|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2023/HSPT
Ngày 28 -12 - 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trường Du
Các Thẩm phán: Ông Vũ Đại Long. Ông Mai Văn Tiến.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hà -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 28/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 278/2023/HSPT ngày 26/10/2023 đối với bị cáo Vũ Văn D, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 264/2023/QĐXXPT – HS ngày 28/11/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 157/2023/HSPT-QĐ ngày 11/12/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh hoá, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 64/2023/HSST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh hoá.
* Bị cáo kháng cáo: Vũ Văn D - Sinh ngày 10/10/1992, tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện Y, Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn T, sinh năm 1965, con bà Lê Thị N, sinh năm 1967; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo có vợ Hoàng Thị N1, sinh năm 1995, có 02 con sinh năm 2016 và 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm di khỏi nơi cư trú từ ngày 15/6/2023 đến nay. Bị cáo vắng mặt không có lý do lần 2.
Bị hại: Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Xuân,
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 17/01/2022, Vũ Văn D vay của chị Phạm Thị T1 số tiền 4.100.000 đồng. Sau đó, chị T1 đòi nhiều lần nhưng D không trả. Đến ngày 05/3/2022, D gọi điện thoại hẹn chị T1 ra quán C ở khu B, thị trấn Q, huyện Y để trả nợ. Khi chị T1 gặp nói chuyện, D không có tiền để trả nợ, nên D nói mượn xe mô tô biển kiểm soát 36B7-618.74 nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen của chị T1 (Giấy đăng ký xe chị T1 đang để trong cốp xe) để đi tìm anh Lê Văn L sinh năm 1989 ở khu A Thị trấn Q, huyện Y, lấy tiền trả nợ cho chị T1, do anh L đang nợ tiền của D (Qua xác minh có người tên L, tuổi và địa chỉ nêu trên, nhưng không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu nên không làm việc được với người này). Sau khi mượn xe của chị T1, D đi tìm anh L nhưng không thấy nên đã đi xe sang huyện T chơi, đến sáng ngày 06/3/2022 thì quay về huyện Y. Lúc này, do không có tiền chi tiêu nên D nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của chị T1. D đi đến cửa hàng C1 ở khu E thị trấn Q, huyện Y, cầm cố xe mô tô nêu trên cho bà Đinh Thị N2, sinh năm 1960 ở khu E thị trấn Q, huyện Y, lấy số tiền 8.400.000 đồng, sau đó dùng vào việc đánh bạc trên mạng và chi tiêu cá nhân hết. Chị T1 đã nhiều lần yêu cầu D phải trả lại tiền vay và xe cho chị, nhưng D không trả. Đến ngày 02/3/2023, chị T1 đã gửi đơn đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y tố cáo hành vi chiếm đoạt tài sản của Vũ Văn D. Theo Kết luận định giá tài sản số 23/KL-HDDGTS ngày 21/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Y: Giá trị chiếc xe mô tô BKS 36B7-618.74 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 11.800.000 đồng. (BL 32).
-Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại xong.
* Với hành vi trên Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2023/HSST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định đã quyết định:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 260, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Xử phạt bị cáo Vũ Văn D 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Án sơ thẩm còn quyết định về tang vật trong vụ án, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của bị cáo.
* Sau khi xét xử, bị cáo làm đơn kháng cáo bản án với nội dung: Bị cáo phạm tội lần đầu, nên đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.
* Tại phiên tòa: Bị cáo vắng mặt và không có đơn rút hoặc thay đổi yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bị cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do nên không có cơ sở để hoãn phiên tòa. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị xét xử vắng mặt bị cáo. Về nội dung kháng cáo, tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo kháng cáo nhưng không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới so với cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá. Xét thấy cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt và xử mức án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Vũ Văn D 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự là phù hợp, nên đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên các quyết định của án sơ thẩm đã xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo làm và nộp cho Toà án ngày 26/9/2023 trong thời hạn luật định. Các Quyết định đưa vụ án ra xét ngày ..../12/2023, Q hoãn phiên tòa ngày ..12/2023 Toà án đã tống đạt hợp lệ cho bị cáo , tuy nhiên bị cáo vắng mặt không có lý do, không có đơn rút hoặc thay đổi kháng cáo nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo vắng mặt không có lý do chính đáng theo quy định, HĐXX xem xét vụ án đã được hoãn phiên tòa nhiều lần, vì vậy căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự nên quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo.
[2]. Xét nội dung kháng cáo: Theo đơn kháng cáo, bị cáo thừa nhận đã có hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” như cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng và đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Vào ngày 06/3/2022, sau khi mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 36B7-618.74 của chị Phạm Thị T1, bị cáo Vũ Văn D đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe. Bị cáo mang xe đi cầm cố cho tiệm cầm đồ Ngọc D1 được 8.400.000 đồng, lấy tiền chơi bời và chi tiêu cá nhân. Giá trị chiếc xe bị chiếm đoạt theo định giá là 11.800.000 đồng. Do đó cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Vũ Văn D phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội.
- Xét kháng cáo của bị cáo: Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo kháng cáo nhưng không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới so với cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá, vắng mặt tại phiên toà không có lý do.HĐXX xét thấy cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và xử phạt bị cáo với mức án 09 tháng tù là phù hợp, vì vậy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm.
[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị
[4]. Về án phí: Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 và điểm a khoản 1 Điều 355 BLTTHS.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Văn D, giữ nguyên quyết định của Bản án án hình sự sơ thẩm số 64/2023/HS-ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định,tỉnh Thanh hoá
[2]. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b,i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án..
[3]. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
Xử phạt bị cáo Vũ Văn D 09 ( chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày chấp hành án.
[4]. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Vũ Văn D phải chịu 200.000 đồng( Hai trăm nghìn đồng) án phí phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./
|
Nơi gửi:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phạm Trường D2 |
Bản án số 02/2023/HSPT ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự phúc thẩm (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 02/2023/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo mượn xe của gười thân rồi mang đi cầm bán lấy tiền tiêu cá nhân
