Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG

Bản án số: 02/2021/KDTM-PT
Ngày: 23-9-2021
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như

Các Thẩm phán: Ông Nông Hà Nam, Ông Ngôn Ngọc Viên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Nha - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2021/TLPT-KDTM ngày 04 tháng 6 năm 2021 về Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2021/KDTM-ST ngày 11 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 83/2021/QĐ-PT ngày 10 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Công ty TNHH Công nghiệp P
    Địa chỉ trụ sở chính: Số 192/19 phố T, phường L, quận Đ, Hà Nội.
    Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Đình Đ1 - Chủ tịch Hội đồng thành viên; Vắng mặt.
    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ2; Địa chỉ: Tầng 14&16 tòa nhà Plaschem, 562 Nguyễn Văn C, quận L3, Hà Nội; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Bị đơn: Công ty TNHH đầu tư và xây dựng H2
    Địa chỉ: Tổ 21, phường Đ5, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
    Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Thanh H5 - Giám đốc; Vắng mặt.
    Đại diện theo ủy quyền: Công ty luật M, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; Địa chỉ: Tầng 02, số 22 ngõ 18 phố Y, tổ 25, phường Y, quận G, thành phố Hà Nội; Văn phòng giao dịch: Phòng 1602A, Tòa nhà Gemek Tower II, KĐT Hai bên đường Lê Trọng T0, xã K, huyện H0, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đắc Th – Giám đốc; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Phùng Văn C0 - Công ty luật M, Đ1 luật sư thành phố Hà Nội; Có mặt.
  • Người kháng cáo: Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Đắc Th.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: Từ tháng 06 đến tháng 11 năm 2017 Công ty TNHH Công nghiệp P (Công ty P) và Công ty TNHH Đầu tư và Xây dựng H2 (Công ty H2) đã ký 08 Hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm: (1) Hợp đồng số 1706 H2/PTI-17 ký ngày 13/6/2017; (2) Hợp đồng số: 1734 H2/PTI-17 ký ngày 10/7/2017; (3) Hợp đồng số 1735/H2/PTI-17 ký ngày 10/7/2017; (4) Hợp đồng số 1741/H2/PTI-17 ký ngày 10/8/2017; (5) Hợp đồng số 1786/H2/PTI-17 ký ngày 06/10/2017; (6) Hợp đồng số 1813 H2/PTI-17 ký ngày 03/11/2017; (7) Hợp đồng số 1815/H2/PTI-17 ký ngày 15/8/2017; (8) Hợp đồng số 1816H2/PTI-17 ký ngày 15/9/2017.

Do Công ty H2 không thanh toán tiền cho Công ty P theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng nên ngày 24/7/2020 Công ty P đã khởi kiện yêu cầu Công ty H2 thanh toán tiền nợ gốc là 2.460.000.000 đồng và tiền lãi do chậm thanh toán tạm tính đến ngày 14/7/2020 là 1.706.442.849 đồng theo mức lãi suất là 10%/năm.

Sau khi Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng thụ lý vụ án, do có sự hợp tác của Công ty H2 trong quá trình giải quyết công nợ nên ngày 01/9/2020 Công ty P đã có Đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, yêu cầu Công ty H2 thanh toán cho Công ty P số tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 100.000.000 đồng theo Hợp đồng số 1813/ H2/PTI-17 ký ngày 03/11/2017 và tiền lãi tạm tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2020 là 1.730.946.959 đồng theo mức lãi suất là 10%/năm, cụ thể:

STT HỢP ĐỒNG Ngày ký GIÁ TRỊ HỢP ĐỒNG NỢ GỐC (VND) LÃI QUÁ HẠN 10%/năm (VND)
11706 H2/PTI-1713/06/20171.630.000.000078.240.000
21734 H2/PTI-1710/07/20173.056.000.000074.993.123
31735 H2/PTI-1710/07/20171.600.000.000071.802.740
41741 H2/PTI-1710/08/20171.600.000.000065.434.110
51815 H2/PTI-1715/08/20175.100.000.0000237.063.014
61816 H2/PTI-1715/09/20175.100.000.0000383.068.493
71786 H2/PTI-1706/10/20171.600.000.0000263.863.014
81813 H2/PTI-1703/11/20177.200.000.000100.000.000556.542.466
Tổng cộng 100.000.000 1.730.946.959

