|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 02/2024/HS-ST Ngày: 10 – 01 – 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Vượng
Ông Điểu Toàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Khải Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Sáu - Kiểm sát viên.
Ngày 10/01/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước đã xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/TLST-HS ngày 28/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2023/QĐXXST-HS ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước đối với các bị cáo:
-
Huỳnh Văn C, sinh năm 1999, tại: tỉnh Bình Phước. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 6/12. Con ông: Huỳnh Thanh C1 và bà Bùi Thị Ú. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.
Ngày 13/7/2023 bị can có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị bắt khẩn cấp, tạm giữ hình sự từ ngày 14/7/2023, đến ngày 21/7/2023 bị khởi tố và tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện H.
-
Bùi Văn T, sinh năm 1987, tại: tỉnh Hải Dương. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 9/12. Con ông: Bùi Văn O và bà Nguyễn Thị T1. Bị cáo có vợ tên Lê Thị Phương T2, bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2011. Tiền án: Không. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.
Tiền sự: Có 01 tiền sự, ngày 10/12/2020 Tòa án nhân huyện B, tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn T với thời hạn 14 tháng, đến ngày 16/11/2021 bị can chấp hành xong quyết định.
Ngày 13/7/2023 bị can có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị bắt quả tang, tạm giữ hình sự, đến ngày 21/7/2023 bị khởi tố và tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện H.
-
Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1996, tại: tỉnh Bình Phước. Tên gọi khác: D; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Tổ A, ấp C, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 6/12. Con ông: Nguyễn Thành Q và bà Huỳnh Thị H. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.
Ngày 13/7/2023 bị can có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị bắt khẩn cấp, tạm giữ hình sự từ ngày 14/7/2023, đến ngày 21/7/2023 bị khởi tố và tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện H.
-
Nguyễn Ngọc D1, sinh năm 1970, tại: tỉnh Thanh Hóa. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Tổ G, ấp A, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Bảo vệ. Trình độ học vấn: 3/12. Con ông: Nguyễn Ngọc H1 và bà Trần Thị Ê. Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị X, bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2001. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.
Về nhân thân: Ngày 14/02/2006 Công an huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là công an thị xã B) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc, bị cáo chưa nộp tiền phạt, tuy nhiên Quyết định hành chính đã hết thời hiệu xử lý.
Ngày 13/7/2023 bị can có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị bắt quả tang, tạm giữ hình sự, đến ngày 21/7/2023 bị khởi tố và tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bùi Văn T và Huỳnh Văn C là bạn bè quen biết nhau từ trước và có sử dụng chất ma túy. Khoảng 02 giờ sáng ngày 13/7/2023, C nhắn tin Z rủ Bùi Văn T góp tiền mua ma túy để sử dụng thì T đồng ý và góp số tiền 200.000đ, còn C góp số tiền 100.000đ. Sau đó, C đến gặp T lấy số tiền 200.000 đồng rồi đi đến khu vực gần quán “bida 555” phường A, thị xã B gặp một người tên P (không rõ lai lịch) mua một gói ma túy với giá 300.000đ. Sau khi mua được ma túy, C đem ma túy đến lô cao su, thuộc tổ I, khu phố B, phường H, thị xã B gặp T. Tại đây, T đưa nỏ thủy tinh (bộ D2 sử dụng ma túy) cho C để C đổ ma túy vào nỏ, rồi cả 02 cùng sử dụng ma túy được khoảng 10 phút rồi T đi cạo mủ cao su, còn C đi về nhà.
Đến khoảng 6 giờ ngày 13/7/2023, Nguyễn Quốc N gọi điện thoại cho Huỳnh Văn Công m nỏ thủy tinh để làm dụng cụ sử dụng chất ma túy thì C đồng ý. Do C không có nỏ thủy tinh nên C gọi cho T qua Z để mượn nỏ thủy tinh thì T đồng ý, C không nói cho T biết mục đích của việc mượn nỏ thủy tinh và T cũng không biết Công mượn nỏ thủy tinh để làm gì. Sau đó C đi đến nhà T lấy nỏ thủy tinh rồi đưa đến nhà của Nguyễn Quốc N, thuộc tổ D, khu phố P, phường H, thị xã B cho N mượn. Sau khi mượn được nỏ thủy tinh, N đổ ma túy vào nỏ rồi một mình sử dụng ma túy; còn C ngồi chơi, không tham gia sử ma túy cùng với N.
Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 13/7/2023, Nguyễn Thành Đ điều khiển xe môtô biển số 59M1-778.44 chở Bùi Văn T đến gặp Nguyễn Ngọc D1, đang làm bảo vệ tại Công ty trách nhiệm hữu hạn C2, thuộc tổ C, ấp D, xã M, huyện H để chơi. Khi đến phòng bảo vệ chơi được một lúc, Đ rủ T và D1 sử dụng ma túy thì T và D1 đồng ý. T nói với Đ và D1 để T kiếm ma túy. Sau đó, T gọi điện thoại cho Huỳnh Văn C để xin một ít ma túy để sử dụng (thời điểm này C đang ở nhà N), C đồng ý và nói T đến ngã ba cây xăng “Bạch Hổ”, thuộc ấp B, xã M, huyện H để lấy nỏ thủy tinh chứa ma túy. Sau đó, T kêu Đ đi đến ngã ba cây xăng “Bạch Hổ” gặp C lấy nỏ thủy tinh chứa ma túy về cho cả nhóm sử dụng thì Đ đồng ý và một mình điều khiển xe môtô biển số 59M1-778.44 đến gặp C. Đến khoảng hơn 10 giờ cùng ngày, Đ cầm nỏ thủy tinh chứa ma túy do C đưa, đi về phòng bảo vệ của Công ty CP C2. Tại đây, Đ nhặt 01 đoạn ống hút nhựa màu đen, còn D1 lấy 01 vỏ chai nhựa hiệu Wake-up 247 đưa cho Đ chế thành một bộ dụng cụ sử dụng ma túy, rồi cả nhóm gồm T, Đ và D1 cùng nhau sử dụng ma túy trong phòng bảo vệ. Cả 03 người gồm T, Đ, D1 vừa xoay tua sử dụng ma túy vừa trò chuyện, sử dụng điện thoại đến khoảng 11 giờ cùng ngày thì hết số ma túy trong nỏ thủy tinh. Sau khi sử dụng ma túy xong T, Đ, D1 ngồi chơi nói chuyện tại phòng bảo vệ đến khoảng 15 giờ 30 cùng ngày 13/7/2023 thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang các đối tượng có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Bùi Văn T, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Ngọc D1 và Huỳnh Văn C đều cho kết quả dương tính với chất ma túy.
Quá trình kiểm tra và thu giữ trong túi quần của Đ đang mặc có 01 nắp nhựa màu đỏ gắn nỏ thủy tinh (bầu tròn của nỏ thủy tinh đã bị vỡ ra nhiều mảnh) và xung quanh địa điểm các đối tượng tổ chức sử dụng ma túy có các dụng cụ sử dụng ma túy gồm: một quẹt ga và một đoạn ống hút nhựa màu đen, một vỏ chai nhựa hiệu Wake-up 247 (các bộ phận của bộ D2 sử dụng ma túy). Kết luận giám định số: 779/KL-KTHS ngày 20/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chất màu nâu đen bám dính trên ống và các mảnh vỡ thủy tinh được niêm phong gửi giám định không tìm thấy ma túy.
Bản cáo trạng số 108/CT-VKSHQ ngày 27/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo Huỳnh Văn C và Bùi Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị cáo Nguyễn Thành Đ và Nguyễn Ngọc D1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên Tòa các bị cáo Bùi Văn T, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Ngọc D1 và Huỳnh Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và đề nghị mức hình phạt cụ thể như sau:
Áp dụng điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm a, b khoản 2, Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Văn C mức án từ 08(tám) năm đến 09 (chín) năm tù.
Áp dụng điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm a, b khoản 2, Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn T mức án từ 08(tám) năm đến 09 (chín) năm tù.
Áp dụng điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm b, khoản 2, Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ mức án từ 07(bảy) năm tù đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Nguyễn Ngọc D1 mức án từ 07(bảy) năm tù đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2, khoản 3, Điều 106, Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án:
- Tịch thu, tiêu hủy nỏ thủy tinh đựng trong một gói nylon niêm phong trong một bì thư ghi mẫu vật hoàn lại sau giám định vụ số: 779, ngày 28/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, là vật chứng của vụ án, hiện không còn giá trị sử dụng. 01 vỏ chai nhựa nhãn hiệu Wake-up 247 có nắp nhựa màu đỏ, trên nắp có đục 02 lỗ tròn; 01 đoạn ống hút nhựa màu đen; 01 quẹt ga màu hồng trắng nhãn hiệu H2
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành Đ 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy A01 màu xanh đen thu giữ của Nguyễn Thành Đ. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc D1 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy J7 màu xám đen là tài sản cá nhân của các bị cáo, không liên quan đến vụ án.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định 01 điện thoại di động hiệu VIVO 1906 màu xanh đen, số IMEI: 861325045520813, 01 điện thoại di động hiệu Nokia C20 màu đen, số kiểu máy TA-1352.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu KSHAHI biển số 59M1-778.44, xe mô tô trên do bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1978 (mẹ của bị can Đ) là chủ sở hữu hợp pháp. Cơ quan điều tra đã trả lại xe môtô trên cho bà Huỳnh Thị H nên không đề cập.
Lời nói sau cùng của bị cáo đã nhận thức rõ được hành vi sai phạm theo pháp luật của mình nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ nhất hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận cụ thể toàn bộ hành vi phạm tội của mình, căn cứ diễn biến hồ sơ vụ án, lời khai của các bị cáo đã xác định được hành vi phạm tội của bị cáo như sau:
Vào khoảng 2 giờ sáng ngày 13/7/2023, Huỳnh Văn C và Bùi Văn T có hành vi cùng góp tiền mua ma túy, rồi cùng sử dụng tại lô cao su thuộc tổ I, khu phố B, phường H, thị xã B. Đến khoảng 8 giờ ngày 13/7/2023 Huỳnh Văn C có hành vi cung cấp nỏ thủy tinh cho Nguyễn Quốc N sử dụng ma túy tại tổ D, khu phố P, phường H, thị xã B. Vào khoảng 10 giờ ngày 13/7/2023, Huỳnh Văn C đã có hành vi cung cấp chất ma túy cho Bùi Văn T để T cùng với Nguyễn Thành Đ và Nguyễn Ngọc D1 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng bảo vệ của Công ty CP C2 và bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
[3] Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên Tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; sơ đồ hiện trường; biên bản khám xét cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án đã được thu thập có trong hồ sơ. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm, các bị cáo tiếp thu ý chí của nhau không có bàn bạc, việc phân công cụ thể vai trò của từng người tùy vào ý thức cụ thể của từng bị cáo. Cụ thể vào thời điểm 10h ngày 13/7/2023 Nguyễn Thành Đ là người chở Bùi Văn T vào chỗ làm việc của Nguyễn Ngọc D1 và Đ là người khởi xướng rủ các bị cáo cùng chơi ma túy, bị cáo T là người chủ động gọi bị cáo Huỳnh Văn C để xin ma túy, bị cáo C đồng ý cung cấp nỏ thủy tinh và ma túy cho các bị cáo, bị cáo Đ là người trực tiếp đi lấy ma túy về nơi làm việc của bị cáo Nguyễn Ngọc D1 và cả ba bị cáo cùng sử dụng ma túy, bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Đối chiếu hành vi nêu trên của các bị cáo với những quy định của pháp luật thì các bị cáo đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, việc đưa các bị cáo ra xét xử công khai, xử lý về hình sự đối với các bị cáo là cần thiết nhằm góp phần trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Hội đồng xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Hội đồng xét cần áp dụng hình phạt đối với từng bị cáo ở những mức độ khác nhau, có như vậy mới thể hiện rõ vị trí, vai trò trong đồng phạm. Cụ thể:
- Đối với Huỳnh Văn C: Ngoài lần phạm tội với hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy cho nhóm của T, Đ, D1 bị bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định thêm bị cáo có 02 lần tổ chức sử dụng trái pháp chất ma túy, bao gồm:
Lần 1: Khoảng 2 giờ sáng ngày 13/7/2023, Huỳnh Văn C và Bùi Văn T cùng góp tiền mua ma túy, rồi cùng sử dụng tại lô cao su thuộc tổ I, khu phố B, phường H, thị xã B. Ở lần phạm tội này C có vai trò chính là người khởi xướng và người thực hành, khi trực tiếp mua ma túy từ đối tượng tên P và rủ T cùng sử dụng ma túy.
Lần 2: Khoảng 8 giờ ngày 13/7/2023 Huỳnh Văn C có hành vi cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy cho Nguyễn Quốc N sử dụng ma túy tại tổ D, khu phố P, phường H, thị xã B.
Do đó cần xem xét mức án nghiêm khắc đối với bị cáo sau khi xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
- Đối với Bùi Văn T, ngoài lần phạm tội với hành vi chủ động liên lạc gọi bị cáo Huỳnh Văn C để xin ma túy, cử Nguyễn Thành Đ lấy dụng cụ sử dụng ma túy cho nhóm của T, Đ, D1 bị bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định T có 01 lần tổ chức sử dụng trái pháp chất ma túy cùng Huỳnh Văn C như đã nêu ở trên với vai trò là người thực hành. Ngoài ra, bị cáo cũng có 01 tiền sự, nhưng vẫn vi phạm pháp luật hình sự nên cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc để răn đe, phòng ngừa chung.
Như vậy, bị cáo Bùi Văn T và bị cáo Huỳnh Văn C đều bị xử lý theo quy định tại điểm a, điểm b, khoản 2, Điều 255, của Bộ luật Hình sự “Phạm tội hai lần trở lên” và “Đối với hai người trở lên”
- Đối với Nguyễn Thành Đ: Việc phạm tội của Đ cũng với vai trò vừa là người khởi xướng vừa là người thực hành.Vào ngày 13/7/2023, Đ là người chủ động rủ các bị cáo sử dụng ma túy, làm theo yêu cầu của Bùi Văn T đi gặp Huỳnh Văn C lấy nỏ thủy tinh chứa chất ma túy mang về chuẩn bị một số các đồ vật có sẵn là ống hút nhựa, quẹt ga, vỏ chai nhựa (nhãn hiệu Wake-up 247) để gắn với cái nắp chai nhựa màu đỏ có nỏ thủy tinh chứa ma túy chế thành một bộ dụng cụ cho cả nhóm cùng sử dụng ma túy.
- Đối với Nguyễn Ngọc D1: Vào ngày 13/7/2023, Nguyễn Ngọc D1, là bảo vệ cổng của Công ty CP C2; là người canh gác, quản lý phòng bảo vệ, sử dụng nơi làm việc, tìm dụng cụ vỏ chai nhựa cho Nguyễn Thành Đ chế bộ dụng cụ để cùng các bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhưng có nhân thân xấu do đã bị xử phạt hành chính.
Do đó, bị cáo Nguyễn Thành Đ và bị cáo Nguyễn Ngọc D1 đều bị xử lý theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255, của Bộ luật Hình sự “Đối với hai người trở lên".
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản1, Điều 51, Bộ luật hình sự là căn cứ để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo được hưởng các chính sách khoan hồng của pháp luật và trở thành người có ích cho xã hội. Riêng bị cáo Bùi Văn T, do bị cáo có hai con nhỏ, trước khi phạm tội là lao động chính nên xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2, Điều 51, Bộ luật Hình sự.
[7] Các hành vi khác:
Đối với Nguyễn Quốc N: Quá trình điều tra đã xác định, Nghĩa là người được Huỳnh Văn C cho mượn nỏ thủy tinh để một mình sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 13/7/2023 tại nhà của N. N không có hành vi cung cấp ma túy cho các bị can sử dụng, do đó hành vi của Nguyễn Quốc N không đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức hoặc tàng trữ trái phép chất ma túy. Công an phường H, thị xã B đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Quốc N về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là có cơ sở.
Đối với nam thanh niên tên P đã bán ma túy cho Huỳnh Văn C: Quá trình xác minh thu thập tài liệu không xác định được nhân thân, lai lịch của nam thanh niên tên P nên không có cơ sở đề nghị xử lý.
[8] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề xuất mức hình phạt tù là có căn cứ chấp nhận.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Vụ án không phát sinh trách nhiệm Dân sự.
[10] Xử lý vật chứng vụ án: Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên Tòa và bản cáo trạng đã đề cập về xử lý vật chứng.
[11] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Văn C, Bùi Văn T, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Ngọc D1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
-
Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- - Áp dụng điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm a, b khoản 2, Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn C 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2023.
- - Áp dụng điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm a, b khoản 2, Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2023.
- - Áp dụng điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm b, khoản 2, Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2023.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2023.
-
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
- Tịch thu, tiêu hủy nỏ thủy tinh đựng trong một gói nylon niêm phong trong một bì thư ghi mẫu vật hoàn lại sau giám định vụ số: 779, ngày 28/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, là vật chứng của vụ án, hiện không còn giá trị sử dụng. 01 vỏ chai nhựa nhãn hiệu Wake-up 247 có nắp nhựa màu đỏ, trên nắp có đục 02 lỗ tròn; 01 đoạn ống hút nhựa màu đen; 01 quẹt ga màu hồng trắng nhãn hiệu H2
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành Đ 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy A01 màu xanh đen thu giữ của Nguyễn Thành Đ. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc D1 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy J7 màu xám đen là tài sản cá nhân của các bị cáo, không liên quan đến vụ án.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định 01 điện thoại di động hiệu VIVO 1906 màu xanh đen, số IMEI: 861325045520813, 01 điện thoại di động hiệu Nokia C20 màu đen, số kiểu máy TA-1352.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0005952 ngày 01/12/2023 giữa Công an huyện H và Chi cục hi hành án Dân sự huyện H)
-
Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q1.
Các bị cáo Huỳnh Văn C, Bùi Văn T, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Ngọc D1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hồng |
Bản án số 02/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 02/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo phạm tội
