|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/DS-PT Ngày 14/11/2024 V/v: Tranh chấp thừa kế |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Với hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Thế Bình.
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, ông Hoàng Ngọc Sơn.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh- Kiểm sát viên.
Ngày 11/11/2024 và 14/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa công khai để xét xử phúc thẩm vụ án “Tranh chấp thừa kế” thụ lý số: 17/2024/TLPT-DS, ngày 11/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXX- DS, ngày 24/10/2024; giữa:
-
+ Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1957. Trú tại: Thôn L, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
-
+ Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960. Trú tại: Thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt)
-
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
- Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1964. Trú tại: Thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh ( có mặt).
-
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1962; Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1963; Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1988. Đều trú tại: Số E, T, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984. Trú tại: Số D, T, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng). Bà H, anh T1, chị H1 ủy quyền cho ông D, ông D (có mặt).
-
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị K trình bày:
Bố mẹ bà là cụ Nguyễn Văn T2, sinh năm 1930 (chết năm 2008) và cụ Vương Thị M, sinh năm 1937 (chết năm 2014). Cụ T2, cụ M sinh được 4 người con là bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1957, bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960, ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1962 và ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1964. Ngoài 4 người con như đã nêu, cụ T2 và cụ M không có con nuôi, con riêng nào khác.
Thửa đất số 108A (đất ở), tờ bản đồ đồ 02, diện tích 288m² và thửa đất số 108B (đất vườn), tờ bản đồ 02, diện tích 225m² tại: Thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh có nguồn gốc là đất do bố mẹ để lại cho cụ T2 và cụ M, ngày 13/12/2000 được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận đứng tên chủ sử dụng là hộ ông Nguyễn Văn T2.
Quá trình sử dụng, hai cụ có làm ngôi nhà cấp bốn 5 gian cùng công trình phụ trên đất để phục vụ nhu cầu ăn, ở sinh hoạt của gia đình. Cụ T2, cụ M cùng các con sinh sống trên thửa các đất từ năm 1971 cho đến khi bà K, bà T đi lấy chồng, ông V lấy vợ và ở riêng, ông D lấy vợ và sống cùng cụ T2, cụ M đến khoảng năm 1985- 1986 thì ở riêng. Năm 1984 vợ chồng bà T ly hôn nên bà T về sống cùng cụ T2, cụ Mai M1 thời gian thì chuyển ra ngoài ở nên chỉ có cụ T2 và cụ M sống trên đất. Năm 2008, do ngôi nhà cấp bốn hư hỏng xuống cấp nên cụ T2, cụ M chuyển đến sống cùng bà T. Tháng 10/2008 cụ T2 chết, sau khi cụ T2 chết cụ M sống cùng bà T cho đến khi qua đời.
Sau khi cụ T2, cụ M chết. hai cụ không lập di chúc phân chia di sản cho những người thừa kế, những người thừa kế cũng không có việc thỏa thuận phân chia di sản, tài sản do 02 cụ để lại là Thửa đất số 108A và thửa đất số 108B, tờ bản đồ đồ 02 do bà T trông nom, trong thời gian trong nóm, quản lý di sản bà T có trồng một số cây ăn quả ngắn ngày trên đất.
Bà K yêu cầu: Chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 108A, tờ bản đồ đồ 02, diện tích 288m² và thửa đất số 108B, tờ bản đồ đồ 02, diện tích 225m² tại thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh do cụ T2, cụ M để lại cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật, nguyện vọng của bà muốn nhận kỷ phần thừa kế do bố mẹ để lại là quyền sử dụng đất
* Bị đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày: Bố mẹ bà là cụ Nguyễn Văn T2, sinh năm 1930 (chết năm 2008) và cụ Vương Thị M, sinh năm 1937 (chết năm 2014).
Bà Thành C nhận lời trình bày của bà K về việc cụ T2, cụ M có những người con, họ tên, năm sinh, địa chỉ là đúng.
Bà Thành C nhận lời khai của bà K về nguồn gốc thửa đất 108 A, tờ bản đồ đồ 02, diện tích 288m² và thửa đất số 108 B, tờ bản đồ đồ 02, diện tích 225m² tại thôn P, xã D, huyện Y là đúng.
Tài sản trên đất là ngôi nhà cấp bốn gồm 05 gian và nhà bếp, tài sản này là do cụ T2, cụ M xây dựng.
Đến tháng 3/2008, do ngôi nhà cấp bốn bị sụp đổ nên cụ T2, cụ M chuyển đến sống cùng bà T đến tháng 10/2008 cụ T2 chết. Sau khi cụ T2 chết, cụ M sống cùng bà T cho đến khi cụ M chết.
