|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 02/2021/DS-ST Ngày: 01/02/2021 V/v: "Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Mạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh Tuấn, Ông Lâm Cường Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phương Tâm - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toản - Kiểm sát viên.
Trong ngày 01 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ dân sự thụ lý số: 165/2020/TLST - DS ngày 30/10/2020 về việc "Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2021/QĐXX-DS ngày 07 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị B, sinh năm 1935; Địa chỉ cư trú: Tổ 8, khu phố 4, thị trấn C, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
Bị đơn: Ông Trần Quốc A, sinh năm 1973; Địa chỉ cư trú: Tổ 8, khu phố 4, thị trấn C, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị L, sinh năm 1975; Địa chỉ cư trú: Tổ 8, khu phố 4, thị trấn C, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Bà Trần Thị Phúc H, sinh năm 1973; Địa chỉ cư trú: Số 6/8, ấp 1, phường P, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Ông Trần Văn G, sinh năm 1967; Địa chỉ cư trú: Số 36/8, tổ 8, ấp 1, phường P, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Bà Trần Thị H1, sinh năm 1967; Địa chỉ cư trú: Tổ 8, khu phố 4, thị trấn C, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Bà Trần Thị T, sinh năm 1968; Địa chỉ cư trú: Tổ 5, khu phố 8, thị trấn C, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Bà Trần Thị Đức L1, sinh năm 1976; Địa chỉ cư trú: Tổ 7, ấp H, thị trấn C, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Huỳnh Thị B trình bày:
Bà B là chủ sử dụng các thửa đất gồm: Thửa đất có diện tích 991.4 m², thửa đất số: 60, tờ bản đồ số: 25; Thửa đất có diện tích 1936.1 m², thửa đất số: 147, tờ bản đồ số: 25; Thửa đất có diện tích 10687.9 m², thửa đất số: 40, tờ bản đồ số: 25. Các thửa đất đều tọa lạc tại khu phố 4, thị trấn C, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ bà Huỳnh Thị B vào ngày 15/01/2009.
Nguồn gốc đất do bà B khai phá năm 1982. Bà B có 06 người con. Năm 1997, ông A kết hôn với bà L và sống chung với bà B. Bà B cho ông A, bà L mượn đất để canh tác trồng cây cao su. Năm 2017, ông A và bà L ly hôn, các bên có lập văn bản thỏa thuận chia cây cao su. Bà B cho rằng ba thửa đất trên là tài sản riêng của bà nhưng do có chung hộ khẩu nên GCNQSDĐ ghi là hộ bà Huỳnh Thị B. Bà B khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận bà được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ ba thửa đất nêu trên.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trần Quốc A trình bày:
Ông A thống nhất với trình bày của bà B về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng. Ông đồng ý trả lại quyền quản lý, sử dụng đất cho bà B. Đối với số cây cao su ông đang khai thác, khi bà B yêu cầu sử dụng đất thì ông sẽ thanh lý cây và trả lại đất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án xác định quan hệ pháp luật là "Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai" theo khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành.
[2] Về nội dung tranh chấp: Căn cứ lời khai của các đương sự và tài liệu chứng cứ, Hội đồng xét xử xác định ba thửa đất tranh chấp có nguồn gốc do bà B khai phá. Các con của bà B (người thừa kế của ông C) đều xác định đây là tài sản riêng của bà B và không yêu cầu chia thừa kế. Việc cấp GCNQSDĐ ghi tên "Hộ" là do thủ tục hành chính thời điểm đó, thực tế bà B là người trực tiếp khai phá và sử dụng.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 205, 206 Bộ luật dân sự 2015; Điều 95, 100 Luật đất đai 2013.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị B. Công nhận bà Huỳnh Thị B được quyền quản lý, sử dụng các tài sản là quyền sử dụng đất gồm: Thửa đất số 60 (991.4 m²), Thửa đất số 147 (1936.1 m²), Thửa đất số 40 (10687.9 m²) cùng tờ bản đồ số 25 tại thị trấn C, huyện Chơn Thành.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Trần Quốc A phải trả lại cho bà Huỳnh Thị B số tiền 3.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Quốc A phải chịu 300.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - VKSND huyện Chơn Thành; - Chi cục THADS huyện Chơn Thành; - TAND tỉnh Bình Phước; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TRẦN QUỐC MẠNH |
Bản án số 02/2021/DS-ST ngày 01/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước về tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai
- Số bản án: 02/2021/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/02/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Huỳnh Thị B
