Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN TRƯỜNG

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HS-ST

Ngày 10-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đình Phấn;

Ông Lê Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 83/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Hoàng Văn T, sinh ngày 29/10/2003, nơi cư trú: xóm H, xã, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn L và con bà Nguyễn Thị S; bị cáo có vợ Phạm Thị Thúy N, sinh năm 2004 và có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 18/01/2020, bị Công an huyện Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đốt pháo nổ”, hình thức phạt tiền (đã chấp hành xong). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/9/2022 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Xuân Trường. Tại phiên tòa bị cáo có mặt.

- Bị hại: Anh Phạm Văn N, sinh năm 2001; địa chỉ; xóm S, xã G, huyện, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

-Người làm chứng: Anh Đặng Văn H; vắng mặt.

-Người chứng kiến;

-Anh Đoàn Văn H; vắng mặt.

-Anh Trần Văn H; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn T, sinh năm: 2003, trú tại: xóm H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định và anh Phạm Văn N, sinh năm: 2001, trú tại xóm S, xã G, huyện G là bạn. T biết anh n có dàn nhạc DJ cho thuê nên khoảng 21 giờ ngày 01/5/2022, khi đang ở quán Karaoke “Gia Đình” tại xóm 4 - xã X – huyện X, T đã sử dụng điện thoại di động Iphone 6 Plus nhắn tin cho anh N hỏi thuê bộ dàn máy DJ trong thời gian 24 giờ, anh N nhất trí cho thuê với giá là 1.200.000 đồng/24 giờ, T đồng ý thuê với thời hạn là 24 giờ. Ngay sau đó anh N đã mang bộ dàn DJ gồm: 01 máy đánh nhạc nhãn hiệu Pioneer DJ XDJ – RX kích thước (60x90)cm đựng trong 01 hộp da màu đen, 01 USB dùng lưu trữ nhạc DJ và 01 loa xách tay nhãn hiệu Harman Kardon đến quán Karaoke “Gia đình” giao cho T. Sau khi nhận đủ bộ dàn nhạc DJ, Thể mang về nhà anh Đặng Văn Hưng, sinh năm: 1994 ở xóm 02, xã Xuân Vinh, huyện Xuân Trường để sử dụng (Thể là người làm thuê và ở tại nhà anh Hưng). Khoảng 16 giờ ngày 02/5/2022, khi đang sử dụng dàn chơi nhạc DJ tại phòng ở cùng với bạn là Đoàn Văn H, sinh ngày: 16/3/2004, trú tại: xóm 1, xã X, huyện Xu và Trần Văn H, sinh năm: 2004, trú tại: xóm 7, xã G, huyện G thì anh Đặng Văn H đi vào hỏi: “Dàn đánh nhạc của ai đấy, có bán không”. Lúc này, T liền nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh N nên đã nói với anh H đây là bộ dàn đánh nhạc của mình và đồng ý bán máy đánh nhạc kèm 01 USB cho H với giá là: 7.000.000 đồng, anh H nhất trí mua và bảo vợ là chị Trần Thị Ánh T trả tiền cho T. Đến ngày 06/5/2022, T lại bán tiếp cho anh H chiếc loa còn lại trong bộ dàn DJ thuê của anh N với giá 2.000.000 đồng. Sau đó đã cắt liên lạc với anh N. Số tiền bán tài sản do phạm tội mà có, T khai đã chi tiêu cá nhân hết.

Sau nhiều lần liên lạc, tìm gặp T nhưng không được, ngày 03/8/2022, anh N đã có đơn trình báo nội dung vụ việc với Công an xã G, huyện G. Công an xã G và Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã tiến hành xác minh, thu thập tài liệu ban đầu và chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Xuân Trường để giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Xuân Trường đã điều tra làm rõ nội dung vụ án thu hồi được chiếc loa trong bộ dàn nhạc do anh Đặng Văn H tự giác giao nộp và chiếc điện thoại T sử dụng để liên lạc với anh N. Số thiết bị còn lại trong bộ dàn nhạc DJ gồm máy đánh nhạc, hộp đựng và chiếc USB anh H đã bán cho một người trên mạng xã hội không rõ địa chỉ, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không có kết quả.

Quá trình điều tra, Hoàng Văn T đã thỏa thuận bồi thường xong cho anh N và tác động gia đình bồi thường cho anh H. Hiện anh và anh H không có yêu cầu thêm về bồi thường dân sự.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 93/KL-HĐĐG ngày 19/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Xuân Trường kết luận:

  • - 01 máy đánh nhạc nhãn hiệu PIONEERDJXDJ- RX,vỏ ngoài màu đen đã qua sử dụng có giá trị là 12.000.000₫.
  • - 01 hộp da màu đen trong lót vải đỏ để đựng máy đánh nhạc DJ đã qua sử dụng có giá trị là 500.000đ.
  • - 01 USB chuyên dùng lưu trữ nhạc DJ đã qua sử dụng có giá trị là 1.500.000đ.
  • - 01 chiếc loa nhãn hiệu Harman Kardon loại mi ni, xách tay màu xanh đã qua sử dụng có giá trị là 3.000.000₫.

Tổng giá trị tài sản thời điểm bị chiếm đoạt là 17.000.000₫.

Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và không có khiếu nại gì.

Cáo trạng số 83/CT-VKSXT ngày 14/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố hành vi của Hoàng Văn T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh và hình phạt chính:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 21 đến 24 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Văn N và anh Đặng Văn H đã được bồi thường, anh N và anh H không có yêu cầu thêm gì về dân sự nữa là phù hợp.

Về xử lý vật chứng; Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại Iphone 6 Plus.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi “Lạm dung tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” như nội dung vụ án đã nêu, bị cáo công nhận Viện kiểm sát đã truy tố đúng hành vi phạm tội của mình.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo thực sự ăn năn, hối lỗi mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Trường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc kết tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 02/5/2022 tại xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, Hoàng Văn T đã có hành vi thuê 01 bộ dàn DJ gồm: 01 máy đánh nhạc nhãn hiệu PIONEEER DJ XDJ-RX đựng trong hộp da màu đen; 01 ÚB chuyên dùng và 01 loa mi ni nhãn hiệu Harman Kardon có tổng trị giá 17.000.000₫ của anh Phạm Văn N. Sau đó, đến ngày 03/5/2022 T tự ý bán toàn bộ số tài sản trên cho anh Đặng Văn H lấy tiền chi tiêu cho bản thân rồi bỏ trốn, cắt liên lạc với anh Phạm Văn N. Vì vậy, hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị án, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi song lợi dụng lòng tin của chủ sở hữu tài sản để chiếm đoạt tài sản mục tích để có tiền chi tiêu cho cá nhân. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật thì mới có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Từ những phân tích trên, căn cứ vào nhân thân tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sụng: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Văn N và anh Đặng Văn đã được bồi thường, anh N và anh H không yêu cầu bị cáo bồi thường gì về dân sự nữa nên HĐXX không xem xét là phù hợp.

[8] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Đối với chiếc điện thoại Iphone 6 Plus đã thu giữ của bị cáo. Xét thấy chiếc điện thoại này không liên quan đến việc phạm tội nên HĐXX sẽ trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[9]. Đối với Đặng Văn H có hành vi mua bộ dàn máy đánh nhạc của Hoàng Văn T. Xét ý thức chủ quan anh H không biết đó là tài sản do T phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra nhắc nhở rút kinh nghiệm là phù hợp.

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 01(một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày 23/9/2022.

2. Về xử lý vật chứng tài sản thu giữ: Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Trả lại 01 chiếc điện thoại Iphone 6 Plus cho bị cáo

(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 13/CCTHA ngày 16/12/2022 giữa Công an huyện Xuân Trường và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).

3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm,

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Công an huyện;
  • - UBND xã;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Ngọc Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2023/HS-ST ngày 10/01/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự: lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 02/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger