|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29/11/2023
“V/v tranh chấp hôn nhân và
gia đình, ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Phương và bà Ngô Kim Quyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Hữu Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Huy Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 103/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/3/2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 09 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 160/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 và Thông báo số 37/TB-TA ngày 08/11/2023 về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Ngô Phước N, sinh năm 1988. Nơi cư trú: số 479, tổ I, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, có mặt.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1987. Nơi cư trú: tổ I, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Ngô Phước N trình bày: Vào năm 2005, anh N và chị Nguyễn Thị Kim L do tự tìm hiểu, có tiến hành tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thị xã T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 56/2014 ngày 07 tháng 07 năm 2014. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng sống chung với gia đình anh N tại khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng bắt đầu từ năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, kinh tế, tính tình không phù hợp nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi. Cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, anh N và chị L đã sống xa nhau từ năm 2022 cho đến nay, gia đình hai bên có hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nay, tình cảm vợ chồng không còn nên anh N yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim L.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh N và chị L có 02 (hai) con chung tên Ngô Thị Như Ý, sinh ngày 29/4/2006 và Ngô Ngọc Như Q, sinh ngày 29/5/2014. Hiện hai cháu (N và Như Q) đang sống với anh N. Khi ly hôn, anh N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án số 161/TB-TLVA ngày 20/3/2023; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 597/TB-TA ngày 06/9/2023 và các văn bản tố tụng khác cho chị Nguyễn Thị Kim L nhưng chị L vắng mặt ở địa phương. Tòa án đã tiến hành niêm yết văn bản tố tụng theo quy định pháp luật, đến nay, chị L cũng không cung cấp văn bản ý kiến của chị L cho Tòa án.
Quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ: Xác minh nơi cư trú của chị Nguyễn Thị Kim L tại Công an phường L, thị xã T; xác minh tình trạng hôn nhân, con chung của anh N và chị L tại Ban K; Biên bản ghi nhận ý kiến nguyện vọng của cháu Ngô Thị Như Ý và Ngô Ngọc Như Q, cụ thể:
- Công an phường L, thị xã T cung cấp: Chị Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1987 còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ I, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Hiện nay, chị L vắng mặt ở địa phương.
- Ban khóm L, phường L cung cấp: Về quan hệ hôn nhân, chị Nguyễn Thị Kim L và anh Ngô Phước N tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T. Thời gian đầu vợ chồng (anh N – chị L) chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, chung sống không hòa thuận và đã không còn chung sống với nhau từ năm 2022 cho đến nay.
- Về con chung, vợ chồng (anh N và chị L) có 02 (hai) con chung tên Ngô Thị Như Ý, sinh ngày 29/4/2006 và Ngô Ngọc Như Q, sinh ngày 29/5/2014. Hiện các cháu (Như Ý và Như Q) đang sống với anh N và được anh N chăm sóc, nuôi dưỡng. Đồng thời, ở địa phương, không nghe thấy hoặc ai báo về việc các cháu Như Ý và Như Q bị đánh đập, ngược đãi hoặc không quan tâm đến các cháu.
- Về tài sản chung và nợ chung của anh N và chị L thì không biết.
- Biên bản ghi nhận ý kiến nguyện vọng của cháu Ngô Thị Như Ý và Ngô Ngọc Như Q: Cháu Như Ý và Như Q là con ruột anh Ngô Phước N và chị Nguyễn Thị Kim L, hiện các cháu đang sống với anh N. Nếu cha mẹ được Tòa án giải quyết ly hôn thì cháu Như Ý và Như Q có nguyện vọng sống với cha Ngô Phước N.
Tại phiên tòa, anh N kiên quyết yêu cầu ly hôn với chị L và yêu cầu được nuôi dạy hai con chung tên Ngô Thị Như Ý, sinh ngày 29/4/2006 và Ngô Ngọc Như Q, sinh ngày 29/5/2014, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung.
- Phát biểu của Kiểm sát viên:
- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Ngô Phước N với chị Nguyễn Thị Kim L.
- Về con chung: Anh Ngô Phước N được nuôi dưỡng con chung tên Ngô Thị Như Ý, sinh ngày 29/4/2006 và Ngô Ngọc Như Q, sinh ngày 29/5/2014. Chị Nguyễn Thị Kim L không phải cấp dưỡng cho nhau để nuôi con chung.
- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ việc đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn vắng mặt tại các buổi họp và làm việc của Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
*Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Anh Ngô Phước N khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim L. Chị L có nơi cư trú phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn chị Nguyễn Thị Kim L được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn như theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
* Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: anh N và chị L do tự tìm hiểu yêu thương nhau, được gia đình hai bên chấp thuận và tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 56/2014 ngày 07 tháng 07 năm 2014 phù hợp Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa anh N và chị L là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Anh N khai, thời gian đầu cuộc sống vợ chồng của anh N và chị L hạnh phúc. Tuy nhiên, đến năm 2022 thì vợ chồng bất đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, kinh tế, tính tình không phù hợp nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi, anh N và chị L sống xa nhau từ năm 2022 đến nay. Anh N yêu cầu ly hôn với chị L do cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được.
Theo kết quả xác minh tại Ban khóm L, phường L, chị L và anh N tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T. Thời gian đầu vợ chồng (anh N – chị L) chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, chung sống không hòa thuận và đã không còn chung sống với nhau từ năm 2022 cho đến nay.
Vợ chồng có nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng hạnh phúc. Tòa án tổ chức hòa giải nhiều lần để tạo điều kiện cho chị L và anh N hàn gắn tình cảm, nhưng chị L vắng mặt và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.
Tình trạng vợ chồng anh N và chị L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục duy trì hôn nhân thì khó xây dựng được gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững. Xét, cho anh N ly hôn với chị L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2] Về con chung: anh N khai, trong thời kỳ hôn nhân, anh N và chị L có 02 (hai) con chung tên Ngô Thị Như Ý, sinh ngày 29/4/2006 và Ngô Ngọc Như Q, sinh ngày 29/5/2014. Hiện các cháu (Như Ý và Như Q) đang sống với anh N. Anh N yêu cầu được nuôi dạy các con chung sau khi ly hôn và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung.
Biên bản ghi nhận ý kiến nguyện vọng của cháu Như Ý và cháu Như Q có nguyện vọng được sống với anh N.
Theo kết quả xác minh tại Ban khóm Long Quới A: vợ chồng (anh N và chị L) có 02 (hai) con chung tên Ngô Thị Như Y, sinh ngày 29/4/2006 và Ngô Ngọc Như Q, sinh ngày 29/5/2014. Hiện các cháu (Như Ý và Như Q) đang sống với anh N và được anh N chăm sóc, nuôi dưỡng. Ở địa phương, không nghe thấy hoặc ai báo về việc các cháu Như Ý và Như Q bị đánh đập, ngược đãi hoặc không quan tâm đến các cháu.
Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con và nguyện vọng của cháu Như Ý và cháu Như Q, cuộc sống của cháu cũng ổn định. Xét, giao 02 (hai) con chung tên Ngô Thị Như Ý, sinh ngày 29/4/2006 và Ngô Ngọc Như Q, sinh ngày 29/5/2014 cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Anh N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh N khai, không có không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí, anh N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp.
Chị L không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Phước N.
Anh Ngô Phước N được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim L.
Giấy chứng nhận kết hôn số 56/2014 do Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang cấp ngày 07 tháng 07 năm 2014 cho anh Ngô Phước N và chị Nguyễn Thị Kim L không còn giá trị pháp lý.
[2] Về con chung: anh Ngô Phước N được tiếp tục nuôi dạy 02 (hai) con chung tên Ngô Thị Như Ý, sinh ngày 29/4/2006 và Ngô Ngọc Như Q, sinh ngày 29/5/2014 cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Chị Nguyễn Thị Kim L không phải cấp nuôi con chung.
Anh N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về án phí:
Anh Ngô Phước N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007398 ngày 16/03/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Chị Nguyễn Thị Kim L không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh N có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Thời hạn kháng cáo của chị L là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Dương |
6
Bản án số 01/2023/HNGĐ-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 01/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: N yêu cầu ly hôn L
