|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 02/2022/HS-ST Ngày: 06 - 01 - 2022 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc _________________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hùng Phương.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Đàm Văn Kiều.
- Bà Dương Thị Vui.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Hải – Thư ký Toà án nhân dân huyện N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2021/TLST- HS ngày 02 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2021 đối với:
* Bị cáo: Trần Văn Q - Sinh năm 1992 tại tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; giới tính: Nam; con ông Trần Văn B, sinh năm 1964 và Đỗ Thị T, sinh năm 1965, cả hai đều làm ruộng tại xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; có vợ là Trần Thị Ph, sinh năm 1995, hiện đang ở xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình; bị cáo có 01 con sinh năm 2018. Tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo Trần Văn Q đầu thú, tạm giữ từ ngày 30/10/2021 đến ngày 05/11/2021 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N cho đến nay; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Ngọc – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nam Định; có mặt.
* Bị hại: Chị Đinh Thị Ng, sinh năm: 1990; địa chỉ: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Chị Đinh Thị Ó – Sinh năm: 1988; địa chỉ: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
- Ông Trần Văn B, sinh năm 1964; địa chỉ: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; có mặt.
* Người làm chứng: Anh Phạm Văn B1, sinh năm 1975; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ ngày 19/10/2021, Trần Văn Q đến nhà chị Đinh Thị Ng là hàng xóm của Q chơi. Tại nhà chị Ng, Q hỏi chị Ng “Chị cho em mượn xe máy một lúc để em sang Nghĩa Lâm rồi em trả”. Chị Ng đồng ý cho Q mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, sơn màu đỏ đen, biển số 18L1 - 216.21. Sau khi mượn được xe, Q điều khiển xe mô tô đến nhà một số người bạn ở Nghĩa Lâm nhưng không gặp được ai, Q tiếp tục đi đến nhà anh Phạm Văn Đ ở xóm 5, xã N, huyện N để vay tiền nhưng không vay được. Lúc này, Q nảy sinh ý định mang xe mô tô mượn của chị Ng để đi cầm cố, lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 20 giờ ngày 19/10/2021, Q điều khiển xe mô tô đến cửa hàng Tuấn B ở đội 7, xã N, huyện N cầm cố xe cho anh Phạm Văn B1 là chủ cửa hàng lấy 5.000.000đồng. Sau đó, Q đi xe ôm đến nhà nghỉ Hồng Phúc ở đội 16, xã N, huyện N do anh Đàm Văn Q là chủ, thuê phòng nghỉ, mục đích để trốn chị Ng. Số tiền 5.000.000 đồng cầm cố xe, Q đã chi tiêu cá nhân, còn lại 161.000đồng. Sáng ngày 30/10/2021, Q đã đến Công an xã N đầu thú và tự giác giao nộp số tiền 161.000 đồng. Công an huyện N đã thu giữ trong cạp quần bên phải Q đang mặc 01 gói nhỏ, vỏ là túi ni lông màu trắng, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (Niêm phong ký hiệu M), Q khai nhận đó là ma túy đá mua của 01 người phụ nữ không biết tên, tuổi, địa chỉ với giá 300.000 đồng tại khu vực cầu Th thuộc huyện H về để sử dụng. Ngày 30/10/2021, Cơ quan điều tra Công an huyện N thu giữ của ông Trần Văn B là bố đẻ của Q 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, sơn màu đỏ đen, biển số 18L1 - 216.21, đã qua sử dụng là xe Q mượn của chị Ng cầm cố tại Cửa hàng Tuấn B, ông B đã lấy xe và trả tiền cho anh Phạm Văn B1 là chủ Cửa hàng. (Bút lục số: 8, 10-11, 12, 13-14, 18-19, 64-78, 79-93).
Tại bản kết luận giám định số 1402/GĐKTHS ngày 01 tháng 11 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 gói nhỏ vỏ ni lông màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu M: 0,017 gam. (Bút lục số: 27).
Tại kết luận số 18/HĐ-ĐGTS ngày 02 tháng 11 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N, kết luận: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave RSX, sơn màu đỏ đen, biển số 18L1 - 216.21, đã qua sử dụng có trị giá 8.436.000 đồng. (Bút lục số: 22).
Bản cáo trạng số 84/CT-VKS ngày 30/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a, b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung: Khoảng 18 giờ ngày 19/10/2021, tại nhà chị Đinh Thị Ng, Trần Văn Q đã hỏi mượn chị Ng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, sơn màu đỏ đen, biển số 18L1 - 216.21, trị giá 8.436.000 để đi gặp bạn ở xã Nghĩa Lâm hỏi vay tiền nhưng không được, Q đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô mượn của chị Ng, mang đi cầm cố lấy tiền chi tiêu cá nhân và bỏ trốn. Như vậy, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân tốt. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong giai đoạn điều tra, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị hại có đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ vào Điều 106, Điều 135, Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
- Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2021.
- Về vật chứng: Hoàn trả cho Trần Văn Q số tiền 161.000đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Hùng Phương |
Bản án số 02/2022/HS-ST ngày 06/01/2022 của Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 02/2022/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/01/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Q phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"