Thửa đất số 108A, tờ bản đồ đồ 02, diện tích 288m² và thửa đất số 108B, tờ bản đồ đồ 02, diện tích 225m² tại thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh hiện nay để trống, bà T có trồng một số cây ăn quả ngắn ngày và trông nom thửa đất. Trên thửa đất không xây dựng công trình gì, hiện nay bà T đang trông nom và quản lý thửa đất trên.
Thời điểm cụ T2 và cụ M còn sống, trên thửa đất có gian nhà cấp bốn (đã xuống cấp), toàn bộ công trình xây dựng trên đất đã bị phá bỏ.
Hiện nay trên thửa đất không còn công trình xây dựng gì. Khi cụ T2 chết, cụ M là người đứng ra lo việc mai tang cho cụ T2. Khi cụ M chết, các chị em ruột của bà T là người đứng ra lo việc mai táng cho cụ M.
Bà T không có công tân tạo gì đối với thửa đất, thửa đất vẫn giữ nguyên hiện trạng như ban đầu.
Trước khi chết cụ T2 để lại di chúc cho bà T thửa đất nhưng nội dung di chúc không thể hiện thửa đất có địa chỉ ở đâu. Bà T xác định di chúc không hợp pháp, không đề nghị chia thừa kế theo di chúc.
Nguyễn Thị K yêu cầu: Chia di sản thừa kế của cụ T2 và cụ M là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 108A, tờ bản đồ đồ 02, diện tích 288m² và thửa đất số 108B, tờ bản đồ đồ 02, diện tích 225m² tại thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh theo quy định của pháp luật, bà T đồng ý. Bà T có nguyện vọng được nhận kỷ phần thừa kế là thửa đất.
Đối với phần mai táng phí của cụ T2 và cụ M, bà T không yêu cầu giải quyết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn D trình bày:
Bố mẹ ông D là cụ Nguyễn Văn T2, sinh năm 1930, chết năm 2008 và cụ Vương Thị M, sinh năm 1937, chết năm 2014.
Ông D công nhận lời trình bày của nguyên đơn về việc cụ T2, cụ M có những người con, họ tên, năm sinh, địa chỉ như bà K trình bày là đúng.
Thửa đất số 108 A, tờ bản đồ đồ 02, diện tích 288m² và thửa đất số 108 B, tờ bản đồ đồ 02, diện tích 225m² tại thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh có nguồn gốc như thế nào ông D không nắm được. Ông D chỉ biết là khi ông D còn nhỏ đã có thửa đất này rồi. Thửa đất trên được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Nguyễn Văn T2 vào ngày 13/12/2000. Ông D xác định thửa đất trên là của cụ T2 và cụ M.
Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ cụ Nguyễn Văn T2 gồm có 07 người là cụ T2, cụ M, ông D, vợ ông D là bà Nguyễn Thị H, 03 người con của ông D, bà H là chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984; anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1988, anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1991, chết năm năm 2007.
Gia đình ông D gồm vợ chồng ông D và các con của ông D cùng cụ T2, cụ M sinh sống trên thửa đất trên. Bà K sống cùng đến khoảng năm 1980 thì đi lấy chồng và ở riêng cùng gia đình nhà chồng, bà T sống cùng đến khoảng năm 1982 thì đi lấy chồng và ở riêng cùng gia đình nhà chồng, ông V sống cùng đến khoảng năm 1984 thì lấy vợ và ở riêng trên thửa đất khác, không sống trên thửa đất cùng cụ T2, cụ M.
Gia đình ông D sinh sống tại thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đến năm 2002 thì chuyển vào sinh sống ổn định tại tỉnh Lâm Đồng cho đến nay, cụ T2, cụ M sống trên nhà đất trên cho đến khi chết. Sau khi cụ T2 và cụ M chết, bà T có trồng cây trên thửa đất và tạm thời quản lý thửa đất cho đến nay.
Thời điểm cụ T2, cụ M còn sống thì trên thửa đất có gian nhà cấp bốn (đã xuống cấp). Hiện nay trên thửa đất không còn công trình xây dựng gì, toàn bộ công trình xây dựng trên đất đã bị phá bỏ. Ông D không có công sức đóng góp gì vào việc tân tạo thửa đất.
Trước khi cụ M chết, vì ông D là con trai trưởng nên cụ M có đưa cho ông D Bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Sổ hộ khẩu gia đình để ông D giữ. Do vậy ông D hiện đang giữ Bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Sổ hộ khẩu gia đình.
Ông D không đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của bà Nguyễn Thị K yêu cầu: Chia di sản thừa kế của cụ T2, cụ M là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 108 A, tờ bản đồ đồ 02, diện tích 288m² và thửa đất số 108 B, tờ bản đồ đồ 02, diện tích 225m² tại thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh theo quy định của pháp luật. Ông D đề nghị chia thừa kế cho những người có tên trong danh sách hộ khẩu năm 2001 của hộ ông Nguyễn Văn T2 gồm: Cụ Nguyễn Văn T2, cụ Vương Thị M, ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Văn T1. Ông D không đồng ý chia thừa kế tài sản trên cho bà K, bà T, ông V.
Đối với phần mai táng phí của cụ T2 và cụ M, ông D không yêu cầu giải quyết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn V trình bày:
Ông V công nhận lời trình bày của bà K, bà T về việc cụ T2, cụ M có những người con, họ tên, năm sinh, địa chỉ là đúng.
Ông V công nhận lời khai của bà K, bà T về nguồn gốc thửa đất 108A, tờ bản đồ đồ 02, diện tích 288m² và thửa đất số 108B, tờ bản đồ đồ 02, diện tích 225m² tại thôn P, xã D, huyện Y là đúng.
Nguyễn Thị K yêu cầu: Chia di sản thừa kế của cụ T2 và cụ M là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 108 A, tờ bản đồ đồ 02, diện tích 288m² và thửa đất số 108 B, tờ bản đồ đồ 02, diện tích 225m² tại thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh theo quy định của pháp luật, ông V đồng ý. Ông V có nguyện vọng được nhận kỷ phần thừa kế là thửa đất.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định và định giá tài sản đang tranh chấp, kết quả định giá xác định đất ở có giá: 3.500.000đ/m², đất vườn có giá: 70.000đ/m²; Theo kết quả đo đạc thẩm định tại chố đối với thửa 108A và thửa 108B có tổng diện tích là 630,5m²
Để làm rõ diện tích đất thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp tại thửa đất số 108A và thửa 108B đứng tên hộ ông Nguyễn Văn T2 theo đại diện UBND xã D, huyện Y. Lý do có sự thay đổi diện tích đát của hộ c ông Nguyễn Văn T2 là do phía cuối thửa đất là đất ao của tập thể, gia đình đã tân lấp phần ao của tập thể để sử dụng dẫn đến diện tích đất tăng. Nhà nước chỉ công nhận hộ ông Nguyễn Văn T2 được sử dụng hợp pháp tổng diện tích của 02 thửa đất là 513m², trong đó Thửa số 108A có diện tích 288m² và thửa số108B có diện tích 225m².
Với nội dung trên tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 28/2024/DSST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Căn cứ Điều 92, 147; 157; 165; 239; 260; 264; 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 612; 613; 623; 649, 650, 651 Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị K.
Xác nhận di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn T2 và cụ Vương Thị M là quyền sử dụng đất của thửa đất 108A, tờ bản đồ 02 có diện tích 288m² và thửa đất số 108 B, tờ bản đồ 02 có diện tích 225m² tại thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
Xác nhận hàng thừa kế thứ nhất của của cụ Nguyễn Văn T2 gồm: Cụ Vương Thị M, bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn D và ông Nguyễn Văn V.
- Sau khi cụ M chết, hàng thừa kế thứ nhất của cụ M gồm: Bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn D và ông Nguyễn Văn V.
- Chia di sản thừa kế của của cụ T2 và cụ M để lại là quyền sử dụng đất của thửa đất 108 A, tờ bản đồ 02 có diện tích 288m² và thửa đất số 108 B, tờ bản đồ 02 có diện tích 225m² tại thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh cho bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn V.
- Xác định phần đất có kích thước: có kích thước là: Cạnh 11- 12 có chiều dài 2,66m; cạnh 12 - 13 có chiều dài 1,92m, cạnh 13 - 21 có chiều dài 9,38m, cạnh 21 - 22 có chiều dài 4,34m, cạnh 22 – 11 có chiều dài 8.51m, diện tích là 40,3m² là lối đi chung.
Bà T, ông D được quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất cụ thể như sau:
- Chia cho ông D được sử dụng thửa đất số 1 có diện tích 115,7 m² + 119,6 m² = 253,3m². Thửa đất có tứ cận: Phía Đông giáp thửa đất số 111 và ngõ đi, phía Nam giáp đất ao, phía Tây giáp thửa đất của bà T, phía Bắc giáp ngõ đi. (Các cạnh của thửa đất có kích thước như sau: Cạnh 13 – 14 có chiều dài 12,22m; cạnh 14 – 15 có chiều dài 7,02m, cạnh 15 – 16 có chiều dài 4,48m, cạnh 16 – 17 có chiều dài 1m, cạnh 17 - 20 có chiều dài 8,5m, cạnh 20 – 21 có chiều dài 23,03m; cạnh 21 – 13 có chiều dài 9,38m).
- Chia cho bà T được sử dụng thửa đất số 2 có diện tích 132 m² + 105,4 m² = 237,4 m². Thửa đất có tứ cận: Phía Đông giáp thửa đất của ông D, phía Nam giáp đất ao, phía Tây giáp thửa đất số 90, phía Bắc giáp ngõ đi. (Các cạnh của thửa đất có kích thước như sau: Cạnh 22 - 21 có chiều dài 4,34m; cạnh 21- 20 có chiều dài 23,03m; Cạnh 20 – 3 có chiều dài 9,24m; cạnh 3 - 4 có chiều dài 0,82m, cạnh 4 – 5 có chiều dài 10,48m; cạnh 5 – 6 có chiều dài 6,60m, cạnh 6 – 7 có chiều dài 3,99m, cạnh 7 – 8 có chiều dài 1,97m, cạnh 8 – 9 có chiều dài 3,17m, cạnh 9 – 10 có chiều dài 2,56m, cạnh 10 – 22 có chiều dài 6,38m).
(Kèm theo sơ đồ phân chia di sản thừa kế tại thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh).
Ông D có trách nhiệm trả cho ông V số tiền 192.647.000 đồng (một trăm chín mươi hai triệu, sáu trăm bốn bảy nghìn đồng).
Bà T có trách nhiệm trả cho bà K số tiền 220.675.000 đồng (hai trăm hai mươi triệu, sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), bà T có trách nhiệm trả ông V số tiền 28.028.000 đồng (hai mươi tám triệu, không trăm hai mươi tám nghìn đồng).
Các đương sự có quyền liên hệ với các cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà K, bà T, ông D. Ông V phải chịu 11.034.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà K 12.000.000 đồng tiền án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 01262, ngày 06/12/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Bà Nguyễn Thị K tự nguyện chịu 12.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản,
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất đối với số tiền chưa thi hành án theo quy định tại điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 09/7/2024 ông Nguyễn Văn D có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm do Tòa án nhân dân huyện Yên phong, tỉnh Bắc Ninh đã xử.
Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn D giữ nguyên đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sơ thẩm theo hướng xác định lại phần diện tích đất là di sản thừa kế do bố mẹ là cụ T2, M nằm trong 02 thửa đất là thửa số 108A và thửa 108B, tờ bản đồ số 02 có địa chỉ tại xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh với căn cứ cho rằng: Nguồn gốc thửa đất số 108A (đất ở) diện tích 288m² và Thửa số 108B, diện tích 225m² (đất vườn) là tài sản do ông cha để lại cho bố, mẹ ông là cụ T2, cụ M, quá trình quản lý sử dụng cụ Từ, cụ M đã làm nhà ở và các công trình trên đất. Năm 2000 khi địa phương tiến hành làm thủ tục kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cụ T2 đã tiến hành kê khai và được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất công nhận hộ ông Nguyễn Văn T2 có quyền sử dụng 02 thửa đất có diện tích như đã nêu. Tại thời điểm UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ cụ T2, vợ chồng và các con của ông tuy không cùng chung sống ở cùng cụ T2, cụ M (vì vợ chồng ông đã chuyển vào cư trú và làm ăn tại Lâm Đồng từ năm 1996 đến nay). Song theo sổ đăng ký nhân khẩu, hộ khẩu của hộ cụ Nguyễn Văn T2 thì vào thời điểm Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất công nhận cho hộ cụ T2 có quyền quản lý sử dụng hợp pháp 02 thửa đất thì vợ chồng và gia đình ông có tên trong sổ hộ khẩu của hộ cụ T2 nên theo qui định vợ chồng và gia đình ông có quyền đồng sở hữu, sử dụng đối với 02 thửa đất, tòa án cấp sơ thẩm khi chi thừa kế xác định di sản do cụ T2, cụ M để lại là toàn bộ diện tích của 02 thửa đất là không đúng đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng và các con ông là anh T1, anh H2, chị H1. Ông D đề nghị tòa xem xét lại toàn bộ nội dung và quyết định của bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa nguyên đơn là bà K, bị đơn là bà T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông V khẳng định nguồn gốc thửa 108A và thửa số 108B là tài sản chung và là di sản do cụ T2, cụ M để lại như bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xác định là đúng, căn cứ kháng cáo của ông D cho rằng 02 thửa đất là tài sản chung của cụ M, cụ M, ông D, bà H, anh T1, anh H2, chị H1 là không đúng. Các đương sự đề nghị tòa giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa bà K nhất trí nhận giá trị di sản bằng giá trị như bản án sơ thẩm và bà không yêu cầu bà T phải trích trả cho bà giá trị di sản.
Cũng tại phiên tòa sau khi đánh giá việc chấp hành pháp luật tố tụng của các thành viên hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, việc chấp hành và thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của các đương sự đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh đề nghị hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của BLTTDS sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 28/2024/DSST ngày 25/6/2024 của TAND huyện Yên Phong theo hướng xác định lại giá trị di sản và chia lại di sản do cụ T2, cụ M để lại cho những người thừa kế là bà T, bà K, ông D, ông V với lý do: Khi chia di sản sản là quyền sử dụng đất tòa án cấp sơ thẩm đã cắt 40,3m² nằm tại thửa đất 108A để làm lối đi chung và xác định thuộc quyền quản lý sử dụng chung cho người được nhận di sản bằng quyền sử dụng đất là bà T, ông D, song tòa án lại không xem xét buộc người được nhận thừa kế là quyền sử dụng đất là bà T3, ông D phải trích trả giá trị tài sản được nhận với phần diện tích này cho những người thừa kế còn lại là không đúng đã xâm phạm đến quyền lợi của bà K và ông V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
I. Về tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T thấy, bà T khởi kiện yêu cầu tòa án nhân dân huyện yên phong, tỉnh Bắc Ninh chia tài sản là quyền sử dụng đất tại các thửa số 108A và thửa đất số 108B có địa chỉ tại xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh do cụ cụ Nguyễn Văn T2 và cụ Vương Thị M để lại sau khi chết cho những người thừa kế. Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện thấy Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xác định quan hệ tranh chấp là "Chia thừa kế tài sản" và thụ lý giải quyết là trong thời hiệu khởi kiện, đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền thẩm quyền giải quyết các vụ, việc dân sự được qui định tại Điều 263 của BLDS; khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;.
- Xét đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn D thấy: Ông Nguyễn Văn D là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, là người được hưởng di sản thừa kế và có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến vụ án nên ông D có quyền kháng đối với bản án thẩm. Đơn kháng cáo của ông D được làm và gửi trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm
Xét lý do kháng của ông D thấy: Ông D kháng cáo cho rằng Bản án dân sự sơ thẩm số: 28/2024/DSST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xác định di sản thừa kế do cụ Nguyễn Văn T2 và cụ Vương Thị M để lại toàn bộ diện tích nằm tại 02 thửa đất là thửa đất số 108A (đất ở) có diện tích 288m² và thửa đất số 108B (đất vườn) diện tích 225m² thuộc tờ bản đồ số 02 có địa chỉ tại Thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đứng tên hộ ông Nguyễn Văn T2 do UBND huyện yên P, tỉnh Bắc Ninh cấp giấy năm 2000 là không chính xác không đúng với tinh thần được qui định tại khoản 29 Điều 3 của Luật đất đai năm 2013 và Điều 212 của BLDS năm 2005 qui định về tài sản chung của hộ gia đình, với căn cứ chứng minh vào năm 2000 khi Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất công nhận hộ ông Nguyễn Văn T2 được sử dụng hợp pháp thửa đất số 108A và thửa đất số 108B hộ cụ ông Nguyễn Văn T2 không chỉ có 02 nhân khẩu là cụ T2 và cụ M mà có 07 nhân khẩu là cụ T2, cụ M, ông D, bà H, chị H1, anh T1 và anh H2, theo qui định đây là tài sản chung của hộ gia đình (tài sản chung theo phần) do vậy theo qui định di sản do cụ T2 và cụ M để lại chỉ chiếm 2/7 diện tích mỗi thửa đất thửa đất (cụ thể: Tại thửa đất số 108A phần diện tích thuộc di sản của cụ T2, cụ M để lại là: (288m²:7) x 2 = 82,28m², Tại thửa đất số 108B phần diện tích đất thuộc di sản 2 cụ để lại là: (225m²:7) x 2 = 64,26m², song tòa án cấp sở thẩm lại xác định toàn bộ diện tích của 02 thửa đất là di sản do cụ T2, cụ M để lại sau khi chết là không đúng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của của vợ chồng và các con ông.
Sau khi xem xét lý do và căn cứ kháng cáo của ông Nguyễn Văn D, hội đồng xét xử thấy: Năm 2000 khi UBND huyện P, tỉnh Bắc Ninh làm thủ tục kê khai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng công nhận hộ ông Nguyễn Văn T2 có quyền quản lý, sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 108A (đất ở) và Thửa số 108B (đất vườn) thuộc tờ bản đồ số 02 có địa chỉ tại xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như ông D trình bày theo sổ hộ khẩu hộ ông Nguyễn Văn T2 có 7 nhân khẩu. Xong xét nguồn gốc và quá trình sử và quyền sử dụng đối với 02 thửa đất là thửa đất số 108A và thửa đất số 108B thấy: Quá trình tố tụng các đương sự là bà K, bà T, ông V1 và D đều khẳng định thửa đất số 108A và thửa đất số 108B là có nguồn gốc đất do ông cha để lại cho cụ T2, cụ M, quá trình quản lý sử dụng cụ Từ và cụ M đã xây dựng nhà ở và các công trình trên đất để phục vụ nhu cầu ăn ở, sinh hoạt của gia đình (nhà ở và các công trình trên đất hiện nay đã xuống cấp, hư hỏng, không còn). Theo qui định của pháp luật về xác lập quyền sử dụng đất thông qua việc nhận chuyển quyền sử dụng đất từ ông cha để lại thì cụ T2, cụ M mới là người có quyền sử dụng hợp pháp đối với 02 thửa đất. Mặt khác xét thời điểm nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất công nhận hộ ông Nguyễn Văn T2 được sử dụng hợp pháp 02 thửa đất, tuy thời điểm đó hộ gia đình ông T2 kê khai có 7 nhân khẩu gồm cụ T2, cụ M và 5 thành viên của gia đình ông D, song tại thời điểm Nhà nước cấp giấy chứng nhận 5 thành viên của gia đình ông D đã chuyển vào Lâm Đồng cư trú và làm ăn không còn chung sống cùng cụ T2, cụ M nên vợ chồng ông D và các con ông D không có quyền sử dụng đất. Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản do cụ T2, cụ M để lại sau khi chết là toàn bộ diện tích nằm tại 02 thửa đất là thửa số 108A, tờ bản đồ số 02, diện tích 288m² (có giá trị là 288m² x 3.500.000đ/m²= 1.008.000.000đ) và thửa đất số 108B, tờ bản đồ số 02, diện tích 225m² (có giá trị là 225m² x 70.000đ/m²= 15.750.000đ) có địa chỉ tại: Thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh và chia thừa kế cho bà K, bà T, ông D, ông V là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét cách thức chia di sản của tòa án cấp sơ thẩm thấy: Tòa án cấp sơ thẩm sau khi xem xét đặc điểm, vị trí đối với di sản thừa kế là 02 thửa đất, căn cứ nhu cầu và nguyện vọng của những người thừa kế, sau khi cắt 01 phần diện tích nằm tại thửa đất số 108A với diện tích 40,3m² để làm lối đi chung sau đó chia và giao phần diện tích còn lại của 02 thửa đất cho ông D, bà T là được nhận quyền sử dụng đất và buộc người được nhận di sản là quyền sử dụng đất phải trích trả giá trị cho những người thừa kế còn lại là phù hợp. Song nhận thấy án sơ thẩm sau khi trừ đi phần diện tích dành làm lối đi chung là 40,3m² (tương ứng giá trị 141.050.000₫) phần diện tích đất còn lại mới đem chia cho những người thừa kế là không đúng qui định của pháp luật đã xâm phạm đến quyền lợi của người thừa kế được nhận di sản bằng giá trị là của ông V, bà K. Quá trình tố tụng tuy ông V, bà K không có đơn kháng cáo, song ông D có đơn kháng cáo đề nghị tòa cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm nên thấy cần phải sửa bản án sơ thẩm theo hướng như sau:
Xác nhận di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn T2 (chết năm 2008) và cụ Vương Thị M (chết năm 2014) để lại là quyền sử dụng đất của thửa đất 108A, tờ bản đồ 02 có diện tích 288m² và thửa đất số 108B, tờ bản đồ 02 có diện tích 225m² tại thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh có tổng giá trị là 1.023.750.000đ. Xác nhận người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất được nhận di sản do cụ Nguyễn Văn T2 và cụ Vương Thị M để lại theo pháp luật là: Bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn D và ông Nguyễn Văn V.
- Chia di sản thừa kế của của cụ T2 và cụ M để lại là quyền sử dụng đất của thửa đất 108A, tờ bản đồ 02 có diện tích 288m² và thửa đất số 108B, tờ bản đồ 02 có diện tích 225m² tại thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh cho bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn V, mỗi người thừa kế được nhận phần di sản của hai cụ để lại là: 288m²: 4 = 72m² đất ở và 225m²: 4 = 56,25m² đất vườn, tương ứng mỗi thừa kế được nhận di sản có giá trị là: (1.008.000.000₫ + 15.750.000đ): 4= 255.937.500đ/người
- Xác định phần đất nằm tại thửa 108A có kích thước: Cạnh 11 – 12 có chiều dài 2,66m; cạnh 12 - 13 có chiều dài 1,92m, cạnh 13 - 21 có chiều dài 9,38m, cạnh 21 - 22 có chiều dài 4,34m, cạnh 22 – 11 có chiều dài 8.51m, diện tích là 40,3m² có gía trị là 141.050.000₫ là lối đi chung, thuộc quyền quản lý, sử dụng chung của bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn D.
Phần diện tích đất ở còn lại của thửa đất 108A, tờ bản đồ 02 là: 288m²- 40,3m² = 247,7m² và 225m² (đất vườn) của thửa đất số 108B, tờ bản đồ 02 chia và giao cho bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn D được quyền sử dụng, cụ thể:
- Chia cho ông Nguyễn Văn D được sử dụng thửa đất ký hiệu số 1 có tổng diện tích 253,3m², trong đó đất ở là 115,7m², đất vườn là 119,6 m², có gía trị là: (115,7m² x 3.500.000₫) + (119,6m² x 70.000₫)= 413.322.000đ, tổng gía trị di sản ông D được nhận là: 413.322.000đ + (141.050.000đ : 2)= 483.847.000đ. Thửa đất có tứ cận: Phía Đông giáp thửa đất số 111 và ngõ đi, phía Nam giáp đất ao, phía Tây giáp thửa đất của bà T, phía Bắc giáp ngõ đi với các cạnh của thửa đất có kích thước như sau: Cạnh 13- 14 có chiều dài 12,22m; Cạnh 14- 15 có chiều dài 7,02m: Cạnh 15– 16 có chiều dài 4,48m; Cạnh 16- 17 có chiều dài 1m; Cạnh 17- 20 có chiều dài 8,5m; Cạnh 20- 21 có chiều dài 23,03m; Cạnh 21- 13 có chiều dài 9,38m).
- Chia cho bà T được sử dụng thửa đất ký hiệu số 2 có tổng diện tích diện tích 132 m² + 105,4 m² = 237,4 m², trong đó đất ở là 132m2, đất vườn là 105,4m2 có giá trị là; (132m2 x 3.500.000₫) + (105,4m² x 70.000đ)= 469.378.402đ, tổng giá trị di sản bà T được nhận là: 469.378.402đ + (141.050.000₫ : 2) = 539.903.000đ. Thửa đất có tứ cận: Phía Đông giáp thửa đất của ông D, phía Nam giáp đất ao, phía Tây giáp thửa đất số 90, phía Bắc giáp ngõ đi có kích thước các cạnh như sau: Cạnh 22- 21 có chiều dài 4,34m; Cạnh 21- 20 có chiều dài 23,03 m; Cạnh 20- 3 có chiều dài 9,24m; Cạnh 3 - 4 có chiều dài 0,82m; Cạnh 4- 5 có chiều dài 10,48m; Cạnh 5- 6 có chiều dài 6,60m; Cạnh 6- 7 có chiều dài 3,99m; Cạnh 7- 8 có chiều dài 1,97m; Cạnh 8- 9 có chiều dài 3,17m; Cạnh 9- 10 có chiều dài 2,56m; Cạnh 10- 22 có chiều dài 6,38m).
Ông D có trách nhiệm trích trả cho ông Nguyễn Văn V giá trị chênh lệch của di sản được nhận với số tiền là: 483.847.000₫ - 255.937.500đ = 227.909.500đ.
Bà T có trách nhiệm trích trả cho bà K và ông V giá trị chênh lệch của di sản được nhận như sau; T4 cho bà K số tiền là: 255.937.500 đồng; T4 trả cho ông V số tiền là: 28.028.000đ. Tại phiên tòa bà K không yêu cầu bà T phải có trách nhiệm trích trả cho bà giá trị di sản được nhận, xét việc không yêu cầu bà T phải trích trả giá trị di sản được nhận của bà K là tự nguyện cần ghi nhận.
Sau khi bản án có hiệu pháp luật bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn D có quyền liên hệ với Cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện đất được nhận theo quy định của pháp luật.
Từ phân tích và nhận định trên thấy cấp nhận đơn chấp nhận đơn kháng cáo của ong Nguyễn Văn D, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 28/2024/DSST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng có của ông D được chấp nhận theo qui định ông D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 612; 613; 623; 649, 650, 651 Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về phí, lệ phí tòa án. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 28/2024/DSST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị K.
Xác nhận di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn T2 (chết năm 2008) và cụ Vương Thị M (chết năm 2014) để lại là quyền sử dụng của thửa đất 108A, tờ bản đồ 02 có diện tích 288m² và thửa đất số 108B, tờ bản đồ 02 có diện tích 225m² tại thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, có tổng giá trị là: 1.023.750.000đ.
Xác nhận người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của của cụ Nguyễn Văn T2 và cụ Vương Thị Mlà: Bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn D và ông Nguyễn Văn V.
- Chia di sản thừa kế của của cụ T2 và cụ M để lại là quyền sử dụng đất của thửa đất 108A, tờ bản đồ 02 có diện tích 288m² và thửa đất số 108B, tờ bản đồ 02 có diện tích 225m² tại thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh cho bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn V, mỗi người thừa kế được nhận phần di sản của hai cụ để lại là 72m² đất ở và 56,25m² đất vườn, tương ứng mỗi thừa kế được nhận giá trị thừa kế là: 255.937.500đ/người
- Xác định phần đất nằm tại thửa 108A có kích thước: Cạnh 11 – 12 có chiều dài 2,66m; Cạnh 12- 13 có chiều dài 1,92m: Cạnh 13- 21 có chiều dài 9,38m; Cạnh 21- 22 có chiều dài 4,34m; Cạnh 22- 11 có chiều dài 8.51m, diện tích là 40,3m² có giá trị là 141.050.000₫ là lối đi chung thuộc quyền quản lý, sử dụng chung của bà T và ông D.
- Chia cho ông Nguyễn Văn D được sử dụng thửa đất số 1 có tổng diện tích 253,3m², trong đó đất ở là 115,7m², đất vườn là 119,6m², có giá trị là: (115,7m² x 3.500.000₫) + (119,6m² x 70.000₫)= 413.322.000đ, tổng giá trị di sản ông D được nhận là: 413.322.000đ + (141.050.000₫ :2)= 483.847.000đ. Thửa đất có tứ cận: Phía Đông giáp thửa đất số 111 và ngõ đi, phía Nam giáp đất ao, phía Tây giáp thửa đất của bà T, phía Bắc giáp ngõ đi với các cạnh của thửa đất có kích thước như sau: Cạnh 13- 14 có chiều dài 12,22m; Cạnh 14- 15 có chiều dài 7,02m; Cạnh 15- 16 có chiều dài 4,48m; Cạnh 16- 17 có chiều dài 1m; Cạnh 17- 20 có chiều dài 8,5m; Cạnh 20- 21 có chiều dài 23,03m; Cạnh 21- 13 có chiều dài 9,38m).
- Chia cho bà T được sử dụng thửa đất số 2 có tổng diện tích diện tích 132 m² + 105,4 m² = 237,4 m², trong đó đất ở là 132m2, đất vườn là 105,4m2 có giá trị là; (132m2 x 3.500.000₫) + (105,4m² x 70.000₫)= 469.378.402đ, tổng giá trị di sản bà T được nhận là: 469.378.402đ + (141.050.000₫ : 2) = 539.903.000đ. Thửa đất có tứ cận: Phía Đông giáp thửa đất của ông D, phía Nam giáp đất ao, phía Tây giáp thửa đất số 90, phía Bắc giáp ngõ đi có kích thước các cạnh như sau: Cạnh 22 - 21 có chiều dài 4,34m; Cạnh 21- 20 có chiều dài 23,03m; Cạnh 20- 3 có chiều dài 9,24m; Cạnh 3- 4 có chiều dài 0,82m; Cạnh 4- 5 có chiều dài 10,48m; Cạnh 5 – 6 có chiều dài 6,60m; Cạnh 6- 7 có chiều dài 3,99m; Cạnh 7- 8 có chiều dài 1,97m; Cạnh 8- 9 có chiều dài 3,17m; Cạnh 9- 10 có chiều dài 2,56m; Cạnh 10 - 22 có chiều dài 6,38m).
(Giữ nguyên sơ đồ phân chia di sản thừa kế đã được ban hành kèm theo Bản án dân sự sơ thẩm số:28/2024/DSST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh).
Ông D có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn V số tiền là: 227.909.500đ.
Bà T có trách nhiệm trích trả cho bà K số tiền là 255.937.500đ và trích trả cho ông V số tiền là: 28.028.000đ. Ghi nhận sự tự nguyện của bà K về việc không yêu cầu bà T phải trích trả số tiền 255.937.500đ.
Sau khi bản án có hiệu pháp luật bà Nguyễn Thị T, ông D có quyền liên hệ với Cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dối với diện đất được nhận theo quy định của pháp luật.
Về án phí DSST ông D, bà K1, bà T, ông V mỗi người phải chịu 12.796.875đ án phí dân sự sơ thẩm. Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà K, bà T, ông D. Hoàn trả cho bà K 12.000.000 đồng tiền án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 01262, ngày 06/12/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- Án phí DSPT: Ông D không phải chịu án phí DSPT.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Bà Nguyễn Thị K tự nguyện chịu 12.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất đối với số tiền chưa thi hành án theo quy định tại điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thế Bình |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Tổng giá trị tài sản là 413.322.000 đồng + 469.378.000 đồng = 882.700.000 đồng
Mỗi người được: 882.700.000 đồng: 4 = 220.675.000 đồng.
Bản án số 02/2024/DS-PT ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp thừa kế
- Số bản án: 02/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế giữa Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Khánh, sinh năm 1957 và bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thành, sinh năm 1960.
