|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH Bản án số: 01/2024/KDTM-ST Ngày 31/7/2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Hữu Hiển.
Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà, ông Nghiêm Đình Chế.
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Mai Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số: 04/2023/TLST-KDTM ngày 16/10/2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-KDTM, ngày 21/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B.
Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà T, số B T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức T – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người được ủy quyền: Ông Nguyễn Việt S – Giám đốc chi nhánh B1.
Ông Nguyễn Việt S ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Hồng H – Nhân viên xử lý nợ Ngân hàng TMCP B chi nhánh B1 (có mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1981 (vắng mặt).
Trú tại: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị K2, sinh năm 1970 (có mặt).
Cùng trú tại: Thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Đều trú tại: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần B trình bày:
- Ngày 22/02/2018, Ngân hàng TMCP B đã cấp hạn mức tín dụng cho anh Nguyễn Văn K thông qua Hợp đồng hạn mức tín dụng. Thời hạn của Hợp đồng tín dụng là 12 tháng, thời hạn của mỗi khế ước tối đa 9 tháng. Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh gỗ và đồ gỗ.
Cụ thể bao gồm các khế ước nhận nợ như sau:
- - Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1302018135/02, ngày 22/6/2018, số tiền nhận nợ là 500.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 23/6/2018 đến hết ngày 22/3/2019.
- - Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1302018135/03, ngày 01/8/2018, số tiền nhận nợ là 990.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 02/8/2018 đến hết ngày 01/5/2019.
- - Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1302018135/04, ngày 29/11/2018, số tiền nhận nợ là 949.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 30/11/2018 đến hết ngày 29/8/2019.
Tổng số tiền cho vay là 2.439.000.000 đồng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay của anh Nguyễn Văn K tại Ngân hàng bao gồm 03 bất động sản.
- - Tài sản 1: Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 28, diện tích 277 m² tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 12/6/2013 mang tên ông Hoàng Văn L1.
- - Tài sản 2: Thửa đất số 662, diện tích 354 m² tại thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/5/2001 mang tên hộ ông Nguyễn Văn K1.
- - Tài sản 3: Thửa đất số 152, tờ bản đồ số 28, diện tích 249 m² tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 17/9/2012 mang tên hộ ông Nguyễn Văn S1. Ngày 17/9/2014 tặng cho anh Nguyễn Văn K có xác nhận của Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y.
Sau khi vay vốn của Ngân hàng, anh K đã trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 253.575.530 đồng sau đó không trả nữa. Anh K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Ngân hàng đã đôn đốc nhiều lần nhưng anh K không thực hiện nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng. Khoản vay của anh K đã bị chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 02/4/2019.
Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc anh K phải thanh toán trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tính đến ngày 22/7/2024: Tiền gốc còn nợ là 2.298.949.668 đồng, tiền lãi quá hạn là 69.932.923 đồng, phạt gốc chậm trả 1.801.892.734 đồng, phạt chậm trả lãi 36.122.458 đồng. Tổng cộng: 4.206.897.783 đồng.
Anh K tiếp tục phải chịu lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền còn nợ.
Nếu anh K không thanh toán trả nợ Ngân hàng đầy thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản anh Q, chị M đã thế chấp tại Ngân hàng để Ngân hàng thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Bị đơn là anh Nguyễn Văn K trình bày:
- - Ngày 22/02/2018, anh K ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP B, nội dung Ngân hàng cho anh K vay số tiền 2.439.000.000đ, mục đích vay: để kinh doanh gỗ và đồ gỗ, thời hạn vay: 12 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng. Ngân hàng đã giải ngân đủ cho anh K số tiền 2.439.000.000đ thể hiện trên Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 22/6/2018, ngày 01/8/2018 và ngày 29/11/2018 giữa anh K và Ngân hàng.
- Anh K, vợ chồng anh L1 chị D, vợ chồng anh K1, chị K2 ký ba hợp đồng thế chấp với Ngân hàng TMCP B.
- - Ngày 25/9/2014, anh K ký Hợp đồng thế chấp với Ngân hàng. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất có diện tích 249m² tại thôn T, xã Y, huyện Y, Bắc Ninh, được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/9/2012 mang tên hộ ông Nguyễn Văn S1 đã tặng cho anh K ngày 17/9/2014. Thửa đất và tài sản trên đất là của anh K, không có sự đóng góp của ai khác. Tài sản trên đất là ngôi nhà ngói gồm 5 gian cùng công trình phụ, xây dựng năm 2018. Tài sản hình thành sau khi thế chấp tài sản. Vì trước khi thế chấp, tài sản trên đất là ngôi nhà 4 gian đã mục nát nên anh K phá bỏ để làm lại nhà mới.
- - Ngày 24/10/2014 vợ chồng anh L1 chị D ký Hợp đồng thế chấp với Ngân hàng. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất có diện tích 277m² tại thôn T, xã Y, huyện Y, Bắc Ninh, được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/06/2013 mang tên ông Nguyễn Văn L. Thửa đất và tài sản trên đất là của vợ chồng anh L, chị D, không có sự đóng góp của ai khác.
- - Ngày 02/02/2015, vợ chồng anh K1 chị K2 ký Hợp đồng thế chấp với Ngân hàng. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất có diện tích 354m² tại thôn C, xã L, huyện Y, Bắc Ninh, được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/5/2001 mang tên hộ ông Nguyễn Văn K1. Thửa đất và tài sản trên đất là của vợ chồng anh K1, chị K2, không có sự đóng góp của ai khác.
Nay Ngân hàng yêu cầu anh K phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 22/7/2024: Tiền gốc còn nợ là 2.298.949.668 đồng, tiền lãi quá hạn là 69.932.923 đồng, phạt gốc chậm trả 1.801.892.734 đồng, phạt chậm trả lãi 36.122.458 đồng. Tổng cộng: 4.206.897.783 đồng, thì anh K đồng ý, do việc làm ăn gặp nhiều khó khăn nên anh K đề nghị Ngân hàng cho được trả dần.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn K1 trình bày:
Anh K1 và anh K là bạn bè. Do anh K có vay tiền của Ngân hàng TMCP B và muốn thế chấp bằng tài sản của vợ chồng anh K1 nên anh K1 đồng ý.
- Ngày 02/02/2015 vợ chồng vợ chồng anh K1 ký Hợp đồng thế chấp với Ngân hàng. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất có diện tích 354m² tại thôn C, xã L, huyện Y, Bắc Ninh, được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/5/2001 mang tên hộ hộ ông Nguyễn Văn K1. Thửa đất và tài sản trên đất là của vợ chồng tôi, không có sự đóng góp của ai khác. Tài sản trên đất là 01 ngôi nhà 2 tầng xây năm 2003, 01 dãy phòng trọ xây dựng năm 2013. Từ khi thế chấp tài sản đến nay, thửa đất giảm đi khoảng hơn 30 m2 do anh K1 hiến đất để làm đường nông thôn còn tài sản trên đất không thay đổi.
Anh L, chị D vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, không có ý kiến với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự từ chối quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân.
Tại phiên tòa nguyên đơn là Ngân hàng TMCP B vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc anh Nguyễn Văn K phải thanh toán trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tính đến 22/7/2024: Tiền gốc còn nợ là 2.298.949.668 đồng, tiền lãi quá hạn là 69.932.923 đồng, phạt gốc chậm trả 1.801.892.734 đồng, phạt chậm trả lãi 36.122.458 đồng. Tổng cộng: 4.206.897.783 Nếu anh K không thanh toán trả nợ Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản đã thế chấp tại Ngân hàng để Ngân hàng thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Bị đơn là anh Nguyễn Văn K đồng ý trả tiền cho Ngân hàng, đề nghị Ngân hàng giảm tiền lãi cho anh K và xin được trả dần.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn K1, chị Nguyễn Thị K2 đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Giữa các bên đương sự thống nhất và không có tranh chấp gì về nội dung các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, số tiền gốc và lãi còn nợ. Đây là những vấn đề không cần phải chứng minh trong vụ án. Giữa các bên đương sự chỉ chưa thống nhất được với nhau về thời gian và phương thức trả nợ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện cơ bản đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đại diện VKS đề nghị HĐXX
Căn cứ Điều 30, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Căn cứ vào Điều 318, 463, 464, 465, 466, 468, 470 BLDS năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án, lệ phí tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc anh Nguyễn Văn K phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tính đến ngày 22/7/2024: Tiền gốc còn nợ là 2.298.949.668 đồng, tiền lãi quá hạn là 69.932.923 đồng, phạt gốc chậm trả 1.801.892.734 đồng, phạt chậm trả lãi 36.122.458 đồng. Tổng cộng: 4.206.897.783 đồng.
Nếu anh K không thanh toán trả nợ cho Ngân hàng đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự kê biên phát mại tài sản đã thế chấp tại Ngân hàng để Ngân hàng thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Kiến nghị: Việc Ngân hàng TMCP B thỏa thuận lãi chậm trả đối với tiền lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn và yêu cầu Tòa án giải quyết là không đúng quy định của pháp luật. Việc Ngân hàng TMCP B thỏa thuận với anh K và yêu cầu Tòa án giải quyết lãi suất chậm trả tính trên lãi quá hạn là “lãi chồng lãi”, vi phạm khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 01/2019/NQ – HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần B khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Văn K phải thanh toán số tiền gốc và lãi còn nợ của các Hợp đồng tín dụng. Đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng, bị đơn là anh Nguyễn Văn K có đăng ký kinh doanh và có nơi cư trú tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Tòa án nhân dân huyện Yên Phong thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại Điều 30, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[ 2 ] Về nội dung vụ án:
- - Ngày 22/02/2018, Ngân hàng TMCP B đã cấp hạn mức tín dụng cho anh Nguyễn Văn K thông qua Hợp đồng hạn mức tín dụng. Thời hạn của Hợp đồng tín dụng là 12 tháng, thời hạn của mỗi khế ước tối đa 9 tháng. Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh gỗ và đồ gỗ.
Cụ thể bao gồm các khế ước nhận nợ như sau :
- - Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1302018135/02, ngày 22/6/2018, số tiền nhận nợ là 500.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 23/6/2018 đến hết ngày 22/3/2019.
- - Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1302018135/03, ngày 01/8/2018, số tiền nhận nợ là 990.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 02/8/2018 đến hết ngày 01/5/2019.
- - Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1302018135/04, ngày 29/11/2018, số tiền nhận nợ là 949.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 30/11/2018 đến hết ngày 29/8/2019.
Tổng số tiền cho vay là 2.439.000.000 đồng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay của anh Nguyễn Văn K tại Ngân hàng bao gồm 03 bất động sản.
- - Tài sản 1: Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 28, diện tích 277 m² tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 12/6/2013 mang tên ông Hoàng Văn L1.
- - Tài sản 2: Thửa đất số 662, diện tích 354 m² tại thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/5/2001 mang tên hộ ông Nguyễn Văn K1.
- - Tài sản 3: Thửa đất số 152, tờ bản đồ số 28, diện tích 249 m² tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 17/9/2012 mang tên hộ ông Nguyễn Văn S1. Ngày 17/9/2014 tặng cho anh Nguyễn Văn K có xác nhận của Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y.
Sau khi vay vốn của Ngân hàng, anh K đã trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 253.575.530 đồng sau đó không trả nữa. Anh K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Ngân hàng đã đôn đốc nhiều lần nhưng anh K không thực hiện nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng. Khoản vay của anh K đã bị chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 02/4/20219.
Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc anh K phải thanh toán trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tính đến ngày 22/7/2024: Tiền gốc còn nợ là 2.298.949.668 đồng, tiền lãi quá hạn là 69.932.923 đồng, phạt gốc chậm trả 1.801.892.734 đồng, phạt chậm trả lãi 36.122.458 đồng. Tổng cộng: 4.206.897.783 đồng. Anh K tiếp tục phải chịu lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền còn nợ.
Anh K tiếp tục phải chịu lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền còn nợ.
Nếu anh K không thanh toán trả nợ Ngân hàng đầy thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản anh Q, chị M đã thế chấp tại Ngân hàng để Ngân hàng thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy: Các Hợp đồng tín dụng; Hợp đồng thế chấp tài sản là hợp pháp, khi ký kết Hợp đồng các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các thỏa thuận trong hợp đồng về thời hạn vay, lãi suất đều tự nguyện và tuân thủ theo đúng quy định của Ngân hàng N, nội dung và hình thức của hợp đồng đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Xét thấy đây là hợp đồng vay tài sản có thời hạn, có lãi và có tài sản thế chấp. Anh K đã được Ngân hàng giải ngân toàn bộ số tiền 2.439.000.000 đồng. Việc anh K không thanh toán trả nợ cho Ngân hàng khi đến hạn là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo nội dung các Hợp đồng tín dụng đã ký kết.
[4] Xét yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B đề nghị Tòa án buộc anh K phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tính đến ngày 22/7/2024: Tiền gốc còn nợ là 2.298.949.668 đồng, tiền lãi quá hạn là 69.932.923 đồng, phạt gốc chậm trả 1.801.892.734 đồng, phạt chậm trả lãi 36.122.458 đồng. Tổng cộng: 4.206.897.783 đồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu này của phía Ngân hàng là có căn cứ và phù hợp với quy định tại điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay, phù hợp với những thỏa thuận của các bên trong các điều khoản của các Hợp đồng tín dụng đã ký kết nên cần được chấp nhận để buộc anh K phải trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 22/7/2024: Tiền gốc còn nợ là 2.298.949.668 đồng, tiền lãi quá hạn là 69.932.923 đồng, phạt gốc chậm trả 1.801.892.734 đồng, phạt chậm trả lãi 36.122.458 đồng. Tổng cộng: 4.206.897.783 đồng.
Kể từ ngày 23/7/2024, anh Nguyễn Văn K tiếp tục phải chịu tiền lãi phải trả, tiền lãi chậm trả theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền còn nợ Ngân hàng.
[ 5 ] Sau khi anh Nguyễn Văn K thanh toán trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng thì phía Ngân hàng có nghĩa vụ giải chấp tài sản đã thế chấp tại Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp anh Nguyễn Văn K không thanh toán trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng thì phía Ngân hàng có quyền đề nghị Chi cục thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản đã thế chấp tại Ngân hàng để Ngân hàng thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Cụ thể kê biên, phát mại tài sản sau:
- - Tài sản 1: Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 28, diện tích 277 m² tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 12/6/2013 mang tên ông Hoàng Văn L1.
- - Tài sản 2: Thửa đất số 662, diện tích 354 m² tại thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (đo thực tế có diện tích 335,5 m²). Thửa đất được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/5/2001 mang tên hộ ông Nguyễn Văn K1.
- - Tài sản 3: Thửa đất số 152, tờ bản đồ số 28, diện tích 249 m² tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 17/9/2012 mang tên hộ ông Nguyễn Văn S1. Ngày 17/9/2014 tặng cho anh Nguyễn Văn K có xác nhận của Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y.
[ 6 ] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Anh Nguyễn Văn K phải chịu chi phí xem xét thẩm định tài sản. Xác nhận Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số tiền 15.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản.
Về án phí: Anh Nguyễn Văn K phải chịu án phí kinh doanh sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B số tiền 52.120.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số: AA/2021/04661, ngày 22/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 30, 35, 39, 147, 235, 254, 262, 264, 266, 273, 278 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Căn cứ các Điều 317, 318, 319, 323, 325, 326, 463, 464, 465,466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án, lệ phí tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B.
- Buộc anh Nguyễn Văn K phải thanh toán trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B số tiền tính đến 22/7/2024: Tiền gốc còn nợ là 2.298.949.668 đồng, tiền lãi quá hạn là 69.932.923 đồng, phạt gốc chậm trả 1.801.892.734 đồng, phạt chậm trả lãi 36.122.458 đồng. Tổng cộng: 4.206.897.783 đồng.
Kể từ ngày 23/7/2024, anh Nguyễn Văn K tiếp tục phải chịu lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng Thương mại cổ phần B cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền còn nợ Ngân hàng.
- Sau khi anh Nguyễn Văn K thanh toán trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có nghĩa vụ giải chấp tài sản đã thế chấp tại Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
Nếu anh Nguyễn Văn K không thanh toán trả nợ Ngân hàng đầy đủ thì Ngân hàng có quyền đề nghị Chi cục thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản n đã thế chấp tại Ngân hàng để Ngân hàng thu hồi nợ theo quy định của pháp luật
Cụ thể kê biên, phát mại tài sản sau:
- - Tài sản 1: Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 28, diện tích 277 m² tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 12/6/2013 mang tên ông Hoàng Văn L1.
- - Tài sản 2: Thửa đất số 662, diện tích 354 m² tại thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (đo thực tế có diện tích 335,5 m²). Thửa đất được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/5/2001 mang tên hộ ông Nguyễn Văn K1.
- - Tài sản 3: Thửa đất số 152, tờ bản đồ số 28, diện tích 249 m² tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 17/9/2012 mang tên hộ ông Nguyễn Văn S1. Ngày 17/9/2014 tặng cho anh Nguyễn Văn K có xác nhận của Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Anh Nguyễn Văn K phải chịu chi phí xem xét thẩm định tài sản. Xác nhận Ngân hàng Thương mại Cổ phần B đã nộp số tiền 15.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tài sản. Anh Nguyễn Văn K phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số tiền 15.000000 đồng chi phí xem xét thẩm định tài sản.
Về án phí: Anh Nguyễn Văn K phải chịu 112.207.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số tiền 52.120.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số: AA/2021/0004661, ngày 22/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Toà án tỉnh Bắc Ninh.
- - VKSND tỉnh Bắc Ninh.
- - VKSND huyện Yên Phong.
- - Người tham gia tố tụng khác.
- - THA huyện Yên Phong.
- - Lưu hồ sơ, văn phòng.
|
Các Hội thẩm nhân dân Nghiêm Đình Chế – Tô Huy Bân |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Tạ Hữu Hiển |
Bản án số 01/2024/KDTM-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 01/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Liên Việt, Nguyễn Văn Kiên - TCHĐTD
