TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH TỈNH HÒA BÌNH ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST Ngày: 02 - 01 - 2024 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Trường Sơn
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thanh Nhiến và bà Nguyễn Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Thảo - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 357/2023/TLST-HNGĐ, ngày 24/11/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/ QĐXXST-HNGĐ ngày 13/12/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Bích D, sinh năm 1995
- Bị đơn: Anh Tạ Xuân L, sinh năm 1995
ĐKHKTT: tổ 09, P. Tân Thịnh, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
ĐKHKTT: tổ 09, P. Tân Thịnh, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Hiện đang chấp hành án tại: Đội 27, phân trại 1, Trại giam Thanh Xuân.
Chị D có mặt. Anh L có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hoàng Thị Bích D trình bày:
Chị D và anh Tạ Xuân L kết hôn năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Thịnh Lang, thành phố Hòa Bình, trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc. Cho đến khi anh L kể lại chuyện anh L có sử dụng ma túy đá và hứa sẽ bỏ, thay đổi bản thân. Tuy nhiên anh L Lộc vẫn giấu chị để sử dụng ma túy đá, cần sa. Từ đó cuộc sống hôn nhân thường xảy ra mâu thuẫn. Vào cuối tháng 3/2022 anh L đã bị bắt và Tòa án nhân dân TP Hòa Bình xử phạt 04 năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Vì tình nghĩa vợ chồng chị D đã cố gắng xây dựng hạnh phúc nhưng đến nay đã quá mệt mỏi, bởi anh L là người chồng không biết quan tâm, không chăm sóc được vợ con. Đến nay tình cảm không còn nên chị D xin được ly hôn.
Về con chung: có 01 con là Tạ Thiên T, sinh ngày 09/01/2020. Khi ly hôn chị D có nguyện vọng xin được nuôi con. Về cấp dưỡng chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung: Không có.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/12/2023 bị đơn anh Tạ Xuân L trình bày:
Xác nhận thời gian, điều kiện kết hôn như chị D khai là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì, không cãi cọ, đánh chửi nhau. Cho đến khoảng tháng 3/2022 anh L có sử dụng trái phép chất ma túy và bị Tòa án xử phạt 04 năm tù nên vợ chồng mới phát sinh mâu thuẫn. Về tình cảm vợ chồng anh L đồng ý ly hôn.
Về con chung: có 01 con là Tạ Thiên T, sinh ngày 09/01/2020. Khi ly hôn anh L cũng có nguyện vọng xin được nuôi con và không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và công nợ chung: Không có.
Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình đã tiến hành kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ theo quy định. Các bên đương sự không thống nhất được việc nuôi con, do đó vụ án phải đưa ra xét xử.
Tại phiên tòa:
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với việc giao nhận văn bản tố tụng, mặc dù có vi phạm về thời hạn tuy nhiên đã được khắc phục. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Hoàng Thị Bích D được ly hôn anh Tạ Xuân L. Về con chung: Giao cháu Tạ Thiên T, sinh năm 2020 cho chị D nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Về tài sản chung và công nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về pháp luật tố tụng:
Chị Hoàng Thị Bích D có đơn khởi kiện xin ly hôn bị đơn là Tạ Xuân L, có nơi cư trú tại: tổ 09, phường Tân Thịnh, TP Hòa Bình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo loại việc và lãnh thổ của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình.
- Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Bích D và anh Tạ Xuân L có đăng ký kết hôn ngày 15/5/2019 tại UBND phường Thịnh Lang, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam.
Đánh giá về mâu thuẫn vợ chồng, Hội đồng xét xử nhận thấy: Qua lời khai của các đương sự đã thể hiện cuộc sống vợ chồng chị D và anh L có mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh L là người chồng không biết quan tâm, chăm sóc vợ con, bản thân anh L có lối sống không lành mạnh, sử dụng ma túy đá. Ngày 22/9/2022 anh Tạ Xuân L đã bị Tòa án nhân dân TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 04 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Hiện anh L đang phải chấp hành án tại Trại giam Thanh Xuân – C10 – Bộ Công an.
Điều này đã khẳng định hôn nhân giữa anh L và chị D không có hạnh phúc, mâu thuẫn căng thẳng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị Bích D.
- Về con chung: có 01 con là Tạ Thiên T, sinh ngày 09/01/2020. HĐXX xét thấy cháu Tạ Thiên T còn nhỏ (hơn 36 tháng tuổi) rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Chị D có công việc, chỗ ở ổn định và có điều kiện về thời gian để chăm sóc cháu T. Xét nguyện vọng xin được nuôi con của nguyên đơn là phù hợp nên Tòa cần chấp nhận. Về việc cấp dưỡng nuôi con chị D không yêu cầu nên Tòa không xem xét. Anh L có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 207; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị Bích D được ly hôn anh Tạ Xuân L.
- Về con chung: có 01 con là Tạ Thiên T, sinh ngày 09/01/2020. Giao cháu Tạ Thiên T cho chị Hoàng Thị Bích D nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, chị D không yêu cầu nên Tòa không xem xét.
Anh L có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Không có.
- Về án phí: Chị Hoàng Thị Bích D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nay được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục THADS thành phố Hòa Bình, theo biên lai thu số: 0000132, ngày 24/11/2023. Xác nhận chị Diệp đã nộp đủ tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo với thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đinh Trường Sơn |
Bản án số 02/2024/HNGĐ-ST ngày 02/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 02/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị Bích D được ly hôn anh Tạ Xuân L. 2. Về con chung: có 01 con là Tạ Thiên T, sinh ngày 09/01/2020. Giao cháu Tạ Thiên T cho chị Hoàng Thị Bích D nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, chị D không yêu cầu nên Tòa không xem xét. Anh L có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. 3. Về tài sản chung và công nợ chung: Không có
