TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 02/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10 - 01 - 2024 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Nguyên Khoa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Hoàng Thành
Ông Nguyễn Thanh Trang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Thành Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Bích – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2023/TLST-HNGĐ, ngày 03/02/2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14/12/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị LÊ HỒNG Đ, sinh ngày 16/11/1997
Địa chỉ: Ấp X, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn: Anh CHEN, YUNG - H, sinh ngày 16/6/1994
Địa chỉ: Số A, Khóm N, thôn P, làng X, huyện Đ, Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện đề ngày 26/12/2022 của nguyên đơn chị Lê Hồng Đ trình bày:
Chị Lê Hồng Đ và anh Chen, Yung - H tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn vào ngày 31/5/2019, được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với nhau tại Việt Nam được 07 ngày thì anh Chen, Yung - H trở về Đài Loan và hứa sẽ làm thủ tục để chị Đ xuất cảnh sang Đài Loan. Tuy nhiên, từ năm 2019 cho đến nay thì chị Đ không liên lạc được với anh Chen, Yung – H. Do không còn thông tin liên lạc với nhau từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Chen, Yung - H. Khi ly hôn, về con chung, tài sản chung và nợ chung của vợ chồng đều không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã thực hiện đầy đủ, đúng thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 56, 123, 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 469, điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Hồng Đ. Chị Đ được ly hôn với anh Chen, Yung - H. Về con chung, tài sản chung và nợ chung của vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị Đ phải chịu tiền án phí lệ phí theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Tại thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ việc tranh chấp ly hôn giữa chị Lê Hồng Đ và anh Chen, Yung - H thì chị Đ là công dân Việt Nam đang định cư tại Việt Nam, anh Chen, Yung - H là người nước ngoài đang định cư tại Trung Quốc (Đài Loan) nên quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài quy định tại khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam quy định tại điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 37 và điểm c khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long. Về pháp luật được áp dụng để giải quyết vụ việc là pháp luật Việt Nam được quy định tại khoản 2 Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Ngày 26/12/2022, chị Lê Hồng Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đối với anh Chen, Yung - H đã được Tòa án ủy thác tống đạt hợp lệ văn bản ghi rõ thời gian và địa điểm mở phiên tòa, nhưng anh Chen, Yung - H vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Lê Hồng Đ và anh Chen, Yung - H tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn vào ngày 31/5/2019, được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long, cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Lẽ ra, về tình nghĩa vợ chồng thì chị Đ và anh Chen, Yung - H phải có nghĩa vụ thương yêu nhau, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sau khi kết hôn từ năm 2019 cho đến nay thì chị Đ và anh Chen, Yung - H không còn chung sống với nhau, mỗi người đều có cuộc sống riêng, không còn liên lạc với nhau trong thời gian dài dẫn đến vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, theo yêu cầu của chị Đ xin ly hôn với và anh Chen, Yung - H là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận.
[3] Về tài sản chung, con chung và nợ chung của vợ chồng:
Chị Lê Hồng Đ khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về án phí, chi phí tố tụng:
Chị Lê Hồng Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài được quy định tại khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 153 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở phù hợp luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 153 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Hồng Đ.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Hồng Đ được ly hôn với anh Chen, Yung - H.
1.2. Về tài sản chung, con chung và nợ chung của vợ chồng: Chị Lê Hồng Đ khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí và chi phí tố tụng:
Chị Lê Hồng Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000357 ngày 02/02/2023 và số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng chi phí ủy thác theo biên lai thu số 0000381 ngày 09/3/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
3. Về thời hạn kháng cáo: Chị Lê Hồng Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án. Anh Chen, Yung - H có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án này được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Nguyên Khoa |
Bản án số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 02/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa chị Lê Hồng Đ với anh Chen, Yung-H
