Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÁC ÁI

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22-4-2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁC ÁI, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Đồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Quốc Huy.

Bà Ca Dá Thị Lính.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Thành Chế Trọng Triết - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXX-ST ngày 11 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1994. (Có mặt)
  2. Bị đơn: Anh Phạm T, sinh năm 1994. (Vắng mặt không lý do)

Cùng địa chỉ: thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L vào năm 2014. Cuộc sống vợ chồng tương đối hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã; Anh T ham chơi cờ bạc, không quan tâm vợ con. Mâu thuẫn xảy ra trầm trọng, không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng nên từ cuối năm 2022 đến nay, hai người bỏ mặc mạnh ai nấy sống, không quan tâm gì đến nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc gia đình không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị và anh T có 01 (một) người con chung là cháu Phạm Đ, sinh ngày 07/8/2014. Cháu Đ đang sống với chị L.

Hiện nay, chị L làm nghề buôn bán, thu nhập tương đối ổn định, khoảng 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng/tháng, đủ trang trải cuộc sống và lo cho con.

Khi ly hôn, chị L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phạm Đạt. Chị L không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Phạm T: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Tòa án đã niêm yết công khai các văn bản tố tụng, triệu tập anh T đến giải quyết vụ việc ly hôn với chị L, nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời khai, không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không có lý do. Chị L yêu cầu giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành và thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình, nhiều lần vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây vụ án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn cư trú tại xã P, huyện B, tỉnh Ninh Thuận. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bác Ái theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Hôn nhân giữa chị L và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị L có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  • Về quan hệ hôn nhân: Chị L được ly hôn với anh T.
  • Về con chung: Giao cháu Phạm Đ, sinh ngày 07/8/2014 cho chị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  • Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001908 ngày 10/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bác Ái.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Chị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với anh T. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại thôn T, xã P, huyện B; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.

Tòa án đã niêm yết công khai giấy báo lần thứ nhất, lần thứ hai triệu tập bị đơn đến Tòa án để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung tranh chấp:

2.1. Về hôn nhân: Chị L và anh T chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện N vào ngày 05/8/2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng tương đối hạnh phúc, về sau do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã nên mâu thuẫn gia đình xảy ra và ngày càng trầm trọng. Từ năm 2022 cho đến nay, hai người bỏ mặc mạnh ai nấy sống, không quan tâm gì đến nhau.

Tòa án đã niêm yết công khai các văn bản tố tụng để anh T tham gia phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do. Chứng tỏ anh T đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình, anh T không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân giữa anh với chị L.

Qua xác minh tại địa phương cho thấy: Mâu thuẫn giữa chị L và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc chị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn là có cơ sở, phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình và phù hợp với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát, nên yêu cầu ly hôn của chị L được Hội đồng xét xử chấp nhận.

2.2. Về con chung: Có 01 (một) người con chung là cháu Phạm Đ, sinh ngày 07/8/2014. Tại bản tự khai ngày 19/12/2023 của cháu Phạm Đ có nguyện vọng được sống với mẹ. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phạm Đ, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, chị L làm nghề buôn bán, thu nhập tương đối ổn định khoảng 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng/tháng, đủ trang trải cuộc sống và lo cho con. Xét thấy, chị L có đủ khả năng và điều kiện nuôi dưỡng cháu Phạm Đạt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận giao cháu Phạm Đ cho chị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị L không có yêu cầu.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3] Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh L được ly hôn với anh Phạm T.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Đ, sinh ngày 07/8/2014 cho chị Nguyễn Thị Thanh L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Phạm T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Nguyễn Thị Thanh L không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001908 ngày 10/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bác Ái. Chị Nguyễn Thị Thanh L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Bác Ái;
  • - Chi cục THADS huyện Bác Ái;
  • - UBND xã Lâm Sơn;
  • - UBND xã Phước Tiến;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Kim Đồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁC ÁI, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 02/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁC ÁI, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger