Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA VIỄN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/DS-ST

Ngày: 25/4/2024

Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hoàng Giáp

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Duy Quyết.

Ông Hoàng Quốc Trị.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Hồng Mơ - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 03/2022/TLST- DS ngày 24 tháng 02 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST – DS, ngày 29 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QÐST-DS, ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ông Lâm Văn T, sinh năm: 1961 và bà Phạm Thị C, sinh năm: 1963; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (Bà C ủy quyền cho ông T tham gia tố tụng theo Giấy ủy quyền ngày 29/3/2022)

- Bị đơn: ông Lâm Văn L, sinh năm: 1968 và bà Hoàng Thị N, sinh năm: 1972; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: UBND xã G, huyện G. tỉnh Ninh Bình; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T1 - Chủ tịch UBND xã.

Tại phiên tòa có mặt ông Lâm Văn T; ông Nguyễn Văn T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Lâm Văn T, bà Hoàng Thị N vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07/01/2022, tại bản tự khai, các biên bản trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lâm Văn T trình bày:

Ông Lâm Văn T, ông Lâm Văn L là anh em ruột, được bố mẹ để lại cho quyền sử dụng đất là 436m2 tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình, trong đó mỗi ông được chia 218m2 đất. Năm 1997 ông Lâm Văn T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 218m2, thửa đất số 53, tờ bản đồ số 14, trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4 thuộc phần đất của ông sử dụng. Đến nay gia đình ông

T muốn xây dựng nhà ở, khi xem xét đo đạc phát hiện vợ chồng ông Lâm Văn L, bà Hoàng Thị N đã xây dựng mái tôn lấn chiếm sang phần đất của gia đình ông với diện tích khoảng 26,8m2; cùng với việc xây dựng tường bao và rào chắn vào khu đất của gia đình ông; tự ý trồng cây trên phần đất ở của vợ chồng ông.

Vợ chồng ông cùng anh em trong nhà đã họp bàn nhiều lần để giải quyết nhưng vợ chồng ông L, bà N không hợp tác; ông T, bà C cũng đã gửi đơn đến UBND xã G đề nghị giải quyết nhưng gia đình ông L vẫn cố tình không hòa giải, giải quyết. Do vậy ông Lâm Văn T, bà Phạm Thị C yêu cầu Tòa án buộc ông Lâm Văn L, bà Hoàng Thị N trả lại phần diện tích đất lấn chiếm là 26,8m2; tháo dỡ di dời phần mái tôn, tường bao, rào chắn, di chuyển các cây xanh do ông L, bà N trồng trên đất của ông bà.

Ông Lâm Văn T và bà Phạm Thị C đồng ý với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, không có ý kiến gì khác.

Về chi phí tố tụng: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Lâm Văn T trình bày ông và bà Phạm Thị C tự nguyện chịu toàn bộ các chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản và tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn ông Lâm Văn L, bà Hoàng Thị N nhưng ông L, bà N không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải không có lý do. Tại Biên bản lấy lời khai đương sự và tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 02/8/2022 và ngày 11/9/2022 ông L, bà N trình bày: Về nguồn gốc đất, ông L, bà N thừa nhận nguồn gốc đất do bố mẹ ông T, ông L để lại cho hai anh em gồm 436m2 đất và 01 ngôi nhà cấp 4, theo phân chia mỗi người được quyền sử dụng là 218m2; gia đình ông cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 218m2 đất từ năm 1997. Nay ông L, bà C khởi kiện ông bà không đồng ý; ông L, bà N trình bày vợ chồng ông không lấn chiếm phần đất của gia đình ông T, vì đất được bố mẹ ông để lại, phân chia cho hai anh em theo chiều B – N1 với diện tích đất của mỗi nhà là 218m2, đất của ông T nằm phía trong phần đất của nhà ông; ông T muốn có lối đi thì phải mua lại một phần đất của gia đình ông để làm lối đi lại. Việc ông T khởi kiện ông lấn chiếm đất và xác định đất chia theo hướng đông – tây là không đúng. Ngoài nội dung trình bày trên ông L, bà N không trình bày thêm nội dung nào khác, không giao nộp tài liệu chứng cứ nào khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của UBND xã G trình bày: Hộ ông Lâm Văn L và bà Hoàng Thị N; ông Lâm Văn T và bà Phạm Thị C đều đã được UBND huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích của mỗi nhà là 218m2 ở xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11/9/2023 đã xác định trong quá trình chung sống vợ chồng ông L, bà N đã xây dựng trên đất một ngôi nhà ở một tầng kiên cố trên toàn bộ diện tích đất được cấp theo GCNQSDĐ. Tuy nhiên để thuận tiện trong quá trình sinh hoạt thì gia đình ông L, bà N đã xây dựng thêm phần nhà bán mái lập tôn có một phần diện tích là xây dựng trên phần đất do UBND

