Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 02/2024/HC-ST
Ngày: 09 - 01 - 2024
V/v “ Khởi kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai”.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Tới

Bà Nguyễn Thị Mai Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 79/2023/TLST-HC ngày 16/11/2023 về việc “Khởi kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2023/QĐXXST-HC ngày 25 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Người khởi kiện: Ông Lê Văn T, sinh năm 1954, vắng mặt;

    Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

    - Người đại diện theo ủy quyền của ông T:

    Anh Nguyễn Thế N, sinh năm 1989, có mặt;

    Địa chỉ: Lô C MBQH F, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

    (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 17/8/2023).

  2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố S.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T1 – Chủ tịch.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc B – Phó Chủ tịch, vắng mặt.

    Địa chỉ: Số G, đường T, P. T, TP S, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đều vắng mặt.

    1. UBND phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Thăng G – Chủ tịch.

      Địa chỉ: Phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

    2. Chị Lê Thị N1 – Sinh năm 1984.

    3. Chị Lê Thị H – Sinh năm 1980.

      Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 16/8/2023 và quá trình giải quyết tại Tòa án, người khởi kiện trình bày:

Ông (Lê Văn T) có quyền sử dụng lô đất thổ cư do bố mẹ ông (ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị P) tặng cho tại Tổ dân phố T, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Lô đất của ông được sử dụng vào mục đích đất ở và được ghi nhận qua hồ sơ địa chính qua các thời kỳ, cụ thể như sau:

  • - Theo Hồ sơ 299 đo năm 1984 thuộc thửa 1369, tờ bản đồ số 02, phường T, diện tích 860m², loại đất: T, đăng ký chủ sử dụng bà Nguyễn Thị P.
  • - Theo Hồ sơ 382 đo năm 1995 thể hiện:
    • + Thửa đất số 202, tờ bản đồ số 07, diện tích 222m², loại đất: T, đăng ký chủ sử dụng ông Lê Văn T.
    • + Thửa đất số 204, tờ bản đồ số 07, diện tích 156m², loại đất: T, đăng ký chủ sử dụng ông Lê Văn T2 và một phần diện tích thửa đất số 205, tờ bản đồ số 07, loại đất: M.
  • - Theo Hồ sơ địa chính năm 2010, lô đất trên ghi nhận thành 02 thửa đất có tổng diện tích 763,2m² gồm:
    • + Thửa số 135, tờ bản đồ số 26, diện tích 342,0m², loại đất ODT, đăng ký sử dụng đất ông Lê Văn T.
    • + Thửa số 136, tờ bản đồ số 26, diện tích 421,1m², loại đất ODT, đăng ký sử dụng đất ông Lê Văn T2.
  • - Hiện trạng ông sử dụng đất với diện tích thực tế được ghi nhận là 346,1m² thuộc thửa đất số 99, tờ bản đồ số 22, loại đất ODT theo trích đo bản đồ địa chính phường T năm 2018 và Trích lục bản đồ địa chính do văn phòng đăng ký đất đai – Sở T3 lập năm 2020.

Ngày 17/01/2007, bố mẹ ông là ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị P được UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp GCNQSD đất số vào sổ H01209.QĐ: 96/QĐ-UB tại thửa đất số 202, tờ bản đồ số 07, diện tích 767m² (trong đó đất ở 260m², đất vườn 507m².

Năm 2015, ông được bố mẹ tặng cho một phần lô đất với diện tích đất tặng cho là 360m², đã được UBND thành phố S cấp GCNQSD đất số vào sổ CH 01519 QĐ: 3056/QĐ-UBND ngày 24/8/2015 tại thửa đất số 135, tờ bản đồ số 26, diện tích 360m² (trong đó đất ở 130m², đất vườn 230m²) và diện tích còn lại tặng cho ông Lê Văn T2 (em trai ông) với diện tích tặng cho cho là 407m², đã được UBND thành phố S cấp GCNQSD đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 01520 QĐ: 3056/QĐ-UBND ngày 24/8/2015 tại thửa đất số 136, tờ bản đồ số 26, diện tích 407m² (trong đó đất ở 130m², đất vườn 277,0m²).