Căn cứ tính lãi: Mặc dù 8 hợp đồng không quy định nhưng căn cứ Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 306 Luật Thương mại 2005; mục 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi do vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn trình bày: Đối với số tiền gốc bị đơn nhất trí còn nợ nguyên đơn 100 triệu đồng. Từ trước đến nay Công ty H2 luôn có thiện chí thanh toán cho Công ty P nhưng không thấy Công ty P đề cập đến lãi suất chậm trả. Hơn nữa, do máy móc Công ty P bán cho Công ty H2 có giá trị lớn và bị hỏng khiến Công ty H2 không thể đưa máy móc vào hoạt động, ảnh hưởng đến công việc kinh doanh của Công ty H2 nên Công ty H2 không nhất trí thanh toán tiền lãi chậm trả cho Công ty P.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn. Tòa án đã yêu cầu hai bên đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh việc sửa chữa máy móc bị hỏng (bao gồm cả máy móc bị hỏng trong thời hạn bảo hành và ngoài thời hạn bảo hành), Tòa án đã thu thập chứng cứ về lãi suất quá hạn trung bình của ba ngân hàng thương mại có chi nhánh trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.

Ngày 18/01/2021 Công ty TNHH Công nghiệp P có đơn khởi kiện bổ sung, điều chỉnh mức lãi suất chậm trả yêu cầu từ 10%/năm xuống còn 8,4%/năm.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Trong 08 hợp đồng mua bán hàng hóa có 03 hợp đồng có Thư bảo lãnh thanh toán của Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Hà, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội với thời hạn bảo lãnh là 14 tháng kể từ ngày phát hành (ngày 01/9/2017). Khi đến hạn, Công ty P đã có văn bản yêu cầu Ngân hàng thanh toán nhưng Công ty H2 đã có văn bản yêu cầu Ngân hàng không thực hiện thanh toán với lý do máy móc của Công ty P không đáp ứng được yêu cầu về kỹ thuật, sau hiệu chỉnh xong Công ty H2 cam kết và khẳng định sẽ thanh toán cho Công ty P đúng theo các hợp đồng đã ký kết. Do đó, Công ty P không được Ngân hàng thanh toán theo yêu cầu.

Sau khi ký kết Hợp đồng, Công ty P bàn giao máy móc đúng chủng loại, số lượng, chất lượng theo thỏa thuận trong Hợp đồng. Sau khi nhận máy và chứng từ, Công ty H2 đã làm thủ tục thế chấp vay vốn tại Ngân hàng BIDV chi nhánh Thái Hà và thế chấp vay vốn tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Nam Thăng Long. Tuy nhiên, sau đó, Công ty H2 vẫn liên tục trì hoãn và xin khất thanh toán. Nay Công ty P yêu cầu Công ty H2 thanh toán cho Công ty P số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả với mức lãi suất là 8,4%/năm.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày ý kiến: chỉ nhất trí thanh toán nợ gốc là 100.000.000 đồng và không nhất trí thanh toán tiền lãi với lý do:

  • Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán 08 máy, Công ty P đã có hành vi lừa dối khách hàng về chất lượng của máy, khi tư vấn bán hàng thì nói hàng có xuất xứ tại Mỹ nhưng khi giao hàng thì giao hàng có xuất xứ tại Trung Quốc, Nhật Bản.
  • Không bàn giao hóa đơn và các chứng từ đúng thời hạn nên phía Công ty H2 không làm được thủ tục vay ngân hàng, ảnh hưởng đến tiến độ thanh toán của Công ty H2.
  • Công ty P không làm hết trách nhiệm khi thực hiện bảo hành máy.

Căn cứ các lỗi trên, Công ty H2 được quyền ngừng thanh toán theo Điều 51 Luật Thương mại 2005. Do đó, Công ty H2 không có trách nhiệm thanh toán tiền lãi chậm trả cho Công ty P.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày luận cứ: Công ty H2 được Công ty P chào hàng và tiếp thị hàng hóa nhưng khi giao hàng thì chất lượng hàng hóa không đúng như tiếp thị và hợp đồng đã ký. Khi đưa máy móc vào sản xuất liên tục gặp vấn đề, Công ty H2 đã liên hệ, trao đổi với Công ty P nhưng thời gian sửa chữa kéo dài, gây thiệt hại lớn cho Công ty H2, Công ty H2 đã phải thuê máy ngoài để đảm bảo tiến độ thi công. Công ty H2 sẵn sàng thanh toán cho Công ty P số tiền nợ gốc còn lại là 100.000.000 đồng và khoản tiền lãi của số tiền này nếu Công ty P đồng ý rút đơn khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện và tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý, xác định thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập và giao nộp chứng cứ, trình tự và thủ tục phiên tòa sơ thẩm. Đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn nộp trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo và các căn cứ kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Tòa án cấp sơ thẩm đã ra quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Công nghiệp P: Buộc Công ty TNHH đầu tư và xây dựng H2 phải thanh toán cho Công ty TNHH Công nghiệp P số tiền là 1.555.946.087 đồng, trong đó nợ gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi do chậm thanh toán là 1.455.946.087 đồng. Công ty TNHH đầu tư và xây dựng H2 chỉ nhất trí thanh toán nợ gốc 100.000.000đ, không nhất trí thanh toán tiền lãi.

HĐXX xét thấy trong 08 hợp đồng mua bán hàng hóa chỉ có 01 hợp đồng quy định về xuất xứ hàng hóa máy móc là tại Mỹ và thực tế Công ty P đã giao cho Công ty H2 đúng hàng hóa có xuất xứ từ Mỹ, 07 hợp đồng còn lại không có điều khoản quy định về xuất xứ hàng hóa. Sau khi nhận bàn giao máy để đưa vào sản xuất kinh doanh, Công ty H2 cũng không có ý kiến gì về xuất xứ hàng hóa. Do đó, không có cơ sở kết luận Công ty P đã lừa dối Công ty H2 về xuất xứ hàng hóa.

Về việc không giao hóa đơn gốc: Tại Điều 4 Hợp đồng mua bán quy định các chứng từ sẽ cung cấp sau khi nhận được thanh toán đợt 1 và chứng thư bảo lãnh. Tuy nhiên, do công ty H2 không cung cấp chứng thư bảo lãnh như đã thỏa thuận đối với 05 hợp đồng mua bán máy nên Công ty P không bàn giao hóa đơn VAT theo thỏa thuận. Lỗi thuộc về công ty H2 không thực hiện đúng thỏa thuận của hợp đồng trước.

Về lý do chậm thanh toán: Công ty H2 đã có công văn thừa nhận lý do chậm thanh toán là do tiến độ thi công không đạt kế hoạch, thời tiết và máy móc không đạt hiệu quả như mong muốn. Như vậy, không có căn cứ để chấp nhận lý do là Công ty P vi phạm hợp đồng để Công ty H2 ngừng thanh toán theo quy định tại Điều 51 Luật Thương Mại năm 2005.

Về mức lãi suất: Nguyên đơn yêu cầu áp dụng mức lãi suất 8,4%/năm là hoàn toàn tự nguyện và thấp hơn mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ba ngân hàng thương mại tại địa phương (15,25% đến 16,7%/năm) nên cần ghi nhận sự tự nguyện này.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 308; điều 148 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ điều 4, điều 24, điều 50 điều 306 Luật Thương mại năm 2005;
- Áp dụng điều 13 nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/1/2019.

Không chấp nhận đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/KDTM-ST ngày 11 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Công nghiệp P: Buộc Công ty TNHH đầu tư và xây dựng H2 phải thanh toán cho Công ty TNHH Công nghiệp P số tiền là 1.555.946.087 đồng (một tỷ năm trăm năm mươi lăm triệu chín trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm tám mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) và tiền lãi do chậm thanh toán là 1.455.946.087 đồng.

2. Về án phí: Công ty TNHH Công nghiệp P không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Công ty TNHH đầu tư và xây dựng H2 phải chịu 58.678.382 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và 2.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - CCTHADS TPCB;
  • - TAND TPCB;
  • - Các bên đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Thị Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2021/KDTM-PT ngày 23/09/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 02/2021/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2021
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do Công ty H2 không thanh toán tiền cho Công ty P theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng nên ngày 24/7/2020 Công ty P đã khởi kiện yêu cầu Công ty H2 thanh toán tiền nợ gốc là 2.460.000.000 đồng và tiền lãi do chậm thanh toán tạm tính đến ngày 14/7/2020 là 1.706.442.849 đồng theo mức lãi suất là 10%/năm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger