TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 02/2024/DS-ST
Ngày: 03/5/2024
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng
đất và ranh giới đất ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Anh và bà Đặng Thị Duyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Bà Phan Quỳnh Như – Kiểm sát viên.
Vào ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 36/2022/DS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2022 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và ranh giới đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N– SN: 1962; bà N ủy quyền cho chị: Nguyễn Minh H – Sinh năm: 1991 ( chị H là con gái bà N).
- Cả 2 cùng trú tại: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên – Chị H có mặt tại phiên tòa.
- * Bị đơn: Vợ chồng ông Võ Đình B – Sinh năm: 1964 và bà Đỗ Thị Kim L – Sinh năm: 1964. Cùng trú tại: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Bà L ủy quyền cho ông B – ông B có mặt.
- * Bị đơn: UBND xã X, có ông Trương Thái H1 – Chủ tịch, ủy quyền cho ông Võ Minh H2 - Phó Chủ tịch – ông H2 có mặt.
- * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Nguyễn Thị Q – SN: 1959 – Có mặt tại phiên tòa.
- Trú tại: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
- + Ông Phan Xuân H3 – Sinh năm: 1963 - Có đơn xin vắng mặt.
- Trú tại: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
- + Ông Huỳnh Ngọc T – Sinh năm: 1964 – Vắng mặt.
- Trú tại: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
- + Vợ chồng: Anh Nguyễn Anh T1 – Sinh năm 1988 và chị Đoàn Thị Bích P – Sinh năm: 1987. Cả hai vắng mặt.
- Trú tại: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
- * Người làm chứng:
- + Ông: Nguyễn Văn C – Sinh năm: 1947.
- + Ông: Nguyễn Ngọc H4 – Sinh năm: 1963.
- + Ông: Huỳnh Văn T2 - Sinh năm: 1956.
- Tất cả 3 người cùng trú tại: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên - Đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị N; bản tự khai và lời trình bày của chị Nguyễn Minh H như sau: Diện tích thửa đất số 439, tờ bản đồ 71, địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; có 400m² đất ở nông thôn và 2.246,4m² đất trồng cây hàng năm khác, của bà Nguyễn Thị N đã được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH560572, cấp ngày: 18/9/2006. Nguồn gốc thửa đất là của bà Nguyễn Thị Q, năm 2002 bà Q chuyển nhượng lại cho vợ, chồng bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn B1 (ông B1 chồng bà N đã chết). Ông Võ Đình B nhà ở kề bên đã lấn chiếm đất, làm thay đổi ranh giới. Quá trình thẩm định diện tích đất, chị H con bà N phát hiện thửa đất 442 đất 5% của UBND xã X quản lý và thửa đất 440 của ông Huỳnh Ngọc T cũng có sự thay đổi về ranh giới so với bản đồ thửa đất trước đây. Do đó, Bà N và chị H yêu cầu vợ chồng ông B và UBND xã X phải trả lại diện tích đất và ranh giới đã lấn chiếm. Riêng bà N và chị H không yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất ông Huỳnh Ngọc T.
* Bị đơn ông Võ Đình B trình bày như sau: Nguồn gốc Thửa đất 483, tờ bản đồ 71; diện tích 2.156m², trong đó đất ở 400m² và 1.756m² đất trồng cây hàng năm khác là của gia đình tôi có từ năm 1978, đã được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CA 372294, số vào sổ: CH01704, cấp ngày 14/4/2016. Nguồn gốc đất nhà ở của vợ chồng ông B1, bà N (tức bà Đ) là đất nhà ở của bà Nguyễn Thị Q chuyển nhượng lại. Giáp ranh thửa đất của hai gia đình có hàng rào cây xanh và một số cây cổ thụ như cây dúi, cây keo, bụi tre (trúc). Năm 2021 bà N làm đơn khiếu nại tôi đến UBND xã X về việc tôi lấn đất, UBND xã X giải quyết không thành, nhưng bà N không làm đơn khởi kiện đến Tòa để tiếp tục giải quyết và cũng không chịu rút đơn khiếu nại. Do đó, tôi đã làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân để giải quyết, tuy nhiên tôi xét thấy mình không có lấn chiếm đất nên đã rút đơn khởi kiện. Sau đó bà N làm đơn phản tố, nên hôm nay tôi cũng yêu cầu Tòa án xem xét, kiểm tra lại tôi có lấn chiếm đất của bà N hay không.
* Bị đơn UBND xã X trình bày: Diện tích đất 3.285m², thửa số 442, tờ bản đồ số 71 là đất 5% UBND xã X quản lý, giáp ranh với thửa đất 439 của bà Nguyễn Thị N. Hiện nay thửa đất 5% của xã cho ông Phan Xuân H3 trú tại: Thôn L, xã X, huyện Đ thuê, canh tác. Từ khi đo đạc bản đồ địa chính năm 2006 cho đến nay ranh giới hai thửa đất sử dụng ổn định không có sự biến động, không có đơn thư hoặc khiếu nại.
Đối với nội dung Bà Nguyễn Thị N làm đơn khiếu nại về việc ông Võ Đình B lấn chiếm đất, UBND xã X đã đến hiện trường đo đạc, xác minh. Hiện trạng các thửa đất vẫn còn bờ rào cây xanh và những cây lâu năm, nên tiến hành hòa giải nhưng gia đình bà N không chấp nhận, nhưng cũng không làm đơn khởi kiện đến Tòa để giải quyết và cũng không chịu rút đơn khiếu nại. Mục đích là để gây khó khăn cho việc ông B làm thủ tục gia hạn sử dụng đất trồng cây hàng năm khác. Sau khi Tòa án thụ lý đã tiến hành đo đạc, thẩm định thì diện tích đất của bà N không giảm mà vẫn tăng hơn 03m² so với diện tích đất Nhà nước đã cấp cho bà N. Về sơ đồ ranh giới thì có một số điểm khác so với giữa bản đồ đã cấp cho bà N vào năm 2006 và 2016, là do sai số của người đo vẽ giữa các lần chỉnh lý. Tuy nhiên, việc thay đổi một số điểm theo sơ đồ thửa đất, không làm ảnh hưởng đến diện tích đất của bà Nguyễn Thị N đã được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Q trình bày: Nguyên thủy thửa đất 439, tờ bản đồ 71, diện tích 2.646,4m² hiện nay Nhà nước đã cấp giấy chứng nhận cho gia đình bà N là của gia đình tôi. Năm 2002 tôi chuyển nhượng lại cho vợ chồng bà N. Vừa qua UBND xã X có mời tôi làm việc, về bà N làm đơn khiếu nại ông B lấn chiếm đất. Tôi đã đến tại hiện trường, hiện tại hai thửa đất không có gì thay đổi so với thửa đất trước đây tôi chuyển nhượng cho vợ chồng bà N. Giáp ranh giữa các thửa đất vẫn còn hàng rào cây xanh và một số gốc cây dúi, gốc cây keo, cây dầu lai. Hôm nay tôi xác định, ông Võ Đình B không có lấn chiếm đất nhà ở của bà Nguyễn Thị N.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phan Xuân H3 trình bày: Thửa đất số 442, tờ bản đồ 71, diện tích đất 3.285m², là đất 5% của UBND xã X quản lý, tôi đã thuê lại để canh tác trồng hoa màu, hàng năm nộp thuế cho UBND xã. Quá trình canh tác trồng hoa màu, tôi không có lấn chiếm làm thay đổi, ranh giới giữa hai thửa đất có hàng rào cây xanh và một số cây cổ thụ hiện nay vẫn còn. Nhà của bà N ở kề bên, nếu hàng năm có sự lấn chiếm thì gia đình bà N đã khiếu nại không phải đến hôm nay mới khiếu nại. Còn việc theo sơ đồ hai thửa đất có sự chênh lệch về ranh giới thì do người đo, vẽ chứ tôi không có biết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Ngọc T trình bày: Thửa đất số 440, tờ bản đồ 71; tọa lạc tại: Rộc N, thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; diện tích: 893m² loại đất trồng cây hàng năm khác là của gia đình tôi, đã được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất của tôi giáp ranh với thửa đất số 439, tờ bản đồ số 71 của bà Nguyễn Thị N. Quá trình quản lý, sử dụng tôi không có làm thay đổi hiện trạng, ranh giới giữa hai thửa đất hiện vẫn còn bờ rào cây xanh. Diện tích đất của tôi hiện nay đã chuyển nhượng lại cho vợ chồng chị Đoàn Thị Bích P vào năm 2023.
* Lời trình bày của chị Đoàn Thị Bích P: Thửa đất số 440, tờ bản đồ 71, địa chỉ: R, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; diện tích: 893m² loại đất trồng cây hàng năm khác đã được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/9/2006 cho ông Huỳnh Ngọc T. Tháng 6/2023 ông T đã chuyển nhượng lại cho vợ chồng tôi. Từ khi nhận chuyển nhượng đến nay, tôi canh tác không hề lấn chiến đất của bà N, ranh giới hai thửa đất vẫn còn hàng rào cây xanh có từ lâu.
* Lời xác nhận của người làm chứng ông Nguyễn Văn C, Nguyễn Ngọc H4, Huỳnh Văn T2 có trong hồ sơ và tại phiên tòa: Ông C, H4, Từng xác định không có bà con thân thích với vợ chồng ông B và gia đình bà N, các ông là những người dân sinh sống tại địa phương ở xã X trước năm 1975, biết rõ nguồn gốc đất của bà Nguyễn Thị Q trước đây, nay bán lại cho bà Nguyễn Thị Đ1 (tức bà N). Ranh giới giữa hai nhà bà N và ông B có hàng rào ranh giới hẳn hoi, có những cây đã trồng trước đây hiện nay vẫn còn như Cây T3, cây dúi, cây lồng mức. Chúng tôi khẳng định ông B không có lấn chiếm đất của bà N.
* Tại phiên tòa chị Nguyễn Minh H có đơn đề nghị hoãn phiên tòa để đo đạc diện tích đất ông B; tại phần tranh luận chị H xác định bờ rào cây xanh mới trồng chỉ khoảng 08 năm tuổi trong khi ông B lấn chiếm đất của gia đình chị từ năm 2009; bà Q từ khi chuyển nhượng đất đến nay không có đến nhà của chị H nên trình bày không đúng; lời trình bày của những người làm chứng không khách quan; phần ông B lấn chiếm đất của chị H diện tích trên 40m²; diện tích đất của chị H dôi ra 03m² là gia đình chị phát dọn bờ rào giữa thửa đất của gia đình chị, giáp ranh với thửa đất ông Huỳnh Ngọc T.
* Tại phiên tòa Kiểm sát viên có ý kiến:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất và ranh giới đất”.
Đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 9 Điều 26, 35, 39, 144, 147, 157, 158, 165, 166 BLTTDS; Căn cứ Điều 175 BLDS và Điều 12, Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất của Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N đối với vợ chồng ông Võ Đình B và UBND xã X
Về chi phí xem xét thẩm định và định giá: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên nguyên đơn bà Nguyễn Thị N phải chịu chi phí thẩm định và định giá tài sản. Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí DSST. Bà N được nhận lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo yêu cầu khởi kiện, đây là vụ án dân sự: “ Tranh chấp quyền sử dụng đất và ranh giới đất” theo quy định pháp luật về đất đai được qui định tại Điều 26 BLTTDS; bà Nguyễn Thị N và vợ, chồng ông Võ Đình B có hộ khẩu thường trú và diện tích đất tranh chấp tại xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Căn cứ Điều 35, 39 BLTTDS nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân nhân huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
[2]. Về người tham gia tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N, ủy quyền cho con gái là chị Nguyễn Minh H; bị đơn gồm vợ chồng ông Võ Đình B, bà Đỗ Thị Kim L và UBND xã X; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Q, ông Phan Xuân H3, ông Huỳnh Ngọc T và vợ chồng anh Nguyễn Anh T1, chị Đoàn Thị Bích P.
[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N, ủy quyền cho con gái là chị Nguyễn Minh H. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[3.1] Thửa đất số 439, tờ bản đồ 71, địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, có diện tích 400m² đất ở nông thôn và 2.246,4m² đất trồng cây hàng năm khác, được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH560572, cấp ngày: 18/9/2006 cho bà Nguyễn Thị N, nguồn gốc đất và nhà ở là của bà Nguyễn Thị Q. Năm 2002 bà Q chuyển nhượng lại thửa đất trên cho vợ chồng bà Nguyễn Thị N. Giáp ranh thửa đất 439 của bà N, có sự tranh chấp và có sự thay đổi về hiện trạng, gồm các thửa đất của những hộ sau: Thửa đất 483, tờ bản đồ 71, diện tích 2.156m², đã được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Võ Đình B; thửa đất 440, tờ bản đồ 71, diện tích 893m² loại đất trồng cây hàng năm khác, đã được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Huỳnh Ngọc T; thửa đất 442, tờ bản đồ 71, diện tích 3.285m² loại đất 5% do UBND xã X quản lý, hiện ông Phan Xuân H3 thuê canh tác trồng hoa màu.
[2.2] Quá trình thẩm định, đo đạc đối chiếu bản đồ trích lục thửa đất của bà Nguyễn Thị N, do Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ cung cấp với mảnh trích đo xem xét thẩm định tại chỗ lập ngày 22/02/2023 cụ thể như sau: Theo trích lục bản đồ năm 2006 đất bà N tiếp giáp với thửa đất 483 của hộ ông B có các điểm 21, 22, 1, 2; thửa 442 đất 5% của UBND xã X có các điểm 3, 4; thửa 440 đất của hộ ông Huỳnh Ngọc T có các điểm 5, 6, 7. Theo trích lục bản đồ năm 2016 đất bà N tiếp giáp với thửa 483 đất của hộ ông B có các điểm 1, 2, 3, 4; thửa 442 đất 5% của UBND xã X có các điểm 5, 6; thửa 440 đất của ông Huỳnh Ngọc T có các điểm 7, 8, 9. Theo mảnh trích đo đạt khi thẩm định ngày 22/02/2023 thửa 483 có các điểm 1, 2, 3, 4; thửa 442 có các điểm 5, 6; thửa 440 có các điểm 7, 8, 9, 10. Như vậy, từ điểm 1 đến điểm 10 của sơ đồ đo đạc thẩm định lập ngày 22/2/2023 với trích lục bản đồ năm 2006 và năm 2016 có một số điểm không trùng khớp ở các điểm 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 giữa các thửa đất 483, thửa 442, thửa 440 và với thửa đất 439 của bà N. Tuy nhiên, thực tế hiện tại các điểm giáp ranh giữa các thửa đất của gia đình bà N đối với các thửa đất 483 của ông Võ Đình B; thửa 442 đất 5% của xã X và thửa 440 đất của ông Huỳnh Ngọc T đều có hàng rào cây xanh và một số cây cổ thụ như: Cây dúi, cây keo, bụi tre (trúc) hiện nay vẫn còn, thể hiện khoảng cách và ranh giới rõ ràng. Đồng thời, đối với diện tích đất của bà Nguyễn Thị N đã được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 2.646,4m² với diện tích đất Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ đo đạc thẩm định ngày 22/02/2023, có diện tích 2.649,3m². Như vậy, thực tế diện tích đất của bà Nguyễn Thị N, hiện vẫn cao hơn so với điện tích đất Nhà nước đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N là 03m². Chứng tỏ rằng có một số điểm giữa các thửa đất không trùng khớp, nhưng diện tích đất của bà Nguyễn Thị N thực tế không bị giảm mà còn tăng gần 03m².
[2.3] Quá trình xác minh, thu thập chứng cứ và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Q, là chủ đất cũ đã chuyển nhượng cho vợ chồng bà Nguyễn Thị N xác định. Hiện trạng thửa đất của gia đình tôi trước đây với các thửa đất những người xung quanh đều có hàng rào cây xanh và một số cây cổ thụ như: Gốc cây dúi, cây keo, bờ rào cây xanh. Hiện tại thửa đất của bà N không có gì thay đổi so với trước đây tôi chuyển nhượng cho vợ chồng bà N. Hôm nay tôi xác định, ông Võ Đình B và những thửa đất giáp ranh không có lấn chiếm đất nhà ở của bà Nguyễn Thị N. Các ông Huỳnh Ngọc T và ông Phan Xuân H3 đều xác định quá trình canh tác không có lấn chiếm đất của bà N. Đồng thời những người làm chứng đều xác định. Họ là những người dân sinh sống tại địa phương ở xã X trước năm 1975, biết rõ nguồn gốc đất của bà Nguyễn Thị Q trước đây, nay bán cho bà Nguyễn Thị Đ1 (tức bà N). Ranh giới giữa nhà bà N và ông B có hàng rào ranh giới, có những cây đã trồng trước đây hiện nay vẫn còn như: Như cây T3, cây dúi, cây lồng mức. Ông B và các hộ dân có đất liền kề không có lấn chiếm đất của bà N.
Đại diện UBND xã X tại phiên tòa xác định: Năm 2021 Bà Nguyễn Thị N làm đơn khiếu nại về việc ông Võ Đình B lấn chiếm đất mục đích là để gây khó khăn cho việc ông B làm thủ tục gia hạn thời hạn sử dụng đất trồng cây hàng năm khác. Sau khi Tòa án thụ lý đã tiến hành đo đạc, thẩm định thì diện tích đất của bà N không giảm mà vẫn tăng 03m² so với diện tích đất Nhà nước đã cấp giấy chứng nhận. Đối với diện tích đất 3.285m², thửa số 442, tờ bản đồ số 71 là đất 5% của UBND xã X quản lý, giáp ranh với thửa đất 439 của bà Nguyễn Thị N. Về sơ đồ ranh giới, mặc dù có một số điểm không trùng khớp với trích lục bản đồ năm 2006 và năm 2016, là do sai số của người đo vẽ giữa các lần chỉnh lý, nhưng không làm ảnh hưởng đến diện tích đất của bà Nguyễn Thị N mà còn tăng thêm 03m² so với diện tích đất được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[3] Tại phiên tòa chị Nguyễn Minh H có đơn đề nghị hoãn phiên tòa để đo đạc diện tích đất ông B; phần tranh luận chị H trình bày một số nội dung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, đơn yêu cầu xin hoãn phiên tòa để đo đạc diện tích đất ông B không phù hợp, vì đất của bà N thực tế còn tăng thêm 03m² không phải là thiếu, nếu thiếu thì Tòa án sẽ có trách nhiệm đo đạc để làm rõ vì sao đất bà N thiếu, trước khi đưa vụ án ra xét xử. Trước khi mở phiên tòa ngày 03/5/2024 Tòa án cũng đã hoãn phiên tòa 02 lần theo đơn yêu cầu của chị H. Những nội dung chị H nêu trong phần tranh luận đều không có cơ sở, không phù hợp với những lời trình bày của của bị đơn, người có quyền lợi liên quan, người làm chứng có mặt tại phiên tòa và không phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N, ủy quyền cho con gái là chị Nguyễn Minh H, khởi kiện về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và ranh giới đất”.
[3]. Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định, đo đạc số tiền là 2.240.000đ; chi phí định giá số tiền: 3.200.000đ. Tổng cộng hai khoản số tiền là 5.440.000₫ bà Nguyễn Thị N đã nộp, Tòa án đã tiến hành chi trả. Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, nên bà Nguyễn Thị N phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định và chi phí định giá tài sản.
[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147; Điều 12 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bà Nguyễn Thị N là người cao tuổi nên được miễn phần án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí 300.000đ cho bà N theo phiếu thu số: 0000816 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân lập ngày 29/12/2022.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9, Điều 26, Điều 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175, 246 BLDS năm 2015; Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N, ủy quyền cho con gái là chị Nguyễn Minh H, khởi kiện về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và ranh giới đất” với vợ chồng ông Võ Đình B, bà Đỗ Thị Kim L và UBND xã X.
- Về Chi phí cho việc thẩm định, đo đạc số tiền là 2.240.000đ; chi phí định giá số tiền: 3.200.000đ; tổng cộng hai khoản số tiền là 5.440.000đ. Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, nên bà Nguyễn Thị N phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định, đo đạc và chi phí định giá tài sản. Chị Nguyễn Minh H con gái bà N đã nộp đủ, Tòa án đã tiến hành chi trả số tiền trên.
- Về án phí Dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N là người cao tuổi nên được miễn phần án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí 300.000đ cho bà N theo phiếu thu số: 0000816 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân lập ngày 29/12/2022.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết công khai hoặc được tống đạc hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Long |
Bản án số 02/2024/DS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất và ranh giới đất
- Số bản án: 02/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và ranh giới đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QDSĐ giữa bà N và VC ông B
