|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/HNGĐ - ST Ngày 05 - 01 - 2024 “V/v Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Phượng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Tý
Bà Lê Kim Thủy
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Linh– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Lưu Thị Kim Chúc - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 05 tháng 1 năm 2024, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 01/2023/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2023/QĐXXST - HNGĐ, ngày 16 tháng 10 năm 2023; Thông báo ấn định lại lại phiên tòa hôn nhân và gia đình số 22/TB – TA, ngày 08 tháng 11 năm 2023; Thông báo hoãn phiên tòa số 51/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bé B, sinh năm 1990 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang
-Bị đơn: Ông Shin Jae K, sinh năm 1961 (vắng mặt).
Địa chỉ: G M – gil, G - gu, Busan M, H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn Bà Lê Thị Bé B trình bày: Qua tìm hiểu, bà đã kết hôn với Ông Shin Jae K có quốc tịch Hàn Quốc theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 113/2016 ngày 29 tháng 11 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang. Sau khi kết hôn, ông bà sang Hàn Quốc sinh sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ngôn ngữ, quan điểm sống nên đến năm 2017 bà về Việt Nam sinh sống cho đến nay. Từ khi bà về Việt Nam ông bà cũng không còn liên lạc với nhau. Do thời gian vợ chồng ly thân đã lâu, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Shin Jae K.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Bé B khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Lê Thị Bé B được ly hôn với ông Shin Jae K; Về con chung, tài sản chung và nợ chung, do đương sự khai không có nên đề nghị không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng
Nguyên đơn bà Lê Thị Bé B, đăng ký thường trú tại huyện P, tỉnh Hậu Giang, khởi kiện xin ly hôn với bị đơn Ông Shin Jae K là người nước ngoài, quốc tịch Hàn Quốc. Quan hệ hôn nhân giữa Bà Lê Thị Bé B và Ông Shin Jae K có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn ông Shin Jae K đã được Tòa án tiến hành thực hiện ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc, để tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không thực hiện được do đương sự đóng cửa. Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang đã đề nghị Đ tại Hàn Quốc niêm yết công khai Thông báo mở lại thời gian mở phiên tòa hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 18/TB – TA, ngày 09 tháng 8 năm 2023. Đồng thời thông báo đến ông Shin J Kab qua kênh dành cho người nước ngoài của Đ1 ba lần trong ba ngày liên tiếp từ ngày 09, 10, 11/10/2023 (Kênh VOV5).
Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang căn cứ vào quy định tại điểm c khoản 6 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.
Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn theo quy định khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện
[2.1] Về quan hệ hôn nhân
Bà Lê Thị Bé B và ông Shin Jae K đã đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Quan hệ hôn nhân của bà Lê Thị Bé B và Ông Shin Jae K được pháp luật Việt Nam thừa nhận. Ông bà chung sống với nhau chỉ một thời gian ngắn, nhưng thời gian ly thân từ năm 2017 đến nay và cả hai vợ chồng cũng không còn liên lạc với nhau. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa ông bà đã không có cơ hội hàn gắn và đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho Bà Lê Thị Bé B được ly hôn với ông Shin Jae K.
[2.2] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Bé B khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[3] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí và lệ phí ủy thác tư pháp: Bà Lê Thị Bé B phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; Điều 147; Điều 470; Điều 474; Điều 477; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27; Điều 44 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Thông tư số 12/2016/TTLT – BTP – BNG - TANDTC ngày 19/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ N và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự;
Áp dụng Điều 51; Điều 56 và Điều 122 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Bà Lê Thị Bé B được ly hôn với ông Shin Jae K.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Bé B khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
- Về án phí: Bà Lê Thị Bé B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí bà đã nộp theo biên lai thu số 0000352 ngày 14 tháng 02 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang thành án phí.
- Lệ phí ủy thác tư pháp: Bà Lê Thị Bé B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng lệ phí ủy thác tư pháp Bà Lê Thị Bé B đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000397 ngày 03 tháng 3 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang thành lệ phí ủy thác tư pháp.
- Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Phượng |
Bản án số 02/2024/HNGĐ - ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 02/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Việt nam xin ly hôn với người nước ngoài
