|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA Bản án số: 02/2024/HSPT Ngày 27 - 11 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Kim Liên.
Các thẩm phán: Bà Đinh Thị Mai Lan, ông Vũ Văn Nghĩa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 01/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXPT-HS, ngày 04 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 11 năm 2024. Do có kháng cáo của các bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T, Vì V, Hà Văn M, Hà Văn Tiến T1, Lò Văn K, Hoàng Thị P đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 111/2024/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
- Các bị cáo có kháng cáo:
- Lò Văn D, tên gọi khác: Không; sinh ngày 27/7/1970 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Trồng trọt; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Trưởng ban công tác mặt trận bản Pom Sản (xã N), Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo quyết định số 87-QĐ/UBKTHU, ngày 09/10/2023 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy M6; con ông: Lò Văn P1, sinh năm 1944 và bà: Hoàng Thị D1, sinh năm 1950; Bị cáo có vợ là Hà Thị P2, sinh năm 1974 và 02 con (con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1994); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2023 đến nay. Có mặt.
- Lò Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 11/3/1978 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Trồng trọt; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Bí thư chi bộ kiêm Trưởng bản Pom Sản (xã N), Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo quyết định số 79-QĐ/UBKTHU, ngày 26/6/2023 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy M6; con ông: Lò Văn P3, sinh năm 1958 và bà: Hà Thị L, sinh năm 1958; Bị cáo có vợ là Hà Thị M1, sinh năm 1987 và có 02 con (con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2011); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 22/6/2023 đến nay. Có mặt.
- Vì Văn K9, tên gọi khác: Không; sinh ngày 16/3/1985 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Trồng trọt; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Công an viên kiêm phó Trưởng bản Pom Sản (xã N), Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo quyết định số 107-QĐ/UBKTHU, ngày 29/3/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy M6; con ông: Vì Văn H (đã chết) và bà: Hà Thị L1, sinh năm 1942; Bị cáo có vợ là Cầm Thị N, sinh năm 1985 và có 02 con (con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/12/2023 đến nay. Có mặt.
- Hà Văn M, tên gọi khác: Không; sinh ngày 30/9/1986 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Trồng trọt; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Phó bí thư Chi bộ bản Pom Sản (xã N), Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo quyết định số 108-QĐ/UBKTHU, ngày 29/3/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy M6; con ông: Hà Văn S, sinh năm 1965 và bà: Lường Thị B, sinh năm 1968; Bị cáo có vợ là Lò Thị H1, sinh năm 1989 và có 02 con (con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/12/2023 đến nay. Có mặt.
- Hà Văn Tiến T1, tên gọi khác: Không; sinh ngày 06/02/1997 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Trồng trọt; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Bí thư Chi đoàn bản Nà Cà, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; con ông: Hà Văn L2, sinh năm 1975 và bà: Hà Thị T2, sinh năm 1977; Bị cáo có vợ là Lường Thị T3, sinh năm 1999 và có 01 con, sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/12/2023 đến nay. Có mặt.
- Lò Văn K, tên gọi khác: Không; sinh ngày 11/01/1980 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Trồng trọt; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Chi hội trưởng chi hội nông dân bản Pom Sản (xã N); con ông: Lò Văn P3, sinh năm 1958 và bà: Hà Thị L, sinh năm 1958; Bị cáo có vợ là Cầm Thị H2, sinh năm 1979 và có 02 con (con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2006); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/12/2023 đến nay. Có mặt.
- Hoàng Thị P, tên gọi khác: Không; sinh ngày 15/01/1960 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Trình độ học vấn: 7/10; nghề nghiệp: Trồng trọt; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Chi hội trưởng chi hội người cao tuổi bản Pom Sản (xã N); con ông: Hoàng Văn C (đã chết) và bà: Cầm Thị Ư (đã chết); Bị cáo có chồng là Lò Văn L3, sinh năm 1960 và có 04 con (con lớn nhất sinh năm 1980, con nhỏ nhất sinh năm 1990); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/12/2023 đến nay. Có mặt.
- Nguyên đơn dân sự: Cộng đồng bản Pom Sản (nay là bản N) xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Người đại diện theo pháp luật ông Cầm Văn T4 - Trưởng bản. Có mặt
Ngoài ra còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo Tòa án không triệu tập:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cộng đồng bản Pom Sản (nay là bản N) xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Người đại diện theo pháp luật ông Cầm Văn T4 - Trưởng bản.
- Bà Hà Thị M1, sinh năm 1987 (vợ bị cáo Lò Văn T). Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Ông Lò Văn D2, sinh năm 1972. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Bà Lèo Thị X, sinh năm 1972. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Anh Cầm Văn K1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Bà Cẩm Thị X1, sinh năm 1979. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Bà Tòng Thị Ỏ, sinh năm 1969. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Anh Cầm Văn C1, sinh năm 1984. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Chị Lò Thị D3, sinh năm 1981. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Bà Lèo Thị P4, sinh năm 1975. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Bà Cầm Thị C2, sinh năm 1968. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Chị Lò Thị D4, sinh năm 1994 (con dâu bị cáo Lò Văn D). Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Bà Hoàng Thị K2, sinh năm 1976. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Anh Cầm Văn N1, sinh năm 1991. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Bà Hoàng Thị U1, sinh năm 1966. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Bà Vì Thị H3, sinh năm 1971. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Anh Hà Văn D5, sinh năm 1994. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Ông Hà Văn B1, sinh năm 1971. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Chị Lò Thị T5, sinh năm 1988. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Ông Hà Văn L2, sinh năm 1975 (bố bị cáo Hà Văn Tiến T1). Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Ông Hà Văn K3, sinh năm 1967. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Ông Hà Văn V, sinh năm 1973. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Chị Hà Thị M2, sinh năm 1991. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Bà Cầm Thị L4, sinh năm 1980 và ông Cầm Văn U2, sinh năm 1976. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Chị Hà Thị L5, sinh năm 1992. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Chị Lèo Thị M3, sinh năm 1988. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Anh Hà Văn K4, sinh năm 1986. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Ông Lò Văn N2, sinh năm 1964. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Anh Lò Văn H4, sinh năm 1980 (con trai bị cáo Hoàng Thị P). Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Chị Hà Thị T6, sinh năm 1983. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Anh Hà Văn N3, sinh năm 1988. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Ông Vì Văn C3, sinh năm 1969. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Anh Hà Văn N4, sinh năm 1994 và chị Hà Thị Hồng D6, sinh năm 2002. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Chị Lò Thị N5, sinh năm 1998. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Chị Tòng Thị S1, sinh năm 1980. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Bà Lò Thị D7, sinh năm 1974 và ông Lò Văn C4, sinh năm 1973. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Bà Hà Thị S2, sinh năm 1978. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Chị Quàng Thị D8, sinh năm 1983. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Bà Cầm Thị B2, sinh năm 1975. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Chị Hà Thị H5, sinh năm 1991 và anh Lò Văn T7, sinh năm 1988. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Anh Hà Văn M4, sinh năm 1987. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Chị Hà Thị T8, sinh năm 1980. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Anh Hoàng Văn P5, sinh năm 1982. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Bà Cầm Thị H6, sinh năm 1978. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Chị Hà Thị M5, sinh năm 1989. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Chị Lò Thị D9, sinh năm 1974. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Ông Cầm Văn K5, sinh năm 1966. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Bà Hà Thị S3, sinh năm 1966. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Chị Lò Thị X2, sinh năm 1993. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Chị Cầm Thị D10, sinh năm 1984. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Anh Lò Văn K6, sinh năm 1993. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Chị Hà Thị D11, sinh năm 1980. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Anh Cầm Văn H7, sinh năm 1984. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Anh Cầm Văn T9, sinh năm 1992. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Anh Lò Văn K7, sinh năm 1990 và chị Cẩm Thị T10, sinh năm 1997. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Ông Hà Văn C5, sinh năm 1965 và bà Cầm Thị C6, sinh năm 1966. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
Người làm chứng: Lò Thị H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cộng đồng bản Pom Sản nay là bản N, xã M, huyện M được Nhà nước giao đất, giao rừng quản lý, bảo vệ từ năm 2004 với tổng diện tích là 36,183 ha, trong đó có rừng phòng hộ tại khu vực Huổi Phày bản Pom Sản, xã M, huyện M, ban Q quý/lần, ban quản lý bản (gồm trưởng bản, phó bản, ban mặt trận tổ quốc, đoàn thành niên, hội phụ nữ bản) sẽ đi kiểm tra việc bảo vệ rừng. Khoảng tháng 7/2022, ban quản lý bản đi kiểm tra thì thấy rừng tự nhiên phòng hộ tại khu H bị một số hộ dân trong bản phát cây leo, bụi rậm để tự nhận đất (không xác định được hộ nào). Do người dân trong bản ganh tị với các bản khác trên địa bàn về việc chặt phá rừng để lấy đất trồng cây cà phê nên trong các cuộc họp của bản đã có ý kiến về việc chia rừng phòng hộ khu Huổi Phày cho các hộ để phá rừng trồng cây cà phê.
Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 19/8/2022, Lò Văn D chủ trì cuộc họp ban công tác Mặt trận bản Pom S4 gồm 12 người: Lò Văn D - Trưởng ban; Hà Văn M4, sinh năm 1987 - Phó ban; Lò Văn T, sinh năm 1978 - Bí thư chi bộ đồng thời Trưởng bản; Vì Văn K9, sinh năm 1985 - Công an viên kiêm Phó bản; Hà Văn C5, sinh năm 1965 - Chi hội trưởng Chi hội cựu chiến binh, Hà Văn M, sinh năm 1986 - Phó Bí thư chi bộ; Lò Văn K, sinh năm 1980 - Chi hội trưởng Chi hội nông dân; Hà Văn Tiến T1, sinh năm 1997 - Bí thư chi đoàn; Hà Văn N3, sinh năm 1988 - Bản đội trưởng; Lò Thị T5, sinh năm 1988 - Chi hội trưởng Chi hội phụ nữ, Hoàng Thị P, sinh năm 1960 - Chi hội trưởng Chi hội người cao tuổi. Cuộc họp cử Hà Văn M4 là thư ký viết biên bản. Tại cuộc họp, D triển khai nội dung liên quan đến rừng phòng hộ thuộc khu H nên cuộc họp đã tiến hành bàn bạc, thống nhất chia đất rừng Huổi Phày cho các hộ dân trong bản phá rừng để sản xuất nông nghiệp. Trong cuộc họp, Lò Văn T nêu ý kiến đưa ra các phương án chia: (1) chia theo hộ; (2) chia theo nhân khẩu mỗi nhân khẩu 200m², 300m² hoặc 500m²; (3) chia theo nhóm liên gia tự quản. Sau đó mọi người thảo luận về phương án chia đất rừng, Lò Văn D tổng hợp các ý kiến và kết luận dự trù 02 phương án chia: (1) là chia theo nhân khẩu mỗi nhân khẩu 200m², 300m² hoặc 500m²; (2) chia theo hộ, hộ nào có nhiều nhân khẩu hơn sẽ được chia nhiều hơn so với hộ có ít nhân khẩu. Sau đó sẽ tiến hành họp toàn thể các hộ dân trong bản để lấy ý kiến, nếu bị Cơ quan chức năng phát hiện sẽ xin khắc phục trồng cây lâm nghiệp, các cây đa mục tiêu như cây trám đen, cây xoan đào, cây mắc ca. Dòm yêu cầu các thành viên vào lúc 13 giờ 30 phút cùng ngày đến khu R để xem vị trí và áng chừng nếu chia rừng theo diện tích phương án đưa ra trong cuộc họp thì tổng diện tích rừng chia bị chặt phá sẽ khoảng bao nhiêu. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày D, T, M4, K9, M, K, N3, T1, C5, P cùng nhau đến khu R, T chỉ đạo T1 dùng 01 chiếc thước bằng tre đo chiều rộng theo đường mòn ở giữa rừng được khoảng 300m đến 400m rồi đo cắt ngang từ đường mòn lên phía trên đỉnh rừng xác định chiều dài của khu rừng được khoảng 120m.
Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 25/8/2022, tại Nhà văn hóa bản P7, Lò Văn T chủ trì cuộc họp bản, Vì Văn K9 là thư ký và trưởng các đoàn thể, ban quản lý bản gồm: Hà Văn M, Lò Văn D, Hà Văn Tiến T1, Lò Thị T5, Hoàng Thị P, Lò Văn K, Tòng Thị S1 cùng đại diện các hộ dân trong bản (không xác định được số lượng cụ thể). Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi triển khai một số nội dung công việc của bản, căn cứ nội dung, kết quả cuộc họp của Ban công tác Mặt trận bản ngày 19/8/2022, Lò Văn T đưa ra nội dung chia đất rừng khu Huổi Phày để các hộ dân thảo luận thống nhất. Trong đó có một số người tham gia ý kiến: Lò Văn B3, sinh năm 1957, ý kiến: (1) P6 rừng làm nương là vi phạm pháp luật nhưng nếu vẫn cố tình làm thì phải xem các bản khác làm như thế nào để không bị xử lý; (2) Quản lý bản chia đất rừng cho hộ dân để quản lý chứ không phải chia để phá rừng làm nương, nếu cố tình làm thì đừng chặt hạ cây to, chỉ hạ cây bụi, cây dây leo. Cầm Văn O, sinh năm 1974 nêu ý kiến: Không có thì mình đi phá chia nhau không được tranh nhau. Sau khi một số người dân nêu ý kiến xong, Lò Văn T kết luận: (1) Sẽ chia rừng ở khu H cho các hộ dân để trồng cà phê, nếu bị Cơ quan chức năng phát hiện sẽ xin khắc phục bằng hình thức trồng cây lâm nghiệp; (2) đưa ra phương án chia theo hộ, theo nhân khẩu; (3) nếu những hộ nào đã phát rừng vượt mốc ranh giới mà bản quy định để làm nương thì sẽ bị trừ giảm diện tích vào phần đất được chia tại khu rừng Huổi Phày, nếu vẫn nhận đủ số đất được chia tại khu rừng Huổi Phày thì sẽ phải nộp tiền cho bản về số diện tích đã phát vượt mốc ranh giới mà bản quy định để làm nương và chia theo nhân khẩu thực tế đã nhập khẩu tại bản.
Đến khoảng 08 giờ ngày 06/9/2022, tại Nhà văn hóa bản, Lò Văn T lại tiếp tục chủ trì cuộc họp bản, Vì Văn K9 là thư ký với sự tham gia của Lò Văn D, Hà Văn M, Hà Văn Tiến T1, Lò Thị T5, Hoàng Thị P, Lò Văn K, Hà Văn M4, Tòng Thị S1, Hà Văn N3 cùng đại diện các hộ dân trong bản (không xác định rõ số lượng). Sau khi thảo luận T đưa ra phương án chia đất rừng phòng hộ cho các hộ dân để trồng cây cà phê như sau: Chia theo nhân khẩu, mỗi nhân khẩu 300m² và chia rừng theo hình thức làm phiếu bốc thăm theo số thứ tự từ 01 đến 60, hộ nào bốc được theo số thứ tự nào thì nhận được đất rừng chia tại thực địa, thứ tự từ 01 đến 60 theo hướng từ trung tâm bản đi lên khu H. Đại diện các hộ dân tham gia họp nhất trí với ý kiến của T. Lò Văn T giao cho Hà Văn M làm phiếu để bốc thăm (phiếu bằng giấy trắng có dòng kẻ, kích thước mỗi phiếu khoảng 05cm x 03cm, mỗi phiếu được ghi số thứ tự bằng bằng gỗ có sẵn tại hóa của bản). Lò Văn T đọc danh sách đại diện các hộ dân tham gia bốc phiếu để trong hòm phiếu đặt trên bàn trước mặt T, thứ tự lần lượt 05 hộ/01 lượt bốc, bốc phiếu xong thì đại diện các hộ dân đưa phiếu bốc được cho Hà Văn M để ghi lại số phiếu. Sau khi đại diện các hộ bốc phiếu xong thì ký tên vào trong biên bản do K9 viết tay. Tiết thông báo đại diện các hộ bốc được số thứ tự từ 01 đến 15 là 07 giờ 30 phút ngày 07/9/2022 có mặt tại khu R để tiến hành đo đạc chia rừng, còn những hộ bốc số thứ tự từ 16 đến 60 thì sẽ có thông báo sau, đồng thời yêu cầu trưởng các đoàn thể không được vắng mặt. Tối ngày 06/9/2022, T đến nhà Hà Văn M nhờ vợ M là Lò Thị H1, sinh năm 1989 làm giúp 02 bộ số thứ tự từ 01 đến 60 bằng giấy A4 in ra để dắt dính vào các cọc đánh dấu vị trí các ô đất sau khi được đo.
Khoảng 08 giờ ngày 07/9/2022, Lò Văn T, Vì V, Lò Văn D, Hà Văn M, Hoàng Thị P, Lò Thị T5, Hà Văn Tiến T1, Lỏ Văn K8, Cầm Văn H7, sinh năm 1984 và Cầm Văn C1, sinh năm 1984 cùng trú tại bản Pom Sản và đại diện các hộ dân bốc được số thứ tự từ 01 đến 15 đến khu R để tiến hành đo đạc, nhận đất rừng được chia. Trước khi tiến hành đo, số người trên thống nhất chia làm 03 tổ để cùng nhau đo, tổ thứ nhất gồm: Lò Văn T, Hà Văn Tiến T1 và Cầm Văn H7 tiến hành đo đạc ở trên đỉnh rừng, tổ thứ hai gồm: Vì Văn K9, Hà Văn M, Lò Thị T5, Hoàng Thị P tiến hành đo đạc theo đường mòn ở khu giữa rừng; tổ thứ ba gồm: Lò Văn D, Lò Văn K, Cầm Văn C1 đo đạc tại chân rừng gần với khe suối. Cả 03 tổ đều sử dụng thước được làm bằng cây tre dài 05m (đã được đo bằng thước dây). Đo theo mỗi hộ bao nhiêu nhân khẩu thì nhân 300m² là sẽ ra số tổng diện tích đất mà hộ đó được nhận, về chiều dài của từng ô có đoạn dài hơn, có đoạn ngắn hơn nên khi tiến hành đo thì các tổ sẽ thống nhất áng chừng là dài 70m, 100m, 120m, 140m. Tiến hành đo theo thứ tự từ 01 đến 15, đo được của hộ nào thì đại diện hộ đó nhận. Sau khi đo đất rừng chia cho 15 hộ xong, chiều ngày 07/9/2022 tiếp tục đo, chia cho các hộ có số thứ tự từ 16 đến 30 và sáng ngày 08/9/2022 đo và chia cho các hộ có số thứ tự từ 31 đến 60. Các tổ đi đo đạc và hình thức đo đạc thì vẫn cố định như vào buổi sáng ngày 07/9/2022, chỉ có thành phần tham gia đo đạc chiều ngày 07/9/2022 và sáng ngày 08/9/2022 là không có Cầm Văn C1 tham gia với lý do sáng ngày 07/9/2022 C1 đã nhận được ô đất của gia đình được chia; sáng ngày 08/9/2022, Hoàng Thị P không tham gia đo đạc với lý do Phận đi họp tại Ủy ban nhân dân xã M.
Sau khi đo đạc, chia đất rừng phòng hộ tại khu H thì các hộ dân trong bản đã tiến hành chặt phá, hủy hoại rừng để lấy đất trồng cây cà phê với tổng diện tích được xác định là 36.400m².
Vật chứng thu giữ:
- 01 con dao quắm bằng sắt, có tổng chiều dài bằng 80cm, chiều dài cán dao 53cm bằng gỗ, chiều dài lưỡi dao 27cm cong phía đầu, vị trí rộng nhất của lưỡi dao 04cm, hẹp nhất 03cm; 01 cái rìu có chiều dài 44cm, chiều dài cán 41cm, được làm bằng gỗ có hình trụ tròn, chiều dài lưỡi rìu 14cm, vị trí rộng nhất lưỡi rìu 08cm (do Hoàng Thị P giao nộp).
- 01 con dao phát bằng sắt, có tổng chiều dài bằng 42cm, chiều dài cán dao 17cm bằng gỗ, chiều dài lưỡi dao 24cm, vị trí rộng nhất của lưỡi dao 5,5cm, hẹp nhất 03cm (do Lò Văn C4, sinh năm 1973, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 quyển sổ giấy A4 có dòng kẻ ngang để ghi các biên bản họp bản Pom Sản, có 02 tờ bìa cứng, trong đó 10 tờ 02 mặt có dòng kẻ ngang ghi biên bản nội dung các cuộc họp bản (do Ban Q giao nộp).
- 01 quyển sổ viết tay có dòng kẻ ngang có 02 tờ bìa cứng, trong đó 16 tờ 02 mặt có dòng kẻ ngang ghi các nội dung, tờ thứ 16 có ghi danh sách chia đất Lâm nghiệp cho các hộ quản lý mỗi 1 K 300m² (do Hoàng Thị P giao nộp).
- 01 biên bản họp dân ngày 21/4/2003 (02 tờ); 01 biên bản giao đất lâm nghiệp - giao rừng ngày 22/4/2001 kèm theo biểu trạng thái, diện tích lô đất lâm nghiệp, đất rừng được giao (02 tờ); 01 sơ đồ đất lâm nghiệp bản Pom Sản Mường Chanh tỷ lệ 1/10.0000; 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00332QSDD/77/H-QĐ-UB/2004 ngày 02/3/2004 được cấp có thẩm quyền giao cho Cộng đồng Pom Sản, xã M quản lý, bảo vệ (do Ban quản lý bản Pom Sản giao nộp).
- 01 mảnh giấy kích thước 05cm x 05cm mảnh giấy bị rách, trên bề mặt mảnh giấy có in số "43", 01 mảnh giấy in số “23” kích thước 8,5cm x 8,5cm mảnh giấy bị rách nát; 01 mảnh giấy in số “30” kích thước 06cm x 06cm mảnh giấy bị rách nát. (phát hiện, thu giữ tại hiện trường trong quá trình khám nghiệm hiện trường).
- 01 quyển vở nhãn hiệu Campus, vở đã qua sử dụng, có bìa bằng giấy catton, bên trong có 22 tờ ghi nội dung các cuộc họp, điểm danh Ban mặt trận bản Pom Sản còn lại là các tờ giấy trắng không ghi nội dung gì (của Ban công tác Mặt trận bản Pom Sản, do Hà Văn M4 giao nộp).
- 01 quyển sổ có bìa cứng bằng da màu đen, sổ đã qua sử dụng, tờ thứ nhất trong quyển sổ ghi tên Hà Văn M4, bên trong có 41 tờ ghi nhiều nội dung khác nhau, còn lại là các tờ giấy trắng không ghi nội dung gì (do Hà Văn M4 giao nộp).
- 01 quyển sổ có bìa cứng bằng da màu đen, đã qua sử dụng, bên trong có 59 tờ ghi nhiều nội dung khác nhau, còn lại là các tờ giấy trắng không ghi nội dung (do Lò Văn D giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 45cm cả chuôi, chuôi dao bằng gỗ dài 19,5cm; bản rộng nhất của lưỡi dao là 3,9cm, một mặt lưỡi dao có khắc chữ “T”, đã qua sử dụng (do Hà Văn L6, sinh năm 1971, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 40cm cả chuôi, chuôi dao bằng gỗ dài 14cm được bọc ống nhựa màu đen dài 08cm; bản rộng nhất của lưỡi dao là 3,9cm, một mặt lưỡi dao có khắc chữ “ANH HÁN”, đã qua sử dụng (do Hà Văn K3, sinh năm 1967, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 42,5cm cả chuôi, chuôi dao bằng nhựa màu trắng dài 13,5cm; bản rộng nhất của lưỡi dao là 5,5cm, lưỡi dao bị sứt mẻ, đã qua sử dụng (do Hà Văn V, sinh năm 1973, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 máy cưa xích, nhãn hiệu Hnsavrqua, vỏ máy màu đỏ, máy có kích thước 98cm x 21cm x 25cm, số máy 150625276, máy không có lưỡi cắt xích, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong, đã qua sử dụng (do Cầm Văn U3, sinh năm 1975, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 40,5cm cả chuôi, chuôi dao bằng nhựa màu trắng dài 13,5cm; bản rộng nhất của lưỡi dao là 5,5cm, lưỡi dao bị sứt mẻ; dao đã qua sử dụng (do Hà Thị L5, sinh năm 1992, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 47,5cm cả chuôi, chuôi dao bằng tre dài 16cm, chuôi dao được quấn 01 dây kim loại màu đen; bản rộng nhất của lưỡi dao là 3,4cm, lưỡi dao bị sứt mẻ, có vết hàn nối ở giữa; dao đã qua sử dụng (do Hà Văn L2, sinh năm 1975, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao quắm dài 36cm, dao không có chuôi, lưỡi dao có khắc chữ “ANH HÁN”, có khâu dao ở giữa; phần lưỡi dao dài 25cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 3,5cm, lưỡi dao bị sứt mẻ; dao đã qua sử dụng (do Hà Văn K4, sinh năm 1986, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 43,5cm cả chuôi, chuôi dao bằng nhựa màu trắng dài 13,5cm; bản rộng nhất của lưỡi dao là 4,5cm, lưỡi dao bị sứt mẻ, hoen rỉ, đã qua sử dụng (do Lò Văn N2, sinh năm 1963, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 44,5cm cả chuôi, chuôi dao bằng gỗ dài 15,6cm; bản rộng nhất của lưỡi dao là 5,7cm, lưỡi dao bị hoen rỉ, đã qua sử dụng (do Lò Thị N5, sinh năm 1998, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao nhọn dài 40cm, không có chuôi dao; phần lưỡi dao dài 28cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 04cm, lưỡi dao bị hoen rỉ; dao đã qua sử dụng (do Cầm Văn H7, sinh năm 1984, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao quắm dài 41cm cả chuôi, chuôi dao bằng kim loại dài 11cm được nối liền với phần lưỡi dao; bản rộng nhất của lưỡi dao là 05cm, một mặt lưỡi dao khắc số "999"; dao đã qua sử dụng (do Cầm Văn H7, sinh năm 1984, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 39cm cả chuôi, chuôi dao bằng gỗ dài 17cm, chuôi dao đã bị vỡ, bản rộng nhất của lưỡi dao là 4,3cm, đã qua sử dụng (do Cầm Văn C1, sinh năm 1984, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao phát dài 47,5cm cả chuôi, chuôi dao bằng tre dài 20cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 04cm, đã qua sử dụng (do Hoàng Văn P5, sinh năm 1982, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 máy cưa xích không rõ nhãn hiệu, máy có kích thước 90cm x 25cm x 25cm, vỏ máy màu đỏ, số máy CH05151020599; phần lưỡi cưa có ốp bảo vệ bằng nhựa màu đỏ, không có lưỡi cắt, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong, đã qua sử dụng (do Lò Văn T7, sinh năm 1988, trú tại bản Hỏm Lợi, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao phát dài 38,5cm cả chuôi, chuôi dao bằng nhựa màu trắng dài 13cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 3,5cm; dao đã qua sử dụng (do Lò Văn T7, sinh năm 1988, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 37,5cm cả chuôi, chuôi dao bằng gỗ dài 15cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 4,5cm, đã qua sử dụng (do Quàng Thị D8, sinh năm 1983, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 48cm cả chuôi, chuôi dao bằng gỗ dài 13cm, hai đầu chuôi dao có đính khâu dao bằng kim loại màu trắng; bản rộng nhất của lưỡi dao là 6,5cm; dao đã qua sử dụng (do Hà Thị S2, sinh năm 1978, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao phát dài 50cm cả chuôi, chuôi dao bằng gỗ dài 18cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 04cm; dao đã qua sử dụng (do Hà Thị T8, sinh năm 1980, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 43,5cm cả chuôi, chuôi dao bằng nhựa màu trắng dài 14cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 4,8cm; dao đã qua sử dụng (do Cầm Thị T11, sinh năm 1997, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 42,5cm cả chuôi, chuôi dao bằng gỗ dài 14,5cm, chuôi dao được buộc bằng 01 dây kim loại màu đen và được đính 01 dây kim loại hình tròn; một mặt lưỡi dao khắc chữ “ANH – HÁN”, bản rộng nhất của lưỡi dao là 5,3cm, đã qua sử dụng (do Hà Văn Tiến T1 giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 45cm cả chuôi, chuôi dao bằng nhựa màu trắng dài 13cm; một mặt lưỡi dao khắc chữ “V III”, bản rộng nhất của lưỡi dao là 04cm, đã qua sử dụng (do Hà Thị T6, sinh năm 1983, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 43,5cm cả chuôi, chuôi dao bằng gỗ dài 17cm, bề mặt chuôi dao được quấn bằng dây cao su màu đen; một mặt lưỡi dao khắc chữ “PHỤC”, bản rộng nhất của lưỡi dao là 4,3cm, lưỡi dao bị mẻ kích thước 1,4cm x 0,5cm, đã qua sử dụng (do Lò Văn K6, sinh năm 1993, trú tại bản N, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 lưỡi rìu, kích thước 14,5cm x 05cm, đã qua sử dụng (do Lò Văn K6, sinh năm 1993, trú tại bản N, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 39cm cả chuôi, chuôi dao bằng gỗ màu đen dài 19cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 5cm, dao đã qua sử dụng (do Cẩm Thị C7, sinh năm 1968, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 52cm cả chuôi, chuôi dao bằng gỗ dài 19,5cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 5,3cm, dao đã qua sử dụng (do Cẩm Thị D12, sinh năm 1984, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 42cm cả chuôi, chuôi dao bằng nhựa dài 13cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 4,5cm đã qua sử dụng (do Cầm Văn K5, sinh năm 1966, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 47cm cả chuôi, chuôi dao bằng gỗ dài 19cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 4cm, dao đã qua sử dụng (do Hà Văn B1, sinh năm 1971, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 41cm cả chuôi, chuôi dao bằng gỗ dài 16cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 6cm, dao đã qua sử dụng (do Lèo Thị P4, sinh năm 1977, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M giao nộp).
- 01 con dao, loại dao chặt dài 36cm cả chuôi, chuôi dao bằng gỗ dài 13cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 05cm, đã qua sử dụng (do Lò Văn D giao nộp).
Ngày 09/10/2022, Hạt Kiểm lâm huyện M phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành khám nghiệm hiện trường, đo diện tích rừng bị chặt phá. Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Diện tích rừng bị thiệt hại thuộc khu H, thuộc bản P, xã M, huyện M. Tổng diện tích rừng bị chặt phá hoàn toàn là 36.400m². Căn cứ hồ sơ giao đất, giao rừng năm 2004 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00332QSDĐ/77/H-QĐ-UB/2004 do Ủy ban nhân dân huyện M6 cấp ngày 02/3/2004 mang tên Cộng đồng bản Pom Sản. Vị trí rừng bị chặt phá tại thuộc lô a, c, khoảnh 6, tiểu khu C do Cộng đồng bản Pom Sản quản lý. Xác định số lượng lâm sản bị thiệt hại: 82,631m³ gỗ tròn, gỗ nhóm thông thường và 444 cây gỗ bất cập phân.
Ngày 24/10/2022, Hạt Kiểm lâm huyện M ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 38/QĐ - HKL trưng cầu giám định viên tư pháp lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn - Chi cục kiểm lâm S5 về phương pháp đo diện tích, loại rừng, trạng thái rừng, chủ rừng đối với diện tích rừng bị hủy hoại tại H, thuộc bản P, xã M, huyện M.
Tại Bản kết luận giám định ngày 30/10/2022 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh S5, kết luận:
“Diện tích vi phạm: Phương pháp thực hiện xác định diện tích vi phạm nêu trong Biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan CSĐT Công an huyện M phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện M, Viện Kiểm sát nhân nhân huyện M và các bên có liên quan lập ngày 09/10/2022 là đúng với phương pháp xác định diện tích vi phạm sử dụng trong quản lý nhà nước trong lĩnh vực lâm nghiệp.
Vị trí, loại rừng đối với diện tích vi phạm:
- Đối chiếu vị tri vi phạm được xác định bằng máy định vị GPS với bản đồ rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng được UBND tỉnh S phê duyệt tại Quyết định số 3248/QĐ-UBND ngày 27/12/2018:
- Vị trí thứ nhất: Thuộc các lô 5 (lô qh là 9), lô 2 (lô qh là 6), lô 7 (lô gh là 13) và lô 4 (lo_qh là 8), khoảnh 6, tiểu khu C. Được quy hoạch rừng phòng hộ.
- Vị trí thứ hai: Thuộc các lô 2 (lô qh là 6) và lô 3 (lô qh là 7), khoảnh 6, tiểu khu C. Được quy hoạch rừng phòng hộ
- Đối chiếu với dữ liệu bản đồ giao đất giao rừng giai đoạn 2002 - 2006:
- Vị trí thứ nhất: Thuộc lô 6 và lô c, khoảnh 6, tiểu khu C, rừng phòng hộ.
- Vị trí thứ hai: Thuộc lỗ a, khoảnh 6, tiểu khu C, rừng phòng hộ.
Trạng thái rừng:
Trên cơ sở bảng kê lâm sản thiệt hại kèm theo Biên bản khám nghiệm hiện trường, đối chiếu với Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ N6:
- Vị trí thứ nhất có trạng thái Rừng gỗ tự nhiên núi đất là rộng thường xanh nghèo kiệt (TXK).
- Vị trí thứ hai có trạng thái Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo kiệt (TXK).
Chủ rừng:
Theo dữ liệu bản đồ giao đất, giao rừng giai đoạn 2002 - 2006:
- Vị trí 01: Tại lô b và lô c, khoảnh 6, tiểu khu C, được giao cho cộng đồng bản Pom Sản quản lý với mục đích rừng phòng hộ.
- Vị trí 02: Tại lô a, khoảnh 6, tiểu khu C, được giao cho cộng đồng bản Pom Sản quản lý với mục đích rừng phòng hộ.”
Thiệt hại về tài sản: Ngày 16/5/2023, Hạt kiểm lâm huyện M ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 03/YC-HKL đối với diện tích rừng hủy hoại.
Tại Kết luận định giá tài sản số 471.KL - HĐ, ngày 19/5/2023 của Hội đồng định giá tài, Ủy ban nhân dân huyện M6 kết luận:
“Tổng giá trị lâm sản bị thiệt hại 82,631m³ gỗ tròn, gỗ nhóm thông thường và 444 cây bất cập phân các loại, gỗ nhóm thông thường trên diện tích 36.400m² rừng tự nhiên phòng hộ, trạng thái rừng TXK (tại phụ lục I, phân chia trạng thái rừng) là 160.072.450 đồng.
Trong đó:
- Giá trị lâm sản bị thiệt hại đối với cây Dẻ có đường kính D<25cm, dài trung bình 5,0m là: 10,913m³ X 1.700.000đ/1m³ = 18.552.100 đồng.
- Giá trị lâm sản bị thiệt hại đối với cây Dẻ loại 25cm<D<50cm, dài trung bình 6,5m là: 5,174m³ X 2.900.000đ/1m³ = 15.004.600 đồng.
- Giá trị lâm sản bị thiệt hại đối với cây Thồ lộ (Vối thuốc), gỗ tròn loại D<25cm, chiều dài trung bình 5,0m là: 26,729m³ X 1.250.000đ/1m³ = 33.411.250 đồng.
- Giá trị lâm sản bị thiệt hại đối với cây Thổ lộ (Vối thuốc), gỗ tròn loại loại 25cm<D<50cm, chiều dài trung bình 6,5m là: 17,842m³ X 2.500.000đ/1m³ = 44.605.000 đồng.
- Giá trị lâm sản bị thiệt hại đối với cây SP (Gỗ tạp không xác định được tên loài nhóm VIII), gỗ tròn loại D<25cm, dài trung bình 5,5m là: 21,973m X 1.500.000đ/1m³ = 32.959.500 đồng.
- Giá trị lâm sản bị thiệt hại đối với cây gỗ bất cập phân nhóm thông thường là: 444 cây X 35.000đ/1 cây = 15.540.000 đồng”
Cáo trạng số: 15/CT-VKSMS ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La truy tố các bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T, Vì Văn K9, Hà Văn M, Hà Văn Tiến T1, Lò Văn K, Hoàng Thị P về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm c khoản 3 Điều 243 Bộ luật Hình sự.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 111/2024/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đã xét xử và Quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố các bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T, Vì V, Hà Văn M, Lò Văn K, Hà Văn Tiến T1 và Hoàng Thị P phạm tội Hủy hoại rừng.
Xử phạt bị cáo Lò Văn D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 03/10/2023.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 22/6/2023.
Xử phạt bị cáo Vì Văn K9 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt tù.
Xử phạt bị cáo Hà Văn M 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt tù.
Xử phạt bị cáo Hà Văn Tiến T1 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt tù.
Xử phạt bị cáo Lò Văn K 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt tù.
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị P 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Ngoài ra Bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo cho bị cáo, nguyên đơn dân sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
* Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 26/8/2024 các bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T, Vì Văn K9, Hà Văn M, Hoàng Thị P, Hà Văn Tiến T1, Lò Văn K kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 111/2024/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Mai Sơn. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo hưởng án treo.
* Tại phiên toà phúc thẩm: Các bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T, Vì V, Hà Văn M, Hà Văn Tiến T1, Lò Văn K, Hoàng Thị P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2024/HS-ST ngày 20/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xét xử các bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T, Vì V, Hà Văn M, Lò Văn K, Hà Văn Tiến T1 và Hoàng Thị P về tội “Hủy hoại rừng” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 243 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Bị cáo Lò Văn D và Lò Văn T là người khởi xướng việc họp Ban công tác Mặt trận và họp bản đồng thời trực tiếp chỉ đạo và thực hiện việc đo, phân chia đất rừng phòng hộ tại khu H cho các hộ dân phá rừng lấy đất trồng cây nông nghiệp, do đó giữ vai trò chính trong vụ án.
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lò Văn D, mặc dù có thiếu sót chưa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Đối với bị cáo Lò Văn T Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tài liệu bác của bị cáo là liệt sĩ Lò Tiến L7 được Tổ quốc ghi công là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng căn cứ vào tính chất, mức độ, vai trò của các bị cáo thì mức hình phạt 3 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp.
Các bị cáo Vì Văn K9, Hà Văn M, Lò Văn K, Hà Văn Tiến T1 và Hoàng Thị P là những người tham gia họp Ban công tác mặt trận, họp bản nhất trí theo sự khởi xướng của D và T. Xét thấy các bị cáo giữ vai trò thứ yếu trong vụ án đồng phạm. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được xem xét tại cấp sơ thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo cung cấp thêm đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương là UBND xã M, huyện M trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, ngoài lần phạm tội luôn chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước; bị cáo Lò Văn K cung cấp thêm tài liệu bác của bị cáo là liệt sĩ Lò Tiến L7 được Tổ quốc ghi công là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy các bị cáo có đủ điều kiện áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Do đó đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Vì Văn K9, Hà Văn M, Lò Văn K, Hà Văn Tiến T1 và Hoàng Thị P, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chuyển hình phạt tù sang hình phạt tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo là 05 (năm) năm.
Các bị cáo nhất trí không có ý kiến tranh luận thêm, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/8/2024 các bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T, Vì Văn K9, Hà Văn M, Hoàng Thị P, Hà Văn Tiến T1, Lò Văn K có đơn kháng cáo. Xét đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể và phạm vi kháng cáo nên vụ án được giải quyết theo trình tự phúc thẩm theo quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, vì vậy có đủ cơ sở xác định:
Với vai trò là người đứng đầu Ban công tác mặt trận bản và Ban Q (nay là bản N), xã M, huyện M, tỉnh Sơn La các bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T đã khởi xướng, tổ chức họp Ban công tác mặt trận và các hộ dân trong bản Pom Sản với sự tham gia của Hà Văn M, Vì Văn K9, Lò Văn K, Hà Văn Tiến T1, Hoàng Thị P là đại diện cho các tổ chức, đoàn thể của bản để cùng bàn bạc, thống nhất đo và phân chia đất rừng phòng hộ Huổi Phày thuộc bản Pom Sản (nay là bản N), xã M, huyện M, tỉnh Sơn La cho các hộ dân trong bản hủy hoại rừng để trồng cây cà phê với tổng diện tích 36.400m² thuộc lô a, c, khoảnh 6, tiểu khu C do Cộng đồng bản Pom Sản quản lý, bảo vệ. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00332QSDĐ/77/H-QĐ-UB/2004 do Ủy ban nhân dân huyện M6 cấp ngày 02/3/2004 cho Cộng đồng bản Pom Sản. Theo bản đồ rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đã được UBND tỉnh S phê duyệt tại Quyết định số 3248/QĐ-UBND ngày 27/12/2018: Vị trí: Khu vực vi phạm thuộc khoảnh 6, tiểu khu C. Loại rừng: Quy hoạch rừng phòng hộ. Trạng thái rừng theo Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNN ngày 16/11/2018 của Bộ N6: Vị trí có trạng thái Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo kiệt (ký hiệu: TXK. Theo quy định tại Điều 7 Luật Lâm nghiệp thì Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân (rừng tự nhiên). Tại thời điểm phát hiện vi phạm, rừng đã bị chặt phá toàn bộ diện tích và trồng cây cà phê trên đất. Giá trị rừng bị thiệt hại là 160.072.450 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội Hủy hoại rừng theo quy định điểm c khoản 3 Điều 243 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Về nhân thân: các bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T, Vì V, Hà Văn M, Hoàng Thị P, Hà Văn Tiến T1, Lò Văn K đều chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3.1] Đối với kháng cáo của các bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T:
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo, áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho các bị cáo hưởng mức hình phạt dưới khung hình phạt là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Bị cáo Lò Văn D có thành tích được tặng Bằng khen của Ban chấp hành đảng bộ tỉnh S nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là thiếu sót cần bổ sung; tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lò Văn T cung cấp thêm tài liệu bác của bị cáo là liệt sĩ Lò Tiến L7 được Tổ quốc ghi công là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Trong vụ án các bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T là người có vai trò chính, khởi xướng việc họp Ban công Mặt trận và họp bản đồng thời trực tiếp chỉ đạo và thực hiện việc đo, phân chia đất rừng phòng hộ tại khu H cho các hộ dân nhằm phá hủy rừng lấy đất trồng cây nông nghiệp. Xét thấy mức hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp với tính chất, vai trò và mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, các bị cáo không đủ điều kiện để hưởng án treo.
Do vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét chuyển biện pháp chấp hành hình phạt tù cho các bị cáo được hưởng án treo, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về việc đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên phần hình phạt đối với các bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T là phù hợp.
[3.2] Đối với kháng cáo của các bị cáo Vì Văn K9, Hà Văn M, Lò Văn K, Hà Văn Tiến T1 và Hoàng Thị P:
Trong vụ án các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm, thực hiện dưới sự chỉ đạo của bị cáo Lò Văn T, Lò Văn D cùng tham gia đo và phân chia đất rừng phòng hộ Huổi Phày thuộc bản Pom Sản (nay là bản N), xã M, huyện M, tỉnh Sơn La cho các hộ dân trong bản hủy hoại rừng để trồng cây cà phê với tổng diện tích 36.400m²; các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không phải vì mục đích cá nhân, do các hộ dân trong bản thiếu đất sản xuất, các bị cáo nhận thức mong muốn mở rộng diện tích đất trồng cây cà phê cho dân để tăng thêm thu nhập.
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Điều 54 Bộ luật hình sự cho các bị cáo hưởng mức hình phạt dưới khung hình phạt là 03 (ba) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ phân hóa vai trò của các bị cáo so với bị cáo Lò Văn T, Lò Văn D.
Căn cứ vai trò phạm tội của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này các bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú; thiệt hại đã được các bị cáo khắc phục như bồi thường tiền cho nhà nước, trồng lại cây mới trên diện tích đất rừng đã chặt phá; tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo cung cấp thêm tài liệu là đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của UBND xã M, huyện M - nơi các bị cáo cư trú, xác nhận các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình; bị cáo Hoàng Thị P là người cao tuổi, bị cáo Lò Văn K cung cấp thêm tài liệu bác của bị cáo là liệt sĩ Lò Tiến L7 được Tổ quốc ghi công; Cộng đồng bản Pom Sản nay là bản Nà Cà, xã M và chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú có ý kiến đề nghị cho các bị cáo được hưởng án treo, cải tạo giáo dục tại địa phương.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, các bị cáo Vì Văn K9, Hà Văn M, Lò Văn K, Hà Văn Tiến T1 và Hoàng Thị P có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, việc chuyển biện pháp chấp hành hình phạt tù cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và việc cho các bị cáo được hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội; đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước. Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo là có căn cứ.
[4] Từ những nhận định, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lò Văn D và Lò Văn T, giữ nguyên phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2024/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đối với bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T và chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hà Văn M, Vì Văn K9, Lò Văn K, Hà Văn Tiến T1, Hoàng Thị P sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2024/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
[5] Về án phí phúc thẩm:
Các bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo của các bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các bị cáo Hà Văn M, Vì Văn K9, Lò Văn K, Hà Văn Tiến T1, Hoàng Thị P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo của các bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2024/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đối với phần hình phạt của các bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Vì Văn K9, Hà Văn M, Lò Văn K, Hà Văn Tiến T1 và Hoàng Thị P; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2024/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La như sau:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 243 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố các bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T, Vì V, Hà Văn M, Lò Văn K, Hà Văn Tiến T1 và Hoàng Thị P phạm tội “Hủy hoại rừng”.
1.1 Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 243; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Lò Văn D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 03/10/2023.
1.2 Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 22/6/2023.
1.3 Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Vì Văn K9 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 27/11/2024).
Xử phạt bị cáo Hà Văn M 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 27/11/2024).
Xử phạt bị cáo Hà Văn Tiến T1 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 27/11/2024).
Xử phạt bị cáo Lò Văn K 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 27/11/2024).
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị P 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 27/11/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Giao các bị cáo Vì Văn K9, Hà Văn M, Hà Văn Tiến T1, Lò Văn K và Hoàng Thị P cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 21; điểm b, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các bị cáo Vì Văn K9, Hà Văn M, Hà Văn Tiến T1, Lò Văn K, Hoàng Thị P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 27/11/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điêu Thị Kim Liên |
|
Các thẩm phán Vũ Văn Nghĩa Lan |
Đinh Thị Mai |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Điêu Thị Kim Liên |
Bản án số 02/2024/HSPT ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về hủy hoại rừng
- Số bản án: 02/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 243. Tội hủy hoại rừng