xã quản lý. Đối với phần diện tích ông Lâm Văn L và bà Hoàng Thị N xây dựng nhà bán mái có phần lồi ra bám mặt ngõ đi chung thuộc quyền quản lý của UBND xã, có kích thước chiều dài một cạnh là 11.6m, một cạnh là 5.0m, diện tích 9.93m2 là do ông L tự ý xây dựng lấn chiếm, UBND xã không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Đối với phần xây dựng lấn chiếm, sau khi vụ án được giải quyết thì UBND xã sẽ thực hiện các thủ tục xử lý hành chính theo quy định của pháp luật. UBND xã G đã cung cấp cho Tòa án các tài liệu chứng cứ là hồ sơ địa chính; trích lục bản đồ, sổ địa chính, sổ mục kê. Người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân xã G có đơn xin vắng mặt tại các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; đề nghị xét xử vắng mặt. Ngoài ra không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Quá trình xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ, UBND huyện G cung cấp:

Ông Lâm Văn T và ông Lâm Văn L là chủ sử dụng thửa đất số 53, tờ bản đồ số 14, địa chỉ tại xóm Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; trong đó ông T, ông L mỗi người được sử dụng 218m2. Năm 1997 UBND huyện G đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phần đất mà mỗi người sử dụng.

Đối với hộ ông Lâm Văn T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sô 1655863 mang tên ông Lâm Văn T, diện tích 218m2 tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; cấp năm 1997; đất có vị trí:

  • - Phía Đông giáp ngõ đi chung;
  • - Phía Nam giáp đất ông Lâm Văn L;
  • - Phía Tây giáp đất ông H;
  • - Phía Bắc giáp đất ông L1.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng là các ông bà: ông Lâm Văn H1, bà Phạm Thị C1, bà Lâm Thị T2, bà Lâm Thị C2, ông Lâm Văn H2 cùng xác định nguồn gốc thửa đất 436m2 là của bố mẹ các ông bà để lại cho ông T, ông L, mỗi người được 218m2 đất và mỗi người đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; nay ông T khởi kiện ông L thì các ông bà không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị đơn là ông Lâm Văn L và bà Hoàng Thị N vắng mặt không có lý do lần thứ 2; Đại diện cho UBND xã G có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn trình bày ý kiến việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự quá trình giải quyết vụ án: Về mặt tố tụng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã xác định đúng, đầy đủ những người tham gia tố tụng, tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm thủ tục tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 164, 166, 175, 579 Bộ luật Dân sự; Các Điều 12; Điều 166; Điều 170; Điều 202; Điều 203 Luật Đất đai; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị: Xử Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn T và bà Phạm Thị C về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Buộc ông Lâm Văn L và bà Hoàng Thị N tháo dỡ phần mái tôn, tường rào, trả lại phần diện tích đất lấn chiếm là 26,8m2; dỡ bỏ tường rào chắn lối vào phần đất của ông Lâm Văn T và bà Phạm Thị C; di chuyển các cây xanh do ông L, bà N trồng trên phần diện tích 218m2 thuộc quyền sử dụng của ông Lâm Văn T, bà Phạm Thị C tại thửa đất số 53, tờ bản đồ số 14, địa chỉ tại xóm Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

Về án phí: ông Lâm Văn T và bà Phạm Thị C tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) ông T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân huyện Gia Viễn theo Biên lai thu phí số AA/2021/003985 ngày 24/02/2022.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

1.1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất; có địa chỉ tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn.

1.2. Về thời hiệu khởi kiện: theo quy định tại Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 158 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tranh chấp về quyền sử dụng đất không áp dụng thời hiệu.

1.3. Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và áp dụng pháp luật:

  • - Về quan hệ pháp luật: ông Lâm Văn T và bà Phạm Thị C khởi kiện, yêu cầu gia đình ông Lâm Văn T, bà Hoàng Thị N trả lại phần đất đã lấn chiếm, tháo dỡ di dời công trình xây dựng và cây trồng trên đất nên quan hệ pháp luật được xác định là “ Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
  • - Về tư cách đương sự: Xác định ông Lâm Văn T và bà Phạm Thị C là nguyên đơn; ông Lâm Văn L và bà Hoàng Thị N là bị đơn; UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
  • - Về áp dụng pháp luật: phần diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận từ năm 2007, các bên không có ý kiến gì về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên áp dụng Luật Đất đai năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết.

1.4. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ,

Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật, nhưng ông Lâm Văn L, bà Hoàng Thị N là bị đơn từ chối nhận, tại phiên tòa ông L và bà N vắng mặt không có lý do; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung

[2.1]. Về nguồn gốc đất tranh chấp và quá trình sử dụng: Nguồn gốc 416 m2 đất, thuộc thửa đất số 53, tờ bản đồ 14 xã G, huyện G là do bố mẹ của ông T, ông L để lại, có sự thống nhất của bà Trần Thị T3 (mẹ đẻ của hai ông) và toàn bộ các con của bà T3 chia đều cho ông T và ông L mỗi ông 218m2. Ngày 02/01/1997, ông Lâm Văn T và ông Lâm Văn L được UBND huyện G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; theo hồ sơ địa chính xã G lập năm 1995, chỉnh lý năm 2000, gia đình ông Lâm Văn T và ông Lâm Văn L, mỗi ông được cấp diện tích sử dụng 218m2 đất ở; các ông đều đã nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình và không thắc mắc, khiếu nại gì.

Ông Lâm Văn T, bà Phạm Thị C khởi kiện vì cho rằng ông Lâm Văn L và bà Hoàng Thị N đã xây dựng phần mái tôn và tường rào lấn chiếm diện tích khoảng 26,8m2, ngoài ra ông L, bà N còn xây dựng tường bao và cổng sắt khóa chặt, chắn lối vào và trồng cây trên phần đất 218m2 của gia đình ông T, bà C. Ông Lâm Văn L, bà Hoàng Thị N cho rằng ông bà đang sử dụng đúng phần diện tích đất của mình, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.2]. Xét yêu cầu khởi kiện trả lại đất lấn chiếm của nguyên đơn

Các bên đều thừa nhận nguồn gốc các thửa đất đang chấp là của cha mẹ để lại và được phân chia cho mỗi ông Lâm Văn L, Lâm Văn T là 218m2 đất ở; Ông Lâm Văn L, ông Lâm Văn T đều đã được UBND huyện G, tỉnh Ninh Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nêu trên. Gia đình ông L, gia đình ông T đều không khiếu nại về diện tích đất và đều sử dụng ổn định từ khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không khiếu nại hay tranh chấp gì về việc cấp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện G.

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và đo vẽ hiện trạng thửa đất tranh chấp ngày 11/9/2023 thể hiện, phần diện tích 218m2 đất ở mà ông Lâm Văn T, bà Phạm Thị C cho rằng đang bị lấn chiếm, được xác định bởi các điểm mốc (1, n, e, d, c, b, 6); phần mái tôn lấn chiếm xây dựng trên phần đất này được giới hạn bởi các điểm (c, d, e, f, h); phần tường rào bên dưới mái tôn được giới hạn bởi điểm (g,k); phần tường bao, cổng sắt khóa lối vào diện tích đất tranh chấp được giới hạn bởi các điểm (6,b) và (b,a); các cây do ông Lâm Văn L trồng trên diện tích đất 218m2 gồm: Cây bưởi (1), cây lộc vừng (1); cây mít (1). Phần đất ông L, bà N đang quản lý sử dụng được giới hạn bởi các điểm (2,3,4,5,d,n) có diện tích khoảng 230,8m2.

Ngày 30/8/2023, UBND huyện G có văn bản số 1445/UBND-TNMT gửi Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn với nội dung: Ông Lâm Văn T và ông Lâm Văn L là chủ sử dụng thửa đất số 53, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: xóm Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình, trong đó: ông T và ông L mỗi người được sử dụng 218m2. Năm 1997, UBND huyện G đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phần đất mà mỗi người sử dụng.

Đối với hộ ông Lâm Văn T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1655863 mang tên ông Lâm Văn T, diện tích 218m2 tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; cấp năm 1997, đất có vị trí:Phía Đông giáp ngõ đi chung; Phía Nam giáp đất ông Lâm Văn L; Phía Tây giáp đất ông H; Phía Bắc giáp đất ông L1

Như vậy, cần xác định ông Lâm Văn L, ông Lâm Văn T đều thừa nhận diện tích mình đang sử dụng đúng Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất nên Hội đồng xét xử thấy, cơ sở pháp lý để xác định diện tích đất tranh chấp và ranh giới đất của các bên phải căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đình ông Lâm Văn T, gia đình ông Lâm Văn L năm 1997 và văn bản số 1445/UBND-TNMT, ngày 30/8/2023 của UBND huyện G.

Xét thấy: Trên cơ sở kết quả xem xét thẩm định của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, thể hiện phần mái tôn và các công trình ông L, bà N xây dựng, cây xanh ông L, bà N trồng nằm trên phần diện tích 218m2 như ông T trình bày; Căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đình ông Lâm Văn T năm 1997; văn bản số 1445/UBND-TNMT, ngày 30/8/2023 của UBND huyện G chính là cơ sở pháp lý để xác định diện tích đất và ranh giới đất của các gia đình. Do đó, việc ông Lâm Văn T, bà Phạm Thị C khởi kiện yêu cầu ông Lâm Văn L trả lại phần đất lấn chiếm là có cơ sở để chấp nhận.

[2.3]. Đối với yêu cầu buộc tháo dỡ công trình, di chuyển cây trồng trên đất lấn chiếm:

Qua kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11/9/2023 và 22/8/2022 đã ghi nhận hiện trạng tài sản, công trình trên đất, xác định phần mái tôn kết cấu dạng khung cột liên kết đơn giản; tường rào, tường bao kèm cổng sắt khóa lối vào khu đất đang có tranh chấp đều không phải là công trình kiên cố nên có thể tháo dỡ được, do vậy cần buộc ông Lâm Văn L và bà Hoàng Thị N phải tháo dỡ toàn bộ phần mái tôn lấn chiếm; buộc tháo dỡ tường rào, tường bao kèm cổng sắt để trả lại diện tích 26,8m2đất lấn chiếm, hoàn trả mặt bằng cho ông Lâm Văn T, bà Phạm Thị C là có cơ sở chấp nhận.

Đối với yêu cầu di chuyển cây trồng trên đất, qua kết quả xem xét thẩm định, các bên đều xác định ông Lâm Văn L có trồng 03 cây gồm Cây bưởi (1), cây lộc vừng (1); cây mít (1) đều là các loại cây có thể di chuyển do vậy cần buộc ông Lâm Văn L và bà Hoàng Thị N phải di dời Cây bưởi (1), cây lộc vừng (1); cây mít (1) ra khỏi đất của ông T, bà C.

[3]. Về chi phí tố tụng:

Ông Lâm Văn T, bà Phạm Thị C tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Ông Lâm Văn T và bà Phạm Thị C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Ông Lâm Văn L và bà Phạm Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Căn cứ theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; ông Lâm Văn L và bà Hoàng Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Tại phiên Tòa ông Lâm Văn T xác định ông và bà C tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm thay cho ông Lâm Văn L và bà Hoàng Thị N; xét đây là sự tự nguyện của ông L và bà C, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông L, bà Nguyên do v Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Căn cứ các Điều 164, 166, 175, 579 Bộ luật Dân sự;
  • - Căn cứ Điều 12; Điều 166; Điều 170; Điều 202; Điều 203 Luật Đất đai;
  • - Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn T và bà Phạm Thị C.

[1.1]. Buộc ông Lâm Văn L và bà Hoàng Thị N phải trả lại cho ông Lâm Văn T và bà Phạm Thị C phần đất có diện tích 26,8m2 (giới hạn bởi các điểm mốc c, d, e, f, h) trên sơ đồ kèm theo bản án.

[1.2]. Buộc ông Lâm Văn L và bà Hoàng Thị N phải tháo dỡ, di dời nguyên vật liệu gồm: 01 phần mái tôn (giới hạn bởi các điểm mốc c, d, e, f, h); 01 tường rào (điểm mốc g ÷ k); 01 đoạn tường rào (điểm mốc 6 ÷ b); 01 cổng rào (điểm mốc a÷b) để trả lại mặt bằng đất cho ông Lâm Văn T và bà Phạm Thị C.

Buộc ông Lâm Văn L và bà Hoàng Thị N di chuyển cây trồng gồm cây Bưởi (1), cây Lộc vừng (1), cây M (1) để trả lại mặt bằng đất cho ông Lâm Văn T.

(Kèm theo Bản án là bản đo vẽ hiện trạng thửa đất và tài sản trên đất)

[2]. Về án phí: ông Lâm Văn T và bà Phạm Thị C tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) ông T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân huyện Gia Viễn theo Biên lai thu phí số AA/2021/003985 ngày 24/02/2022.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 25/4/2024. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình
  • - VKSND huyện Gia Viễn;
  • - Chi cục THADS huyện Gia Viễn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Vp.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lã Hoàng Giáp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/DS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 01/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhân yêu cầu khởi kiện Nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger