TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/KDTM-ST
Ngày: 28 - 6 - 2024
V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG -TỈNH PHÚ THỌ.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Đức Ẩm
Ông Nguyễn Bá Tuyên
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng - Thư ký TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Tiến Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2024/ TLST-KDTM, ngày 12 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXX-ST, ngày 12 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 02/2024/TB-TA, ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C.
Địa chỉ: Số A T, quận H, thành phố Hà Nội.
+ Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B - Chủ tịch HĐQT.
+ Người đại diện theo ủy quyền của ông B: Ông Lê Thế T - Giám đốc Phòng giao dịch huyện Đ, Ngân hàng TMCP C, chi nhánh thị xã P. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Đặng Quang Đ, chị Trần Thị L.
Địa chỉ: Khu A, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Ngọc S, bà Đinh Thị Tuyết .
Địa chỉ: Khu A, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, người được ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 16/09/2021, vợ chồng anh Đặng Quang Đ và chị Trần Thị L có ký Hợp đồng tín dụng số 950909/2021-HĐCVHM/NHCT244 với Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh thị xã P, để vay vốn Ngân hàng. Số tiền vay là 700.000.000₫ (Bảy trăm triệu đồng); Mục đích vay: Kinh doanh chế biến lâm sản các loại; Phương thức vay vốn: Hạn mức tín dụng; Thời hạn cho vay là 12 tháng, kể từ ngày nhận nợ 22/10/2021 và 06 tháng, kể từ ngày nhận nợ 31/10/2022; Lãi suất 9,5%/365 ngày; Tài sản thế chấp gồm: 01 Quyền sử dụng đất diện tích 982 m² (300m² đất ở và 682m² đất vườn) cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất, tại thửa đất số 42, tờ bản đồ số 22, địa chỉ: Thôn A (N là khu A), xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH543905 do UBND huyện Đ cấp ngày 04/04/2017 đứng tên ông Đặng Ngọc S và bà Đinh Thị T1 (Bố mẹ đẻ anh Đ đứng ra bảo lãnh cho khoản vay).
Thời gian đầu vợ chồng anh Đ và chị L có ý thức trả nợ ngân hàng, trả lãi đúng hạn. Tuy nhiên đến tháng 02/2023, do làm ăn khó khăn nên anh chị đã có dấu hiệu chậm trả lãi đúng hạn. Đến ngày 18/09/2023, anh chị đã không có khả năng thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp đôn đốc bằng văn bản và qua điện thoại với vợ chồng anh Đ và chị L và bên thứ ba có tài sản là ông Đặng Ngọc S và bà Đinh Thị Tuyết. Qua các biên bản và trực tiếp trao đổi, làm việc anh Đ và ông S đã nhiều lần cam kết tự bán tài sản để trả nợ cho Ngân hàng nhưng đến thời điểm hiện tại vẫn chưa thực hiện đúng cam kết, không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ.
Tính đến ngày 28 tháng 06 năm 2024, vợ chồng anh Đ và chị L còn nợ Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh thị xã P tổng số tiền là: 500.016.644đ (Năm trăm triệu, không trăm mười sáu nghìn, sáu trăm bốn mươi bốn đồng). Theo Hợp đồng tín dụng số: 950909/2021-HĐCVHM/NHCT244, ngày 16/09/2021.
Trong đó:
- + Nợ gốc quá hạn: 450.000.000đ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng).
- + Lãi trong hạn: 33.731.507đ (Ba mươi ba triệu,bảy trăm ba mốt nghìn, năm trăm linh bảy đồng).
- + Lãi quá hạn: 16.280.137₫ (Mười sáu triệu, hai trăm tám mươi nghìn, một trăm ba bảy đồng).
Vậy Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh thị xã P đề nghị Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng - Tỉnh Phú Thọ.
Buộc vợ chồng anh Đ và chị L phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền 500.016.644đ (Năm trăm triệu, không trăm mười sáu nghìn, sáu trăm bốn mươi bốn đồng). Trong đó: Nợ gốc quá hạn: 450.000.000₫ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng); Lãi trong hạn: 33.731.507₫ (Ba mươi ba triệu,bảy trăm ba mốt nghìn, năm trăm linh bảy đồng); Lãi quá hạn: 16.280.137₫ (Mười sáu triệu, hai trăm tám mươi nghìn, một trăm ba bảy đồng). Ngoài ra còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất số 9509092/2021/HĐTB/NHCT244 ngày 15/9/2021 để đảm bảo việc trả nợ.
2. Bị đơn anh Đặng Quang Đ, chị Trần Thị L trình bày:
Anh Đ và chị L đồng ý với trình bày của đại diện nguyên đơn về hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp; Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp; Về số tiền vay, mục đích vay và các tài sản thế chấp. Nay anh chị xác định còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 450.000.000₫ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng) và số tiền lãi phát sinh theo lãi suất của Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng. Anh chị đồng ý trả nợ cho Ngân hàng nhưng do kinh tế khó khăn nên đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho được trả dần số nợ trên. Nếu không trả nợ được cho Ngân hàng thì anh chị đồng ý xử lý tài sản đã thế chấp để trả nợ cho Ngân hàng. Do bận công việc nên anh chị đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt anh chị.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Ngọc S và bà Đinh Thị T1 (Bố mẹ đẻ anh Đ) trình bày:
Ông bà đồng ý với trình bày của đại diện nguyên đơn về hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp; Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp; Về số tiền vay, mục đích vay và các tài sản thế chấp. Việc ông bà đã ký hợp đồng thế chấp; Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp là tự nguyện giúp vợ chồng anh Đ, chị L và đúng quy định của pháp luật. Nếu vợ chồng anh Đ, chị L không trả được khoản nợ cho Ngân hàng thì ông bà đồng ý xử lý tài sản đã thế chấp để trả nợ Ngân hàng. Do tuổi cao đi lại khó khăn nên ông bà đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt ông bà.
4. Qúa trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất số 9509092/2021/HĐTB/NHCT244 ngày 15/9/2021 xác định đúng theo hợp đồng thế chấp (Có biên bản và sơ đồ hiện trạng kèm theo).
5. Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật không có vi phạm gì và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, khoản 2 Điều 119, khoản 2 Điều 292, Điều 299, Điều 317, khoản 3 Điều 318, Điều 319, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật tổ chức tín dụng, điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/HĐTPTANDTC, Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh thị xã P. Buộc vợ chồng anh Đặng Quang Đ và chị Trần Thị L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền 500.016.644đ (Năm trăm triệu, không trăm mười sáu nghìn, sáu trăm bốn mươi bốn đồng). Trong đó: Nợ gốc quá hạn: 450.000.000₫ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng); Lãi trong hạn: 33.731.507đ (Ba mươi ba triệu, bảy trăm ba mốt nghìn, năm trăm linh bảy đồng); Lãi quá hạn: 16.280.137₫ (Mười sáu triệu, hai trăm tám mươi nghìn, một trăm ba bảy đồng) và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 29/6/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản tiền nói trên. Trong trường hợp không thực hiện việc trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản thế chấp.
- Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo giá ngạch.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng dân sự:
1.1. Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án này là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”. Nơi cư trú của của bị đơn tại xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ và nơi thực hiện hợp đồng ở thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2. Bị đơn anh Đặng Quang Đ, chị Trần Thị L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Ngọc S, bà Đinh Thị T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, thông báo mở lại phiên tòa, nhưng vắng mặt không có lý do lần thứ 02 tại phiên tòa nên việc xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Thế T đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn.
[2]. Về nội dung vụ án:
2.1. Về yêu cầu, ý kiến của đương sự:
- Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh thị xã P yêu cầu Tòa án buộc bị đơn anh Đặng Quang Đ, chị Trần Thị L phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh thị xã P tổng số tiền 500.016.644đ (Năm trăm triệu, không trăm mười sáu nghìn, sáu trăm bốn mươi bốn đồng). Trong đó: Nợ gốc quá hạn: 450.000.000₫ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng); Lãi trong hạn: 33.731.507₫ (Ba mươi ba triệu,bảy trăm ba mốt nghìn, năm trăm linh bảy đồng); Lãi quá hạn: 16.280.137₫ (Mười sáu triệu, hai trăm tám mươi nghìn, một trăm ba bảy đồng) và buộc vợ chồng anh Đ, chị L phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày lãi từ ngày 29/6/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng tương ứng với số tiền nợ gốc và thời gian chậm trả cho đến khi thanh toán hết tất cả mọi khoản nợ. Đồng thời yêu cầu tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đã ký với Ngân hàng để đảm bảo việc trả nợ.
- Bị đơn là anh Đặng Quang Đ và chị Trần Thị L đã trình bày ý kiến với nội dung xác nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh thị xã P là hoàn toàn đúng. Anh chị thừa nhận vợ chồng gặp khó khăn về kinh tế nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng và còn nợ số tiền gốc là 450.000.000₫ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng) và số tiền lãi phát sinh theo lãi suất của Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng. Anh chị đồng ý trả nợ cho Ngân hàng nhưng do kinh tế khó khăn nên đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho được trả dần số nợ trên. Nếu không trả nợ được cho Ngân hàng thì anh chị đồng ý để cơ quan thi hành án xử lý tài sản đã thế chấp với Ngân hàng.
2.2. Hiệu lực của Hợp đồng: Hợp đồng tín dụng số 950909/2021-HĐCVHM/NHCT244, ngày 16/09/2021 giữa Ngân hàng và vợ chồng anh Đ và chị L được ký kết trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên.
2.3. Về yêu cầu trả nợ: Quá trình thực hiện hợp đồng, vợ chồng anh Đ, chị L đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong hợp đồng tín dụng. Mặc dù Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh thị xã P đã nhiều lần nhắc nhở nhưng anh chị vẫn không có thiện chí trả nợ. Tính đến ngày 28/6/2024, tổng số tiền anh Đ, chị L còn nợ Ngân hàng là 500.016.644đ (Năm trăm triệu, không trăm mười sáu nghìn, sáu trăm bốn mươi bốn đồng). Trong đó: Nợ gốc quá hạn: 450.000.000₫ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng); Lãi trong hạn: 33.731.507đ (Ba mươi ba triệu,bảy trăm ba mốt nghìn, năm trăm linh bảy đồng); Lãi quá hạn: 16.280.137₫ (Mười sáu triệu, hai trăm tám mươi nghìn, một trăm ba bảy đồng).
Do vợ chồng anh Đ, chị L vi phạm các nghĩa vụ trả nợ như cam kết trong hợp đồng nên Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh thị xã P đã khởi kiện tại Tòa án. Việc khởi kiện của Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc anh Đ, chị L phải trả số tiền còn nợ nói trên là phù hợp với Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
2.4. Về lãi suất: Việc Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh thị xã P áp dụng mức lãi suất và đề nghị anh Đ, chị L phải trả là phù hợp với Điều 2 quy định về lãi suất và lãi suất quá hạn của hợp đồng tín dụng, phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, 8 ,12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất nên HĐXX chấp nhận.
Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày 29/6/2024 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 950909/2021-HĐCVHM/NHCT244, ngày 16/09/2021 cho đến khi anh Đ và chị L thanh toán xong khoản nợ.
2.5. Về tài sản thế chấp: Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ xác định tài sản mà ông Đặng Ngọc S và bà Đinh Thị T1 (Bố mẹ đẻ anh Đ) đã thế chấp để đảm bảo cho khoản vay của anh Đ, chị L là QSD đất diện tích 982 m² (300m² đất ở và 682m² đất vườn) cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất, tại thửa đất số 42, tờ bản đồ số 22, địa chỉ: Thôn A (N là khu A), xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH543905 do UBND huyện Đ cấp ngày 04/04/2017 đứng tên ông Đặng Ngọc S và bà Đinh Thị Tuyết. Việc hai bên ký kết hợp đồng thế chấp trên cơ sở tự nguyện phù hợp với quy định pháp luật về nội dung và hình thức nên hợp đồng này đã làm phát sinh toàn bộ quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng. Trường hợp anh Đ, chị L không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng thì tài sản thế chấp sẽ được xử lý theo quy định tại Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Nếu sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà vẫn không đủ trả nợ, anh Đ, chị L phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán hết toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng.
2.6. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh thị xã P được chấp nhận nên bị đơn anh Đặng Quang Đ và chị Trần Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
2.7. Về chi phí tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh thị xã P được chấp nhận và nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), nên bị đơn anh Đặng Quang Đ và chị Trần Thị L phải hoàn trả lại số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ cho nguyên đơn.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, khoản 2 Điều 119, khoản 2 Điều 292, Điều 299, Điều 317, khoản 3 Điều 318, Điều 319, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật tổ chức tín dụng, điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/HĐTPTANDTC, Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP C đối với bị đơn anh Đặng Quang Đ và chị Trần Thị L.
1.1. Buộc chị anh Đặng Quang Đ và chị Trần Thị L phải trả cho Ngân hàng TMCP C số tiền vay còn nợ tính đến ngày 28/6/2024 là: 500.016.644đ (Năm trăm triệu, không trăm mười sáu nghìn, sáu trăm bốn mươi bốn đồng). Trong đó: Nợ gốc quá hạn: 450.000.000₫ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng); Lãi trong hạn: 33.731.507₫ (Ba mươi ba triệu,bảy trăm ba mốt nghìn, năm trăm linh bảy đồng); Lãi quá hạn: 16.280.137₫ (Mười sáu triệu, hai trăm tám mươi nghìn, một trăm ba bảy đồng) và toàn bộ các khoản lãi, phí chậm trả phát sinh trên số dư nợ gốc từ ngày 29/6/2024 đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
Trường hợp anh Đ, chị L không tự nguyện thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự bán phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 9509092/2021/HĐTB/NHCT244 ngày 15/9/2021 được ký kết giữa bên thế chấp là ông Đặng Ngọc S, bà Đinh Thị T1 (Bố mẹ đẻ anh Đ) và bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP C để thu hồi nợ. Sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà vẫn không đủ trả nợ, anh Đ, chị L phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán hết toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng.
Kể từ ngày 29/6/2024, anh Đ, chị L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà anh Đ, chị L vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
1.2. Về án phí:
Anh Đặng Quang Đ và chị Trần Thị L phải nộp 24.000.665đ (Hai mươi bốn triệu, sáu trăm sáu mươi lăm đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.470.000đ (Mười một triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí số ký hiệu BLTU/2023, số 0002128, ngày 10/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng.
1.3. Về chi tố tụng: Anh Đặng Quang Đ và chị Trần Thị L phải nộp để hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP C số tiền chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Kể từ ngày tuyên án, Ngân hàng TMCP C có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Đ, chị L không trả cho Ngân hàng số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chậm trả.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
2. Về quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Khanh |
8
Bản án số 01/2024/KDTM-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 01/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP C đối với bị đơn anh Đặng Quang Đ và chị Trần Thị L.