Thực hiện dự án Khu đô thị Q, thành phố S:

Ngày 04/3/2021, UBND thành phố S đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-UBND thu hồi 346,1m² đất của ông thuộc thửa đất số 99, tờ bản đồ số 22, phường T, thành phố S; theo đó xác định đất ở đô thị (ODT) bị thu hồi là 130m², đất trồng cây lâu năm (CLN) bị thu hồi là 216,1m².

Ngày 04/3/2021, UBND thành phố S đã ban hành Quyết định số 751/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cho ông, trong đó xác định tổng diện tích đất thu hồi 346,1m² (loại đất: 130m² đất ở ODT, 216,1m² là đất CLN; kinh phí bồi thường, hỗ trợ cho ông tổn số tiền là: 1.651.201.000 đồng, cụ thể như sau:

  • + Bồi thường về đất: 726.683.000 đồng.
  • + Bồi thường tài sản, vật kiến trúc: 694.545.000 đồng.
  • + Bồi thường về cây cối, hoa màu: 3.114.000 đồng.
  • + Hỗ trợ: 226.859.000 đồng.

Sau khi nhận được các quyết định nêu trên của UBND thành phố S, ông đã kiến nghị, đề nghị cấp có thẩm quyền công nhận đất ở có nhà ở thành đất ở theo hạn mức và đề nghị điều chỉnh quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB thực hiện Dự án Khu đô thị Q, thành phố S.

Ngày 04/6/2021, UBND phường T lập Hội đồng xác nhận về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất cho ông nhận tặng cho quyền sử dụng đất của bố mẹ là ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị P, kết luận và kiểm nghị tại Biên bản xác nhận như sau:

“Quyết định số 4655/2017/QĐ-UBND ngày 04/12/2017 của UBND tỉnh T về sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định về hạn mức giao đất ở, diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở, hạn mức công nhận đất ở và hạn mức giao đất trống, đồi núi trọc, đất chưa sử dụng cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ban hành kèm theo Quyết định số 4463/2014/QĐ-UBND ngày 12/12/2014 của UBND tỉnh;

Ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị P sử dụng đất có nhà ở trước ngày 18/12/1980, được thể hiện trong hồ sơ 299/TTg, thửa đất số 1396, tờ bản đồ số 02, diện tích ghi trên bản đồ là 860m², (ghi trong sổ mục kê là 360m²), loại đất T gia đình sử dụng ổn định, không tranh chấp, không lấn chiếm.

Như vậy, ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị P đủ điều kiện đề nghị công nhận 05 lần hạn mức đất ở 450,0m² được quy định tại Quyết định số 4655/2017/QĐ-UBND ngày 04/12/2017 của UBND tỉnh T là đúng quy định.

Ông Lê Văn T được công nhận thêm 95m². Tổng diện tích thu hồi sau khi được công nhận là 346,1m² (Trong đó đất ở 225m², đất trồng cây lâu năm 121m²)...."

Ngày 04/8/2021, UBND phường T có báo cáo số 484/BC-UBND về việc xác nhận bổ sung đất ở trong hạn mức cho các hộ gia đình, trong đó có hộ gia đình ông nhận tặng cho quyền sử dụng đất của bố mẹ ông là ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị P, kết luận và kiến nghị tại Biên bản xác nhận như sau:

“Ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị P sử dụng đất có nhà ở trước ngày 18/12/1980, được thể hiện trong hồ sơ 299/TTg, thửa đất số 1396, tờ bản đồ số 02, diện tích ghi trên bản đồ là 860m², (ghi trong sổ mục kê là 360m²), loại đất T (ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị P là bố, mẹ ruột của ông Lê Văn T, ông Lê Văn T2), hiện trạng khu đất gia đình sử dụng ổn định, không tranh chấp”.

Ngày 29/9/2021, Phòng tài nguyên và môi trường UBND thành phố S có Tờ trình số 1783/TTr-TNMT và Tờ trình số 1784/TTr-TNMT gửi UBND thành phố S đề nghị điều chỉnh Quyết định số 1783/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 của UBND thành phố S về việc thu hồi đất của ông và đề nghị phê duyệt điều chỉnh, bổ sung kinh phí bổi thường, hỗ trợ GPMB cho ông đã được UBND thành phố S phê duyệt tại Quyết định số 751/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 thực hiện dự án: Khu đô thị Q biển, thành phố S.

Căn cứ Biên bản xác nhận (bổ sung) của UBND phường T về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất ở cho gia đình ông ngày 04/6/2021 và báo cáo số 484/BC-UBND của UBND phường T 04/8/2021; căn cứ đề nghị của Phòng tài nguyên và môi trường UBND thành phố S tại Tờ trình số 1783/TTr-TNMT ngày 29/9/2021 thì:

  • - Ngày 07/10/2021, UBND thành phố S đã ban hành Quyết định số 6165/QĐ-UBND điều chỉnh Quyết định số 749/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 của UBND thành phố S về việc thu hồi đất của ông – Lê Văn T sử dụng đất tại phường T để thực hiện dự án Khu đô thị Q biển, thành phố S, quyết định điều chỉnh Điều 1 Quyết định số 749/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 thành:

    “Thu 346,1m² đất của ông Lê Văn T, thuộc thửa đất số 99, tờ bản đồ số 22, phường T, thành phố S. Trong đó đất ở đô thị (ODT) 225,0m², đất trồng cây lâu năm (CLN) 121m²)”.

  • - Ngày 07/10/2021, UBND thành phố S đã ban hành Quyết định số 6166/QĐ-UBND về việc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung kinh phí bồi thường, hỗ trợ GPMB cho ông – Lê Văn T đã được UBND thành phố S phê duyệt tại Quyết định số 751/UBND ngày 04/3/2021 thực hiện dự án Khu đô thị Q, thành phố S. Theo đó điều chỉnh loại đất thu hồi và bồi thường, hỗ trợ thành đất ở tại đô thị (ODT): 225,0m²; đất trồng cây lâu năm (CLN) 216,1m²; đồng thời điều chỉnh, bổ sung kinh phí bồi thường, hỗ trợ và kinh phí hội đồng cho ông là:
    • + Bổ sung kinh phí bồi thường về đất: 429.875.000 đồng.
    • + Bổ sung kinh phí tổ chức bồi thường, hỗ trợ: 8.597.000 đồng.

Ông cho rằng: Các quyết định thu hồi đất và các Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ trên của U là không đúng vì:

Thứ nhất: Diện tích đất thu hồi 346,1m² của gia đình ông là đất thổ cư lâu đời do bố mẹ ông để lại, có nguồn gốc sử dụng vào mục đích đất ở trước ngày 18/12/1980, đã được ghi nhận qua hồ sơ địa chính các thời kỳ là đất ở, được gia đình sử dụng ổn định, không tranh chấp, không lấn chiếm và được ghi nhận tại các văn bản, quyết định của UBND thành phố S và UBND phường T.

Thứ hai: Thời điểm diện tích đất của gia đình ông được sử dụng vào mục đích đất ở trước ngày 18/12/1980 trước thời điểm phường T được công nhận là đô thị (năm 1996) nên hạn mức đất ở của thửa đất này được xác định bằng 05 lần hạn mức công nhận đất ở (hạn mức đất ở địa bàn nông thôn xã đồng bằng là 200m²/hộ) đã được quy định tại Quyết định số 4655/2017/QĐ-UBND ngày 04/12/2017 của UBND tỉnh T.

Do đó, việc UBND thành phố S ghi nhận cho thửa đất mà gia đình ông sử dụng đất ở, nhà ở trước ngày 18/12/1980 có hạn mức đất ở là 450m² (05 lần hạn mức đất ở đô thị); trong đó công nhận cho ông diện tích 225m² đất ở, ông Lê Văn T2 diện tích 225m² đất ở, diện tích còn lại 121,1m² là đất trồng cây lâu năm khi thu hồi 346,1m² đất của ông là không phù hợp.

Thứ ba: UBND thành phố S thu hồi toàn bộ 346,1m² đất của ông nhưng mới bố trí tái định cư cho ông liên quan đến diện tích 225,0m² đất ở bị thu hồi. Diện tích còn lại 121,1m² khi gia đình ông được xác định, bổ sung là đất ở thì UBND thành phố S phải bố trí thêm các lô đất tái định cư cho ông tương xứng 121,1m² đất ở bị thu hồi này theo quy định của pháp luật và chính sách chung của dự án.

Nay ông đề nghị Tòa án giải quyết những nội dung sau:

  • - Hủy một phần Quyết định số 749/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 và Quyết định số 6165/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 điều chỉnh Quyết định số 749/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 của UBND thành phố S về việc thu hồi đất của ông Lê Văn T sử dụng đất tại phường T, thực hiện dự án: Quảng trường biển, trục cảnh quan lễ hội thành phố S. Buộc UBND thành phố S phải công nhận, xác định toàn bộ 346,1m² đất bị thu hồi của ông thuộc thửa đất số 99, tờ bản đồ số 22, phường T, thành phố S là đất ở (đã xác định 225m² đất ở) để xác định diện tích 121,1m² còn lại của ông là đất ở khi thu hồi, bồi thường.
  • - Hủy một phần Quyết định số 751/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 và Quyết định số 6166 /QĐ-UBND ngày 07/10/2021 của UBND thành phố S về việc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung kinh phí bồi thường, hỗ trợ GPMB phê duyệt tại Quyết định số 751/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 cho ông Lê Văn T sử dụng đất tại phường T, thực hiện dự án: Quảng trường biển, trục cảnh quan lễ hội thành phố S; Buộc UBND thành phố S phải phê duyệt lại phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB, định toàn bộ diện tích 346,1m² đất thu hồi và bồi thường, hỗ trợ của ông là đất ở (đã xác định 225m² đất ở) để xác định diện tích 121,1m² là đất ở.
  • - Buộc UBND thành phố S phải bố trí tái định cư cho ông tương ứng với 121,1 m² đất ở bị thu hồi được phê duyệt bổ sung theo quy định của pháp luật và chính sách chung của dự án.

* Tại công văn số 5438/UBND-TNMT ngày 08/11/2023, người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện (Chủ tịch UBND thành phố S) trình bày:

  1. Theo Biên bản xác nhận về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất cho ông Lê Văn T ngày 04/6/2021 của UBND phường T.

    a) Về nguồn gốc thửa đất.

    Ông Lê Văn T sử dụng đất có nguồn gốc là đất được bố, mẹ là ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị Phú t cho, thửa đất có nhà ở sử dụng trước ngày 18/12/1980. Đất sử dụng ổn định không tranh chấp.

    b) Về hồ sơ địa chính thửa đất qua các thời kỳ:

    • - Hồ sơ đo đạc 299/TTg: thửa đất số 1396, tờ bản đồ số 02, diện tích 860,0 m², loại đất: T, đăng ký sử dụng: bà Nguyễn Thị P.
    • - Hồ sơ đo đạc 382:
      • + Thửa đất số 202, tờ bản đồ số 7, diện tích: 222,0 m², loại đất: T, đăng ký sử dụng: ông Lê Văn T.
      • + Thửa số 204, tờ bản đồ số 07, diện tích 156,0 m², loại đất: T, đăng ký sử dụng: ông Lê Văn T2.
      • + Một phần thửa đất số 205, tờ bản đồ số 07, diện tích 622,0 m², loại đất Màu (M), đăng ký sử dụng UB xã.
    • - Hồ sơ địa chính 2010:
      • + Thửa đất số 135, tờ bản đồ số 26, diện tích: 342,0 m², loại đất: ODT, đăng ký sử dụng: ông Lê Văn T.
      • + Thửa đất số 136, tờ bản đồ số 26, diện tích: 421,2 m², loại đất: ODT, đăng ký sử dụng: ông Lê Văn T2.
    • - Hồ sơ đo đạc 2018:
      • + Thửa đất số 99, tờ bản đồ số 22, diện tích 346,1 m², loại đất: ODT, đăng ký sử dụng: ông Lê Văn T.
      • + Thửa đất số 95, tờ bản đồ số 22, diện tích 411,0 m², loại đất: ODT, đăng ký sử dụng: ông Lê Văn T2

    c) Hiện trạng sử dụng đất:

    Ông Lê Văn T sử dụng đất tại thửa đất số 99, tờ bản đồ số 22, diện tích 346,1 m² (trích đo 2018 phường T). Hiện trạng trên đất có nhà ở.

  2. Về hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Ngày 17/01/2007, ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị P được UBND thị xã S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H 01209. QĐ: 96/QĐ-UB tại thửa đất số 202, tờ bản đồ số 7, diện tích 767,0m² (trong đó: đất ở 260,0m², đất vườn 507,0m²).

    Năm 2015, gia đình đã tặng cho toàn bộ 767,0 m² cho 02 người con sử dụng, cụ thể:

    • - Ông Lê Văn T đã được UBND thị xã S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy CH 01519 QĐ: 3056/QĐ-UBND ngày 24/8/2015 tại thửa đất số 135, tờ bản đồ số 26, diện tích 360m² (trong đó: đất ở 130 m², đất vườn 230,0 m²).
    • - Ông Lê Văn T2 đã được UBND thị xã S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy CH 01520 QĐ: 3056/QĐ-UBND ngày 24/8/2015 tại thửa đất số 136, tờ bản đồ số 26, diện tích 407,0m² (trong đó: đất ở 130,0m², đất vườn 277,0m²).
  3. Về việc thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho ông Lê Văn T.

    Căn cứ Quyết định số Quyết định số 4655/2017/QĐ-UBND ngày 04/12/2017 của UBND tỉnh T: “Đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ nhưng có tên trong sổ mục kê hoặc sổ đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ hoặc có các tài liệu chứng cứ khác chứng minh nguồn gốc sử dụng đất ổn định từ trước ngày 15/10/1993 thì diện tích đất ở được xác định như sau:

    a) Trường hợp đã sử dụng đất ổn định từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 15/10/1993 thì diện tích đất ở được xác định theo mức quy định tại khoản 1 Điều này.

    b) Trường hợp đã sử dụng đất ổn định từ trước ngày 18/12/1980 thì diện tích đất ở được xác định theo thực tế đang sử dụng, nhưng không quá 05 lần hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 1, Điều 3 và khoản 1, Điều 4 của quy định này”

    Theo Quyết định số 4463/2014/QĐ-UBND ngày 12/12/2014 của UBND tỉnh T, hạn mức giao đất ở cho mỗi hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn phường T là 90,0m²/hộ.

    Hộ ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị P được công nhận không quá 5 lần hạn mức giao đất ở (90,0m² x 5 = 450,0m² đất ở). Hộ ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị P đủ điều kiện công nhận thêm 190,0m² đất ở.

    Ngày 27/4/2021 gia đình có đơn kiến nghị kèm theo biên bản họp gia đình thống nhất đề nghị công nhận hạn mức đất ở (ông Lê Văn T được công nhận thêm 95,0m² đất ở và ông Lê Văn T2 được công nhận thêm 95,0m² đất ở).

    UBND thành phố S ban hành Quyết định số 749/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 về việc thu hồi đất và Quyết định số 6165/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 về việc điều chỉnh Quyết định số 749/QĐ-UBND ngày 04/3/2021; Quyết định số 751/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và Quyết định số 6166/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 về việc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung kinh phí bồi thường, hỗ trợ cho ông Lê Văn T đã được phê duyệt tại Quyết định số 751/QĐ-UBND ngày 04/3/2021. Theo đó, thu hồi và bồi thường, hỗ trợ cho ông Lê Văn T diện tích 346,1 m² (trong đó đất ở 225,0 m²; đất CLN 121,1 m²) thuộc thửa đất số 99 tờ bản đồ số 22 là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Việc ông Lê Văn T khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết buộc UBND thành phố S huỷ 1 phần Quyết định số 749/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 và Quyết định số 6165/QĐ-UBND ngày 07/10/2021; huỷ 1 phần Quyết định số 751/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 và Quyết định số 6166/QĐ-UBND ngày 07/10/2021; xác định toàn bộ diện tích thu hồi là đất ở là không có cơ sở.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Tại công văn số 1021/UBND-ĐC ngày 20/11/2023, UBND phường T trình bày:

Thống nhất với quan điểm của UBND Thành phố S, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xem xét, giải quyết theo quy định.

- Chị Lê Thị H và chị Lê Thị N1 trình bày:

Thống nhất với nội dung trình bày và quan điểm của ông Lê Văn T.

* Tại phiên toà sơ thẩm:

- Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Kiểm sát viên VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

  • + Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
  • + Về nội dung: Các yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T là có căn cứ. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T. Về án phí: Người khởi kiện không phải chịu án phí; UBND thành phố S phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử sơ thẩm thấy rằng:

  1. Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng có đơn xin xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 158 của Luật TTHC, Hội đồng xét xử xử vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

  2. Thời hiệu khởi kiện: Ngày 07/10/2021, UBND thành phố S, tỉnh Thanh Hóa ban hành các Quyết định số 6165/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Quyết định số 749/ QĐ-UBND ngày 04/3/2021 của UBND thành phố S về việc thu hồi đất của ông Lê Văn T sử dụng tại phường T, thành phố S, Quyết định số 6166/QĐ-UBND về việc Phê duyệt điều chỉnh, bổ sung kinh phí bồi thường, hỗ trợ GPMB cho ông Lê Văn T sử dụng tại phường T để thực hiện dự án: Khu đô thị Q, thành phố S. Ngày 05/12/2022, ông Lê Văn T nhận được các quyết định trên (BL 33). Ngày 12/10/2023, người khởi kiện nộp đơn khởi kiện tại Tòa án. Do đó người khởi kiện nộp đơn trong thời hạn 01 năm kể từ ngày nhận được Quyết định nên còn thời hiệu khởi kiện; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 116 Luật TTHC.

  3. Về đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính: Các Quyết định số 749/QĐ-UBND ngày 04/3/2021, Quyết định số 6165/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 điều chỉnh Quyết định số 749/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 của UBND thành phố S, Quyết định số 751/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 và Quyết định số 6166 /QĐ-UBND ngày 07/10/2021 là Quyết định hành chính của người có thẩm quyền về đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND tỉnh Thanh Hóa; căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính.

  4. Xét nội dung khởi kiện của người khởi kiện:

    1. Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành các quyết định hành chính:

      Các Quyết định số 749/QĐ-UBND ngày 04/3/2021, Quyết định số 6165/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 điều chỉnh Quyết định số 749/QĐ-UBND ngày 04/3/2021, Quyết định số 751/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 và Quyết định số 6166 /QĐ-UBND ngày 07/10/2021 của UBND thành phố S được ban hành là đúng thẩm quyền; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 66; điểm a khoản 3 Điều 69 Luật đất đai 2013.

    2. Xét nội dung:

      1. Người khởi kiện đề nghị hủy một phần các quyết định:

        Theo thông tin do UBND thành phố S cung cấp, thửa đất ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị P bị thu hồi để thực hiện dự án: “Quảng trường biển, trục cảnh quan lễ hội thành phố S” có nguồn gốc là đất có nhà ở sử dụng trước ngày 18/12/1980, sử dụng ổn định không tranh chấp, đã được ghi nhận tại hồ sơ địa chính năm 1984 (299); Hồ sơ địa chính 1995 (382); Hồ sơ địa chính 2010 (BL 103 đến 107).

        Ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị P được UBND thành phố S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01209.QĐ: 96/QĐ-UBND, cấp ngày 17/01/2007, tại thửa số 202, tờ bản đồ số 7, diện tích 767,0m²; trong đó có 260m² đất ở; 507m² đất vườn.

        Ngày 24/8/2015, ông Lê Văn T và ông Lê Văn T2 được UBND thành phố S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nguồn gốc do nhận thừa kế toàn bộ quyền sử dụng đất của bố mẹ là ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị P, cụ thể:

        • Ông Lê Văn T sử dụng đất với diện tích 360m² đất; trong đó có 130,0m² đất ở; 230m² đất vườn; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01519.QĐ: 3056/QĐ-UBND, tại thửa số 135, tờ bản đồ số 26.
        • Ông Lê Văn T2 sử dụng đất với diện tích 407m² đất; trong đó có 130,0m² đất ở; 277m² đất trồng cây lâu năm; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01520.QĐ: 3056/QĐ-UBND, tại thửa số 136, tờ bản đồ số 26.

        Biên bản xác nhận, bổ sung (BL 68 đến 70) về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất ở cho hộ gia đình ông Lê Văn T và ông Lê Văn T2 làm cơ sở cho việc bồi thường GPMB của UBND phường T xác định: ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị P sử dụng đất có nhà ở trước ngày 18/12/1980, được thể hiện tại hồ sơ 299/TTg, thửa đất số 1396, tờ bản đồ số 02, diện tích ghi trên bản đồ 860m², (ghi trong sổ mục kê là 360m²), loại đất T, sử dụng ổn định, không có tranh chấp, không lấn chiếm.

        Như vậy, đủ căn cứ xác định toàn bộ diện tích đất của ông Lê Văn T và ông Lê Văn T2 nhận thừa kế của ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị P có nguồn gốc sử dụng trước ngày 18/12/1980, quá trình sử dụng đất không có tranh chấp.

        Trước ngày 18/12/1980 đất của ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị P thuộc địa giới hành chính của xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Tại Quyết định số: 157-HĐBT ngày 18/12/1981 của Hội đồng Bộ trưởng, quyết định thành lập 02 thị xã thuộc tỉnh Thanh Hóa, trong đó thị xã S được thành lập từ thị trấn S và các xã Q, Q, Q và xóm V (xã Q) thuộc huyện Q. Tại Quyết định số: 85/CP ngày 06/12/1995 của Chính phủ, phường T được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của xã Q.

        Theo Công văn số 99/UBND-TNMT ngày 09/01/2024 của UBND thành phố S về việc cung cấp thông tin vụ án ông Lê Văn T. Theo đó, khu đất của ông S, bà P sử dụng có vị trí tiếp giáp đường rộng 2,7m, thuộc ngõ, ngách trong phố T. Không thuộc vị trí mặt đường giao thông khu vực trung tâm phường, không thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, dịch vụ sinh hoạt. Diện tích đất của ông S và bà P có nguồn gốc sử dụng từ trước ngày 18/12/1980, được áp dụng “hạn mức địa bàn xã đồng bằng: 200m²/hộ” theo hướng dẫn tại Điểm b khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 7 Quy định về hạn mức công nhận đất ở ban hành kèm theo Quyết định số: 4463/2014/QĐ-UBND ngày 12/12/2014 của UBND tỉnh T.

        Theo quy định tại khoản 2 Điều 103 Luật đất đai 2013; khoản 3 Điều 24 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; điểm b khoản 1 Điều 4; khoản 1 Điều 7 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số: 4463/2014/QĐ-UBND ngày 12/12/2014 của UBND tỉnh T thì thửa đất số 1396, tờ bản đồ số 02, diện tích 860m² (Hồ sơ địa chính 1985) của ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị P được công nhận diện tích đất ở tối đa là 200m² x 5 = 1000m². Do đó, UBND thành phố S chỉ áp dụng hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình tối đa 90m² x 5 = 450m² tại phường thuộc thành phố, thị xã theo điểm a khoản 1 Điều 3 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số: 4463/2014/QĐ-UBND ngày 12/12/2014 của UBND tỉnh T là chưa xem xét đầy đủ thời điểm, địa bàn sử dụng đất, các quy định của Nhà nước, của địa phương về hạn mức đất ở khi thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng đối với hộ gia đình ông Lê Văn T.

        Xét thấy, căn cứ nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất của ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị P và các quy định, hướng dẫn liên quan đến việc xác định hạn mức đất ở như đã phân tích ở trên, đất của ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị P được công nhận diện tích đất ở tối đa là 1.000m². Nên phải công nhận toàn bộ diện tích đất thu hồi thực tế là 757,1m² của ông Lê Văn T, ông Lê Văn T2 (là con của Lê Văn S và bà Nguyễn Thị P) là đất ở. Toàn bộ diện tích đất 346,1m² của ông T đều có nguồn gốc của ông S, bà P thừa kế để lại cho ông T và xác định toàn bộ diện tích của ông S, bà P có diện tích bị thu hồi 757,1m² là đất ở nên xác định toàn bộ diện tích của ông T là đất ở là phù hợp pháp luật. Nhưng các Quyết định số: 749; 751 ngày 04/3/2021 về việc thu hồi, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB đối với diện tích đất thu hồi của ông Lê Văn T; các Quyết định số: 6165; 6166 ngày 07/10/2021 về việc điều chỉnh Quyết định số 749/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 về việc thu hồi đất của ông Lê Văn T, phê duyệt điều chỉnh, bổ sung kinh phí bồi thường, hỗ trợ GPMB cho ông Lê Văn T xác định diện tích 346,1m² đất của ông T bị thu hồi, gồm 225,0m² đất ở và 121,1m² đất trồng cây lâu năm là chưa chính xác. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T, chấp nhận ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa, hủy một phần các quyết định nêu trên của UBND thành phố S đối với nội dung thu hồi, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB.

      2. Về yêu cầu buộc UBND thành phố S thực hiện lại việc thu hồi, lập dự toán bồi thường, hỗ trợ GPMB đối với ông Lê Văn T là 121,1m² đất ở và bố trí tái định cư khi thu hồi đất ở cho ông T.

        Như đã phân tích tại phần trên, có căn cứ xác định toàn bộ diện tích đất thu hồi của ông T là đất ở. Nhưng các quyết định của UBND thành phố S trong việc thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB chỉ xác định diện tích 346,1m² đất của ông T bị thu hồi, gồm 225,0m² đất ở và 121,1m² đất trồng cây lâu năm là chưa phù hợp với các quy định của pháp luật. Vì vậy, chấp nhận nội dung khởi kiện của ông T, buộc UBND thành phố S phải thực hiện lại việc thu hồi, lập dự toán bồi thường, hỗ trợ GPMB tiếp đối với diện tích 121,1m² đất ở và bố trí tái định cư cho ông T theo quy định của pháp luật và chính sách của dự án.

  5. Về án phí: Người khởi kiện được Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt và vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Khoản 4 Điều 32; Khoản 1 Điều 115; Điểm a khoản 2; Điểm a khoản 3 Điều 116; khoản 1 Điều 158; điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 204; khoản 1 Điều 206 Luật Tố tụng Hành chính; Điểm a khoản 2 Điều 66; kiểm a Khoản 3 Điều 69; Khoản 2 Điều 103; khoản 2 Điều 143 Luật đất đai 2013. Khoản 2 Điều 12 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ. Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số: 326/2016/QH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; xử.

  2. Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Lê Văn T.

    1. Hủy một phần các quyết định sau đây:

      • - Quyết định số: 749/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 của UBND thành phố S về việc thu hồi đất của ông Lê Văn T sử dụng đất tại phường T, để thực hiện dự án: Khu đô thị Q, thành phố S.
      • - Quyết định số: 751/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 của UBND thành phố S phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cho ông Lê Văn T sử dụng đất tại phường T để thực hiện dự án: Khu đô thị Q, thành phố S.
      • - Quyết định số: 6165/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 của UBND thành phố S điều chỉnh Quyết định số: 749/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 của UBND thành phố S về việc thu hồi đất của ông Lê Văn T sử dụng đất tại phường T, để thực hiện dự án: Khu đô thị Q, thành phố S.
      • - Quyết định số: 6166/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 của UBND thành phố S về việc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung kinh phí bồi thường, hỗ trợ GPMB cho ông Lê Văn T sử dụng đất tại phường T, để thực hiện dự án: khu đô thị Q biển, thành phố S.
    2. Buộc UBND thành phố S, tỉnh Thanh Hóa thực hiện lại việc thu hồi, lập dự toán bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng đối với diện tích đất đối với diện tích 121,1m² đất ở thuộc thửa đất số 99, tờ bản đồ số 22 tại phường T, thành phố S và bố trí tái định cư cho ông Lê Văn T theo quy định của pháp luật và chính sách của dự án Quảng trường biển, trục cảnh quan lễ hội thành phố S.

  3. Về án phí: UBND thành phố S, tỉnh Thanh Hóa phải nộp 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Người khởi kiện có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P10);
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/HC-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về khởi kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai

  • Số bản án: 02/2024/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khởi kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khởi kiện quyết định hành chính về quản lí đất đai
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger