|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/HS-PT Ngày: 08/01/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;
Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Minh và ông Nguyễn Việt Hùng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông – Kiểm sát viên Trung cấp.
Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 79/2023/TLPT-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Trần Minh S, do có kháng cáo của bị cáo và bị đơn dân sự đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2023/HS-ST ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên.
Bị cáo có kháng cáo: Trần Minh S, sinh ngày 11/5/1981; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố E, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh H, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1957; có vợ Lê Thị Mai T, sinh năm 1984 và 01 con, sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
Người bào chữa của bị cáo Trần Minh S: Ông Nguyễn Hương Q – Luật sư, Công ty L3, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và được bị cáo đồng ý.
Bị hại: Nguyễn Văn N, sinh ngày 13/6/2005 (chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn N: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1971; bà Huỳnh Thị N1, sinh năm 1974; cùng nơi cư trú: Thôn C, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; là cha, mẹ bị hại; có mặt.
Bị đơn dân sự có kháng cáo: Công ty trách nhiệm hữu hạn X; Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Đồng H1, sinh năm 1981 – Giám đốc công ty. Nơi cư trú: Thôn P, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn N2, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Thôn P, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn dân sự: Ông Nguyễn Hương Q – Luật sư Công ty L3, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và được đại diện theo ủy quyền của bị đơn dân sự đồng ý.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị Mỹ L1, sinh năm 1973. Nơi cư trú: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
Người giám định: Ông Lê Phú S1 – Giám định viên, Trung tâm pháp y tỉnh P; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
- Chị Trần Thị Nhật N3, sinh năm 1988; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1971; vắng mặt.
- Anh Trần Văn T2, sinh năm 1981; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Hồng N4, sinh năm 1984; vắng mặt.
Cùng nơi cư trú: Thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
- Em Huỳnh Công A, sinh ngày 06/6/2005; Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh K, sinh năm 1973; Cùng nới cư trú: Thôn C, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 50 phút ngày 23/9/2020, Trần Minh S có giấy phép lái xe hạng FC điều khiển xe ô tô tải biển số 78C – 042.61(do Công ty TNHH X làm chủ sở hữu) lưu hành hướng Đông – Tây trên Quốc lộ B. Khi đến Km 34+ 100m Quốc lộ B thuộc thôn P, xã H, thị xã Đ, Nguyễn Văn N đang điều khiển xe mô tô biển số 78FB – 6133 (do bà Huỳnh Thị N1 mẹ ruột của N làm chủ sở hữu) lưu hành theo hướng Tây – Đông. Lúc này, S điều khiển xe ô tô tải biển số 78C – 042.61 lấn sang làn đường ngược chiều Nhất đang lưu hành, khoảng cách giữa xe bị cáo và xe Nhất khoảng 20 mét; N điều khiển xe tránh sang bên phải phần đường của N thì va chạm với xe mô tô do người phụ nữ chưa xác định được điều khiển phía trước cùng chiều, N điều khiển xe chạy loạng choạng rồi ngã, bị bánh ngoài trục ba bên trái xe ô tô tải biển số 78C – 042.61 do S điều khiển va chạm vào mũ bảo hiểm đang đội trên đầu N. Hậu quả, mũ bảo hiểm Nhất đội trên đầu bị hư hỏng nặng (phần nhựa của mũ bảo hiểm vỡ hoàn toàn, phần xốp của mũ bảo hiểm vỡ dẹp, biến dạng); N bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh P, rồi chuyển viện điều trị tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh với tỷ lệ
thương tích 99%, quá trình điều trị không hồi phục, bị suy kiệt đến ngày 04/5/2022 thì chết, thiệt hại tài sản trị giá 150.000 đồng.
Theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 343/TgT ngày 26/11/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn N là 99%.
Theo Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 85 ngày 09/6/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Văn N do suy kiệt + tổn thương đa tạng/ chấn thương sọ não.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 51 ngày 14/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản T: 01 mũ bảo hiểm màu đỏ, vành mũ màu đen, không kính chắn gió, đã qua sử dụng, bị hư hỏng hoàn toàn thiệt hại trị giá 150.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2023/HS-ST ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Trần Minh S phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 260; Điểm b Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; phạt: Bị cáo Trần Minh S 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn X phải bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn N số tiền 625.258.000 đồng, đã bồi thường trước 105.000.000 đồng, còn phải tiếp tục bồi thường 520.258.000 đồng (Năm trăm hai mươi triệu, hai trăm năm mươi tám nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/10/2023, bị cáo Trần Minh S kháng cáo kêu oan;
Ngày 10/10/2023, bị đơn dân sự Công ty TNHH X kháng cáo xem xét lại tội danh và mức bồi thường dân sự.
Các tài có tại hồ sơ vụ án, thể hiện:
- Biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường ghi nhận: Tại vị trí xảy ra tai nạn, mặt đường nhựa bằng phẳng, rộng 5,25m, có vạch kẽ đứt quãng màu vàng, cách mép đường nhựa phía nam 2,67m. Diện vỡ nhựa màu đỏ, đen nằm trên mặt đường, kích thước (2,1x0,9)m có tâm diện cách mép đường nhựa phía nam 2,5m về phía bắc, cách tâm đầu 2 vết ma sát màu đen về phía Đông Nam là 7,4m.
- Kết quả khám xe ô tô 78C-042.61: Có kích thước dài 4,40m, rộng 2,45m; mặt ngoài bánh ngoài bên trái trục 3 có vết ma sát cao su kích thước (9x8)cm, cách vết này 11cm theo chiều tịnh tiến của bánh xe, trên mặt nằm có diện bám dính tạp chất màu đỏ kích thước (13,5x4)cm.
- Kết quả khám xe mô tô 78FB-6133: Bên trong giỏ xe có 01 mũ bảo hiểm có lớp vỏ bên ngoài bằng nhựa màu đỏ đã bị vỡ mất nhựa chỉ còn lại một số mảnh vỡ nhỏ, để lộ lớp xốp màu trắng bên trong vỡ nát, biến dạng hoàn toàn.
- Bệnh án Bệnh viện đa khoa tỉnh P, ghi nhận: Nguyễn Văn N bị sưng nề thái dương phải + trái; sưng nề vùng chẩm; bị chấn thương sọ não kín.
Lời khai của người làm chứng:
- Trần Thị Nhật N3, là người bán cháo dinh dưỡng tại nhà, đối diện vị trí xảy ra tai nạn, là người chứng kiến trực tiếp từ đầu quá trình xảy ra tai nạn và là người đưa nạn nhân đi cấp cứu, khai:
Lời khai ban đầu lúc 7 giờ ngày 23/9/2020 (sau hơn 01 giờ khi xảy ra tai nạn): khi em học sinh điều khiển xe vượt lên, va quẹt vào đuôi xe máy của cô áo xanh, thì bị ngã xuống đường, va vào bánh xe sau của xe tải đang đi lên.
Lời khai ngày 29/12/2020: “Tôi nghe tiếng động do xe ô tô tải thắng gấp, đầu xe ô tô tải này tránh khỏi em học sinh nam nhưng bánh xe ngoài bên trái phía sau cùng của xe ô tô tải va chạm vào phần đầu của em học sinh. Tôi thấy phần đầu của em học sinh có đội mũ bảo hiểm bị va chạm vào bánh xe rồi bật lại, đồng thời nghe tiếng động rất lớn do phần mũ bảo hiểm của em học sinh bị vỡ vụn, còn trên đầu em học sinh này chỉ còn lại xốp và quai mũ bảo hiểm”, “khi em nam học sinh này ngã về bên trái, thì va chạm với bánh xe sau ô tô tải đi ngược chiều, làm em học sinh này bật lại và nằm ở phía nam đường” (BL 202, 203).
Lời khai và bản tự khai ngày 08/7/2022 “nghe tiếng động rất lớn do phần mũ bảo hiểm bị vỡ còn lại phần xốp và quai còn đội trên đầu... tôi là người tháo mũ bảo hiểm của em học sinh bỏ bên cạnh em” (BL 1146, 1148).
- Nguyễn Thị L2, là người bán trái cây chứng kiến sự việc, khai: “Thấy trên đường Q, cách chỗ tôi khoảng 5m nam học sinh đi xe Chaly hướng T – Đ bị ngã xuống đường. Lúc này có xe ô tô tải đi ngược chiều đến cách nam học sinh khoảng 2m, người này thắng xe lại, đầu xe ô tô tải tránh được, nhưng phần bánh xe sau cùng bên trái của xe ô tô tông vào mũ bảo hiểm đang đội trên đầu của nam học sinh, làm mũ bảo hiểm vỡ nhựa, nam học sinh nằm im. Tôi cùng một số người chạy đến thí thấy phần xốp mũ bảo hiểm vẫn ở trên đầu nam học sinh, phần quay mũ bảo hiểm vẫn ở trên cổ nam học sinh” (BL 210).
- Trần Văn T2, là người đang uống cà phê cách chỗ xảy ra tai nạn khoảng 20m, khi tai nạn xảy ra thì đến xem và là người đưa nạn nhân đi cấp cứu, khai: Tôi thấy trên đầu nam học sinh trên đầu còn đội mũ bảo hiểm, phần nhựa mũ bảo hiểm bị vỡ rơi trên đường, còn phần xốp và quai mũ bảo hiểm ở trên đầu (BL 218, 219).
- Lê Văn N2, Trưởng phòng quản lý, điều hành Công ty TNHH X, khai: Khoảng 6 giờ ngày 23/9/2020, anh Trần Minh S là lái xe ô tô tải biển số 78C-04261 có gọi điện thoại báo cho tôi là xe xảy ra tai nạn ở P, xe mô tô của nam học sinh va chạm vào xe mô tô của người phụ nữ đi phía trước thì té ngã xuống đường nên S phanh xe thì phần sau va chạm vào nam thanh niên (BL 235, 237).
- Bị cáo Trần Minh S: Ban đầu khai nhận, bị cáo điều khiển xe ô tô tải 78C-042.61 đi đến khu vực chợ P, do né tránh người phụ nữ đi bộ cùng chiều nên bị cáo điều khiển xe lấn qua đường xe ngược chiều. Lúc này ở phần đường ngược chiều, N điều khiển xe va chạm vào xe của người phụ nữ đi trước thì N và xe ngã xuống đường. Lúc này đầu xe của bị cáo cách xe máy của Nhất khoảng 01- 02m thì bị cáo phanh xe và đánh tay lái sang phải nhưng chỉ lách được phần bánh trước ... phần lốp bánh xe ngoài bên trái trục 3 tính từ trước ra sau va chạm vào đầu N đang đội mũ bảo hiểm khi N té nằm trên đường. Vị trí va chạm là trên phần đường xe ngược chiều, phía trái chiều đi của xe bị cáo. (BL 141, 142, 160, 161,...).
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh S vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo kêu oan.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Minh S; kháng cáo của Bị đơn dân sự – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bào chữa của bị cáo cho rằng, chưa đủ căn cứ chứng minh bị cáo điều khiển xe ô tô lấn sang phần đường ngược chiều gây tai nạn, nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.
Kiểm sát viên đối đáp, không thống nhất lời bào chữa của Luật sư, giữ nguyên quan điểm. Bị cáo Trần Văn S2 không tranh luận gì; nói lời sau cùng, bị cáo tiếp tục kêu oan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về Tội danh: Mặc dù lời khai của bị cáo Trần Minh S trước, sau không thống nhất; lúc thì thừa nhận hành vi phạm tội, lúc thì chỉ thừa nhận điều khiển xe ô tô tải 78C-042.61 đi không đúng phần đường, lấn sang đường ngược chiều nên bánh ngoài bên trái trục 3 xe ô tô tải cán qua mũ bảo hiểm đã rời ra khỏi đầu của bị hại Nguyễn Văn N.
Tuy nhiên, các chứng cứ đã thu thập đủ để giải quyết vụ án và được đánh giá ở trên, cho thấy: Khi Nguyễn Văn N điều khiển xe Chaly vượt lên, va quẹt vào đuôi xe mô tô của người phụ nữ áo xanh (chưa rõ họ tên, địa chỉ) thì bị ngã xuống đường. Lúc này, xe ô tô tải 78C-042.61 do bị cáo Trần Minh S điều khiển lấn sang
làn đường ngược chiều làm bánh xe ngoài bên trái trục 3 va chạm vào mũ bảo hiểm Nhất đang đội trên đầu, làm phần nhựa mũ bảo hiểm vỡ hoàn toàn, phần xốp bị biến dạng, quai mũ bảo hiểm còn ở trên cổ. Nguyễn Văn N bị sưng nề thái dương phải + trái; sưng nề vùng chẩm; bị chấn thương sọ não kín. Thương tích của Nguyễn Văn N là 99%. Qúa trình điều trị do suy kiệt + tổn thương đa tạng/ chấn thương sọ não dẫn đến chết.
Vì vậy, lời khai nhận tội ban đầu của bị cáo phù hợp với lời khai của Lê Văn N2 mà bị cáo gọi điện thoại báo tin ngay sau lúc xảy ra tai nạn, phù hợp lời khai của người chứng kiến trực tiếp sự việc là bà Trần Thị Nhật N3, bà Nguyễn Thị L2, phù hợp với kết quả giám định thương tích, giám định tử thi, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả xem xét dấu vết trên phương tiện giao thông gây tai nạn và vật chứng thu giữ, có cơ sở xác định: Khoảng 05 giờ 50 phút ngày 23/9/2020, tại Km 34+100m Quốc lộ B thuộc thôn P, xã H, thị xã Đ. Trần Minh S đã có hành vi điều khiển xe ô tô tải biển số 78C-042.61 lưu hành lấn sang phần đường bên trái gây tai nạn làm Nguyễn Văn N bị thương 99%, quá trình điều trị không hồi phục bị suy kiệt đến ngày 04/5/2022 thì chết. Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điểm a, Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội, không oan. Việc Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại là không có cơ sở, nên không chấp nhận.
[2] Về Hình phạt: Hành vi của bị cáo Trần Minh S đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, làm thiệt hại đến tính mạng của người khác nên cần xử phạt nghiêm. Khi lượng hình án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án; áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, để phạt bị cáo 01 năm tù là phù hợp. Do đó, chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo.
[3] Về phần trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Minh S là người lái xe thuê cho công ty trách nhiệm hữu hạn X thông qua hợp đồng lao động, được Công ty trách nhiệm hữu hạn X trả tiền lương hàng tháng. Công ty trách nhiệm hữu hạn X là chủ sở hữu, khai thác và hưởng lợi từ xe ô tô tải biển số 78C – 042.61 nên Công ty trách nhiệm hữu hạn X phải bồi thường cho người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Văn N. Sau khi đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường, Công ty trách nhiệm hữu hạn X có quyền yêu cầu bị cáo bồi hoàn lại.
Theo đơn yêu cầu của đại diện hợp pháp cho bị hại, cấp sơ thẩm đã chấp nhận các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ như sau: Chi phí điều trị có hoá đơn: 172.186.279 đồng; Chi phí tiền tàu xe: 25.848.000 đồng; Tiền trọ cho người chăm sóc: 14 ngày x 100.000đ/ngày = 1.400.000 đồng; Thu nhập bị tổn thất của người
chăm sóc: 250.000đ/ngày x 608 ngày = 152.000.000 đồng; Tiền tổn thất tinh thần: 100 tháng lương cơ sở 100 x 1.490.000₫ = 149.000.000 đồng; Tiền mai táng trọn gói: 22.500.000 đồng; Chi phí hợp lý khác: 102.174.000 đồng. Tổng cộng: 625.108.000 đồng. Thiệt hại tài sản là mũ bảo hiểm trị giá 150.000 đồng. Tổng số tiền được chấp nhận là 625.258.000 đồng.
Bản án sơ thẩm đã tính đúng, tính đủ các khoản thiệt hại, chi phí hợp lý hợp lệ, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn dân sự, chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự. Buộc bị đơn dân sự Công ty trách nhiệm hữu hạn X phải bồi thường cho người đại diện hợp pháp bị hại Nguyễn Văn N số tiền 625.258.000 đồng, đã bồi thường trước 105.000.000 đồng nên phải tiếp tục bồi thường số tiền 520.258.000 đồng.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên không xét.
[5] Bị cáo Trần Minh S kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Bị đơn dân sự kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Minh S; kháng cáo của bị đơn dân sự Công ty trách nhiệm hữu hạn X – Giữ nguyên bản án sơ thẩm;
Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Về Hình phạt: Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 260; Điểm b Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Phạt: Bị cáo Trần Minh S – 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; 585; 590; 591; 600; 601 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn X phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn T1, bà Huỳnh Thị N1 (đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn N) nhận số tiền 625.258.000 đồng, đã bồi thường trước 105.000.000 đồng, còn phải tiếp tục bồi thường 520.258.000 đồng (Năm trăm hai mươi triệu, hai trăm năm mươi tám
nghìn đồng). Sau khi đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường, Công ty trách nhiệm hữu hạn X có quyền yêu cầu bị cáo bồi hoàn lại.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo Trần Minh S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Công ty trách nhiệm hữu hạn X phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Nguyên Tùng |
Bản án số 02/2024/HS-PT ngày 08/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 02/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Minh S
