắng dạng đá (được niêm phong Ký hiệu A).
- - 01 khẩu trang y tế không rõ nhãn hiệu, màu trắng, đã qua sử dụng;
- - 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 79N5-4402, loại Wave, màu đỏ, số máy VTLZS152FMH00012892, số khung VTLBCH023TL012892;
- - 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SamSung, vỏ ngoài màu xanh đen, đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra xác định:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 13/6/2023, S1 một mình điều khiển xe mô tô BKS 79N5-4402 đến khu vực Lầu G, phường V, thành phố N mua 10 tép ma túy đá của một người thanh niên lạ mặt (chưa xác định nhân thân, lai lịch) với giá 1.200.000 đồng. Có được ma túy, S1 mang đến khu vực chân núi C thuộc xã D, huyện D, một mình sử dụng hết 02 tép, còn lại 08 tép Sang cất giấu vào túi quần Jean phía trước bên phải của mình. Khoảng 19 giờ cùng ngày, S1 cùng V và B1 uống cà phê tại quán K7 thuộc xã D, huyện D. Đến khoảng 21 giờ, S1 rủ V, Bé đến nhà nghỉ H5 (thuộc xã V, thành phố N) tìm H3 (bạn của S1) để rủ đi chơi nhưng không gặp được H3 nên cả 03 điều khiển xe mô tô đi xuống khu vực thành phố N dạo chơi. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, cả nhóm đi về đến khu vực đường Đ thuộc thôn P, xã D, huyện D thì bị tổ công tác của Công an xã D phát hiện sự việc như trên.
Ngày 14/6/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện D đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 355/QĐ-CSĐT(HS) trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh K giám định chất ma túy đã thu giữ của Huỳnh Xuân S1.
Tại bản Kết luận giám định số 279/2023/KL-KTHS ngày 19/6/2023 của Phòng K - Công an tỉnh K kết luận: Tinh thể màu trắng trong các gói nylon của mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,5285g (một phẩy năm hai tám năm gam), là (loại) Methamphetamine.
Quá trình điều tra, V, B1, S1 đều khai nhận V và B1 không biết việc S1 cất giấu ma túy trong người.
Đối với người nam thanh niên đã bán ma túy cho S1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã xác minh và phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tiến hành các biện pháp điều tra nhưng vẫn chưa có kết quả.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 79N5-4402 mà S1 sử dụng đi mua ma túy, S1 khai mua lại xe cũ, có giấy tờ nhưng đã làm mất. Qua tra cứu, người đăng ký xe là ông Phạm Ngọc H4, sinh năm 1968, trú tại Thôn Â, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Ông H4 khai đã bán chiếc xe này vào năm 2014 cho người mua xe dạo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã ra Thông báo tìm chủ sở hữu đối với chiếc xe nhưng đến nay chưa có kết quả.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D, bị cáo Huỳnh Xuân S1 đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Bản Cáo trạng số 60/CT–VKSDK ngày 24 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Huỳnh Xuân S1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Xuân S1 giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng. Lời nói sau cùng, bị cáo S1 thành khẩn nhận tội, bày tỏ sự ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Huỳnh Xuân S1 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Xuân S1 với mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ khẩu trang y tế và số ma túy thu giữ đựng trong 01 phong bì niêm phong được dán kín của Công an tỉnh K; trả lại điện thoại di động nhãn hiệu SamSung đã qua sử dụng cho bị cáo; tịch thu sung quỹ xe mô tô BKS 79N5 – 4402 theo quy định; về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng họ đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về tội danh: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, được chứng minh bằng biên bản sự việc ngày 14/6/2023, bằng vật chứng thu giữ của bị cáo, qua giám định ma túy là loại Methamphetamine khối lượng 1,5285g cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 23 giờ 20 phút, tại thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa, Huỳnh Xuân S1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,5285g (một phẩy năm hai tám năm gam) ma túy loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Do đó, Cáo trạng số 60/CT-VKSDK ngày 24/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh và lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo Huỳnh Xuân S1 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm an ninh trật tự an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện làm huỷ hoại sức khoẻ con người, làm xói mòn đạo đức xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay cho những kẻ mua bán ma tuý và ma tuý cũng là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác, do đó, cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Ngày 14/6/2011, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, phải bồi thường dân sự 1.875.000đ cho bị hại bà Nguyễn Thị C theo Bản án số 40/2011/HSST. Đến nay, bị cáo chưa bồi thường dân sự nên lần phạm tội này của bị cáo được xác định là tái phạm và bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó, bị cáo được hưởng tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, yếu tố lỗi, nhân thân và các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo việc cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh, phòng ngừa chung đối với toàn xã hội.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích để sử dụng, thỏa mãn nhu cầu bản thân, không nhằm mục đích thu lợi bất chính. Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[8] Xử lý tài liệu, đồ vật thu giữ:
- - Đối với 01 phong bì được dán kín có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh K, bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine, ký hiệu A, qua giám định còn lại 1,3457 gam và 01 khẩu trang y tế đã qua sử dụng dùng để cất giấu ma túy, cần tịch thu tiêu hủy;
- - Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SamSung, vỏ ngoài màu xanh đen, đã qua sử dụng: Xét đây là tài sản của bị cáo, qua xác minh xác định chiếc điện thoại này không liên quan đến việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy nên cần trả lại cho bị cáo.
- - Đối với mô tô BKS 79N5-4402 mà S1 sử dụng đi mua ma túy, S1 khai mua lại xe cũ và đã làm mất giấy tờ đăng ký. Bà Nguyễn Thị Mỹ H1 là vợ của S1 cho rằng đây là tài sản chung của hai vợ chồng và xin nhận lại chiếc xe, tuy nhiên, bà H1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh chiếc xe này thuộc quyền sở hữu chung của bà H1 và bị cáo S1 nên không có cơ sở để xem xét. Qua tra cứu xác định được người đăng ký xe là ông Phạm Ngọc H4, ông H4 khai đã bán chiếc xe này vào năm 2014 cho người mua xe dạo (không rõ lai lịch), có lập giấy tờ mua bán xe nhưng đã làm thất lạc. Ngày 21/9/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện D đã ra Thông báo tìm chủ sở hữu đối với chiếc xe này nhưng đến nay chưa có kết quả. Như vậy, chưa đủ cơ sở xác định ai là chủ sở hữu hợp pháp đối với xe mô tô BKS 79N5-4402, do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 228 của Bộ luật Dân sự năm 2015, giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Diên Khánh thông báo công khai trong thời hạn 01 năm để xác định chủ sở hữu đối với chiếc xe này; hết thời hạn thông báo theo quy định mà không xác định được ai là chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định, trường hợp xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho họ.
[9] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, S1 không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ, do vậy, Hội đồng xét xử không xét.
[10] Đối với Nguyễn Thị Hồng V, Nguyễn Thị B1 là người đi cùng bị cáo S1 nhưng không biết việc bị cáo S1 tàng trữ trái phép chất ma túy nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự.
[11] Về án phí: Bị cáo Huỳnh Xuân S1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
- Căn cứ Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Xuân S1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về xử lý đồ vật, tài liệu thu giữ:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được dán kín có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh K, bên trong chứa 1,3457 gam ma túy, loại Methamphetamine (ký hiệu A) và 01 khẩu trang y tế màu trắng, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng;
- + Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SamSung, vỏ ngoài màu xanh đen, đã qua sử dụng;
- + Áp dụng Điều 228 của Bộ luật Dân sự năm 2015, giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên Khánh thông báo công khai trong thời hạn 01 năm để xác định chủ sở hữu đối với: 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 79N5-4402, loại Wave, màu đỏ, số máy VTLZS152FMH00012892, số khung VTLBCH023TL012892. Hết thời hạn thông báo theo quy định mà không xác định được ai là chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung công quỹ đối với chiếc xe này, trường hợp xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho họ theo quy định.
- Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Xuân S1 phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
(Các tài liệu, đồ vật trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên Khánh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/01/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên Khánh).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Mai |
Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 02/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 02 năm 06 tháng tù
