|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 02/2021/KDTM-ST Ngày 31-5-2021 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nhẫn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Dá
- Ông Nguyễn Thành Dân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Nguyệt Hân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 và ngày 31 tháng 5 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 176/2020/TLST-DS ngày 25 tháng 11 năm 2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2021/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 03 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng K; địa chỉ trụ sở: Phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đoàn Văn H - Giám đốc Phòng giao dịch huyện T chi nhánh tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo văn bản ủy quyền số 1418/QĐ-NHKL ngày 01-7-2020 và số 676/UQ-NHKL ngày 28-10-2020; địa chỉ liên hệ: Số 333 Quốc lộ 1A, Ấp 1, thị trấn Phú Lộc, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
- Bị đơn:
+ Ông Lê Tân T; địa chỉ nơi cư trú: Ấp H, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
+ Bà Tăng Thị T2; địa chỉ đăng ký thường trú: Ấp X, thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ hiện trú: Ấp H, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Thạch Thị Châu P; địa chỉ nơi cư trú: Ấp G, thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
- + Bà Nguyễn Thị T3; địa chỉ nơi cư trú: Ấp G, thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
- + Ông Nguyễn Kỳ V; địa chỉ nơi cư trú: Ấp G, thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28-10-2020, biên bản hòa giải ngày 29-03-2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng K có người đại diện hợp pháp trình bày ông Lê Tân T, bà Tăng Thị T2 có ký kết với Ngân hàng K (sau đây gọi là Ngân hàng) Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 333/18/HĐHM/2102-7640 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 333/18/HĐTD/2102-7640 cùng ngày 15-11-2018 vay số tiền 40.000.000 đồng, mục đích bổ sung vốn bán trà sữa, mì cay, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất cho vay 13,5%/năm (LSV có thay đổi)... theo Hợp đồng tín dụng; để đảm bảo khoản vay trên, cùng ngày 15-11-2018, bà Thạch Thị Châu P và ông T, bà T2 đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 333/18/HĐTC-BĐS/2102-7640 với Ngân hàng để thế chấp quyền sử dụng đất số CI 433747 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho bà P ngày 27-10-2017 thửa đất số 230, tờ bản đồ số 10, diện tích 36,1m2, tọa lạc ấp G, thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; quá trình vay vốn, ông T và bà T2 vi phạm Hợp đồng, tính đến ngày 31-5-2021 ông T và bà T2 còn nợ số tiền 50.445.969 đồng (trong đó nợ gốc 39.690.411 đồng, lãi quá hạn 10.755.558 đồng). Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T, bà T2 phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền trên và lãi phát sinh theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đến khi thanh toán dứt nợ; nếu bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà ông T và bà T2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ tiền còn nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 22-03-2021, biên bản hòa giải ngày 29-03-2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Tân T trình bày bà Tăng Thị T2 là vợ của ông có đăng ký thường trú tại ấp X, thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng nhưng hiện trú tại Ấp H, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cùng nhà với ông, do bà T2 bận chăm sóc con nhỏ nên không đến Tòa án được; ông thừa nhận có cùng bà T2 vay số tiền 40.000.000 đồng của Ngân hàng để bổ sung vốn bán trà sữa, mì cay cho cơ sở kinh doanh của vợ chồng ông là Hộ kinh doanh quán nước giải khát Kim T2 (theo Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 59F8003519 ngày 19-4-2018); khi vay có thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất do bà P đứng tên như Ngân hàng trình bày; vợ chồng ông đã nhận đủ tiền vay nhưng đến nay chưa trả vốn, lãi phát sinh cho Ngân hàng; nay ông thống nhất số tiền nợ vốn và lãi phát sinh trên, tuy nhiên ông xin gia hạn thêm thời gian trả nợ, còn nếu sau đó mà ông vẫn không trả hoặc trả không đầy đủ tiền nợ cho Ngân hàng thì đồng ý để Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp theo quy định pháp luật.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 25-01-2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thạch Thị Châu P trình bày bà có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 333/18/HĐTC-BĐS/2102-7640 ngày 15-11-2018 với Ngân hàng để thế chấp quyền sử dụng đất thửa số 230, tờ bản đồ số 10, tọa lạc ấp G, thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng đảm bảo tiền vay cho ông T, bà T2; nguồn gốc quyền sử dụng đất thửa 230 trên là của bà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27-10-2017, còn căn nhà trên đất là của bà được Nhà nước hỗ trợ tiền xây dựng khoảng 05-06 năm nay (bà không nhớ rõ năm) và bà đang ở cùng hai người cháu còn nhỏ tuổi, bà sẽ liên hệ bà T2, ông T trả nợ cho Ngân hàng để không phải xử lý tài sản của bà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên tòa, ông T xác định việc vay tiền của Ngân hàng sử dụng mục đích bổ sung vốn bán trà sữa, mì cay và cung cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 59F8003519 ngày 19-4-2018 (Hộ kinh doanh quán nước giải khát Kim T2). Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với ông T, bà T2 là tranh chấp kinh doanh thương mại về “hợp đồng tín dụng” theo khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 14, 16 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Hội đồng xét xử điều chỉnh lại quan hệ pháp luật tranh chấp như trên; ông T và bà T2 hiện trú Ấp H, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện T thụ lý, xét xử sơ thẩm theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; tại phiên tòa, bà T2 và bà P, bà T3, ông V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T2, bà P, bà T3, ông V.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với ông T, bà T2 về nợ vay theo Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 333/18/ HĐHM/2102-7640 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 333/18/HĐTD/2102-7640 cùng ngày 15-11-2018. Thấy rằng, các Hợp đồng tín dụng trên được ký kết giữa Ngân hàng với ông T, bà T2 trên cơ sở ý chí tự nguyện thỏa thuận, ông bà đã nhận đủ tiền vay nhưng vi phạm nghĩa vụ trả tiền vốn gốc và lãi phát sinh theo thỏa thuận. Trong quá trình giải quyết vụ án ông T cũng thừa nhận số tiền nợ như trên. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T, bà T2 phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tính đến ngày 31-5-2021 là 50.445.969 đồng (trong đó nợ gốc 39.690.411 đồng, nợ lãi quá hạn 10.755.558 đồng) và tiền lãi phát sinh đến khi thanh toán xong nợ với mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết là phù hợp ý chí thỏa thuận giữa hai bên, đúng quy định tại Điều 117, Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, có cơ sở Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Xét yêu cầu về Hợp đồng thế chấp số 333/18/HĐTC-BĐS/2102-7640 ngày 15-11-2018 ký kết giữa bà P, ông T, bà T2 với Ngân hàng trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa các bên và được chứng thực, đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T. Nội dung thế chấp quyền sử dụng đất thửa đất số 230, tờ bản đồ số 10, diện tích 36,1m2, tọa lạc ấp G, thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 433747 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho bà P ngày 27-10-2017 để đảm bảo nghĩa vụ của ông T, bà T2 với Ngân hàng tại khoản 2 Điều 1 Hợp đồng thế chấp, nên Hợp đồng thế chấp có hiệu lực theo quy định tại Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 500, Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 166, Điều 167 Luật Đất đai năm 2013. Do ông T, bà T2 đã vi phạm hợp đồng tín dụng với Ngân hàng nên Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp thỏa thuận giữa các bên trong Hợp đồng thế chấp và đúng quy định tại Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, Điều 280, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 325, Điều 500, Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 166, Điều 167 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng K, buộc ông Lê Tân T và bà Tăng Thị T2 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng K tổng số tiền 50.445.969 đồng, trong đó nợ gốc là 39.690.411 đồng và nợ lãi tính đến ngày 31-5-2021 là 10.755.558 đồng theo Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 333/18/HĐHM/2102-7640 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 333/18/HĐTD/2102-7640 cùng ngày 15-11-2018.
1.1 Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa Ngân hàng K với ông Lê Tân T kế hoạch trả tiền nợ theo Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 333/18/HĐHM/2102-7640 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 333/18/HĐTD/2102-7640 cùng ngày 15-11-2018 như sau:
- Đến ngày 30-6-2021, ông Lê Tân T thanh toán cho Ngân hàng K số tiền vốn 15.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 31-5-2021 là 10.755.558 đồng và tiền lãi phát sinh đến ngày 30-6-2021 (nếu có) theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết.
- Đến ngày 30-9-2021, ông Lê Tân T thanh toán cho Ngân hàng K số tiền vốn 24.690.411 đồng và tiền lãi phát sinh đến ngày 30-9-2021 (nếu có) theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết.
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Ông Lê Tân T, bà Tăng Thị T2 phải liên đới chịu 3.000.000 đồng.
- Ngân hàng K không phải chịu, hoàn trả cho Ngân hàng tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.134.232 đồng theo biên lai thu số 0003345 ngày 24-11-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Nhẫn |
Bản án số 02/2021/KDTM-ST ngày 31/05/2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 02/2021/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2021
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng nguyên đơn Ngân hàng K với bị đơn Lê Tân T
