|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 02/2021/DS-ST Ngày 25 tháng 02 năm 2021 “V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tán Nghị, Bà Lê Thị Hoàng T
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Vỹ – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trương Công Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 25/02/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2019/TLST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2020/QĐXX-ST ngày 31 tháng 12 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2021/QĐDS-ST ngày 26/01/2021, Thông báo mở lại phiên tòa số 02/TB-TA ngày 04/02/2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Dương S, sinh năm 1981 và bà Trần Thị T, sinh năm 1984; cùng địa chỉ: Tổ 27, phường Thanh T, quận Thanh K, TP. Đà Nẵng. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phan Thị Q, sinh năm 1977; địa chỉ: Số 1, phường Tân C, quận Thanh K, TP. Đà Nẵng; có mặt.
Bị đơn: Ông Phan N, sinh năm 1969; có mặt. Địa chỉ: Thôn P, xã Hòa S, huyện Hòa V, TP. Đà Nẵng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông N: Ông Trần Xuân Vinh – Luật sư Văn phòng Luật sư Hòa Phát thuộc Đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: Số 31 đường Lê Vinh Khánh, phường Hòa An, quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Tôn Thất Q, sinh năm 1968; vắng mặt. Địa chỉ cuối cùng: Tổ 02, phường Hòa C, quận Hải C, TP. Đà Nẵng.
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972; có mặt.
- Chị Phan Thị N, sinh năm 1997; vắng mặt.
- Chị Phan Thị Y, sinh năm 1999; có mặt.
- UBND huyện Hòa V; có đơn xin xét xử vắng mặt. Địa chỉ: Khu Trung T hành C huyện Hòa V, thuộc thôn 1, xã Hòa P, huyện Hòa V, TP. Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phan Thị Q trình bày:
Vào 14/6/2012 bà Trần Thị T và ông Dương S nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất (gọi tắt là: mua bán) số 950, tờ bản đồ số 15, diện tích 600m2 của ông Tôn Thất Q; việc mua bán hai bên có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng Công chứng Trọng T. Sau khi nhận chuyển nhượng ngày 13/7/2012 ông S, bà T được UBND huyện Hòa Vang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 496932 đứng tên ông S, bà T. Năm 2018 vợ chồng ông S, bà T đến sử dụng thửa đất trên thì bị ông Phan N ngăn cản, lý do theo ông N là do ông Tôn Thất Q nhận chuyển nhượng đất của ông N nhưng chưa trả đủ tiền. Ông S, bà T đã nhờ UBND xã Hòa S vào can thiệp, hòa giải và đo đạc lại thửa đất thì phát hiện đất bị ông N lấn chiếm với diện tích khoảng 150m2, trên đất có một phần ngôi nhà và vật kiến trúc. Để bảo đảm quyền lợi của ông S, bà T nên đề nghị Tòa án buộc ông N trả lại phần đất lấn chiếm nêu trên và đề nghị ông N chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất của ông S và bà T.
Sau khi khởi kiện, tiến hành đo đạc bản đồ, xác định được diện tích đất ông N lấn chiếm là 132,7m2, trên đất có một phần ngôi nhà, giếng nước, công trình phụ, mái che và một số vật kiến trúc khác của ông N. Ông S, bà T hoàn toàn thống nhất với kết quả đo đạc bản đồ, biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và kết quả định giá tài sản.
Ông S, bà T đề nghị Tòa án căn cứ vào kết quả đo đạc bản đồ, xác định diện tích ông N lấn chiếm là 132,7m2. Đề nghị Tòa án buộc ông N trả lại 132,7m2 đất, có tứ cận như sau:
- Đông giáp nhà, đất ông Phan N, có hai đoạn; đoạn một dài 16,95m, đoạn hai dài 3,26m.
- Tây giáp đất ông Dương S và bà Trần Thị T, dài 18,22m.
- Nam giáp đường đi, dài 11,33m.
- Bắc giáp tường nhà dân, dài 7,20m.
Trường hợp, bị đơn ông Phan N, các thành viên gia đình ông N thống nhất để ông S, bà T được quyền sử dụng ổn định phần diện tích đất còn lại sau khi trừ đi 132,7m2 lấn chiếm, thì ông S và bà T đồng ý tặng cho ông Phan N toàn bộ diện tích đất 132,7m2, không yêu cầu ông N thối trả giá trị hoặc bất kỳ khoản chi phí nào đối phần diện tích đất tranh chấp.
Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và đo đạc bản đồ là 8.092.000đ (tám triệu không trăm chín mươi hai ngàn đồng), nguyên đơn xin tự nguyện chịu, không yêu cầu bị đơn phải thối trả lại.
Bị đơn ông Phan N trình bày như sau:
Ông Phan N là chủ sử dụng thửa đất số 950 (tách ra từ thửa 451b), tờ bản đồ số 15 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 694939 do UBND huyện Hòa Vang cấp ngày 11/8/2011. Tháng 5/2012 ông N chuyển nhượng 600m2 đất tại thửa trên cho ông Tôn Thất Q, sau đó ông Quý được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 496394 do UBND huyện Hòa Vang cấp ngày 07/6/2012 và tháng 6/2012 ông Quý chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên lại cho ông Dương S và bà Trần Thị T; ông S và bà T được UBND huyện Hòa Vang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 496932 ngày 13/7/2012. Việc chuyển nhượng đất giữa ông N với ông Quý đã không đúng với thực tế đất ông sử dụng, vì phần đất đó đã có nhà trên đất và gia đình ông N đang quản lý sử dụng. Nên khi ông S, bà T nhận chuyển nhượng lại từ ông Quý mới xảy ra tranh chấp như yêu cầu của ông S, bà T.
Nay ông S, bà T khởi kiện ông N trả lại đất, ông có ý kiến như sau: Ông thống nhất diện tích đất lấn chiếm 132,7m2 như kết quả đo đạc bản đồ, trên đất có nhà và vật kiến trúc của gia đình ông đang quản lý, sử dụng nên đề nghị ông S, bà T cho ông toàn bộ diện tích đất 132,7m2. Vì điều kiện gia đình khó khăn nên ông N không thối trả giá trị lại cho ông S, bà T.
Đối với phần đất còn lại của ông S, bà T; ông S bà T toàn quyền quản lý sử dụng ông và các thành viên trong gia đình ông không ngăn cản hoặc có bất kỳ ý kiến gì. Về đo đạc bản đồ, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản của Tòa án ông hoàn toàn thống nhất và không có ý kiến gì. Về các chi phí tố tụng, ông S, bà T không yêu cầu nên ông không phải thối trả.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: ...
[2] Về nội dung: ...
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 106, 166, 167 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; Điều 164, 169 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147, 157, 161, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương S và bà Trần Thị T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với ông Phan N.
Xử: Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của ông Dương S, bà Trần Thị T với ông Phan N như sau:
- Giao cho ông Phan N được quyền sử dụng 132,7m2 đất tại thửa số 950 tờ bản đồ số 15 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 496932 do Ủy ban nhân dân huyện Hòa Vang cấp ngày 13/7/2012 đứng tên ông Dương S và bà Trần Thị T; tọa lạc tại Thôn P, xã Hòa S, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng cho ông Phan N.
- Công nhận sự tự nguyện của ông Phan N, bà Nguyễn Thị T, chị Phan Thị Y về việc chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng của ông S, bà T đối phần đất còn lại tại thửa đất số 950.
- Ông Dương S, bà Trần Thị T; ông Phan N có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất theo quy định của pháp luật.
- Án phí dân sự sơ thẩm là 5.965.174đ ông Dương S, bà Trần Thị T tự nguyện chịu.
|
Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Hòa Vang; - Chi cục THADS huyện Hòa Vang; - Lưu hồ sơ; |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thế Anh |
Bản án số 02/2021/DS-ST ngày 25/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 02/2021/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: S-N
