TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/HS-ST Ngày 24-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Huấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lầu A Tính và ông Vi Văn Thuy
- Thư ký phiên toà: Bà Vi Tố Uyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện M, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thương, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên.
Trong ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện M xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Quàng Văn Đ, sinh năm 1998, tại huyện T, tỉnh Sơn La.
Tên gọi khác: Không có tên gọi khác.
Nơi ĐKHKTT: Bản H, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La.
Chỗ ở hiện nay: Bản M 3, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 6/12.
Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Quàng Văn K, sinh năm 1975.
Con bà: Tòng Thị D, sinh năm 1960.
Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Có 02 tiền án; ngày 08/7/2019, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cao Bằng xử phạt bị cáo Quàng Văn Đ 21 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 24/9/2021, Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. bị cáo chấp hành hình phạt tù đến ngày 14/11/2023 ra trại.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bị cáo đã bị Tòa án xét xử chưa được xóa án tích, bị cáo không bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 30/6/2024, tạm giam từ ngày 09/7/2024 đến ngày xét xử, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 27/6/2024, Quàng Văn Đ ứng số tiền 1.600.000 đồng của chủ công trình bị cáo làm thuê ở bản M 3, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên đi về bản X, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên tìm mua Heroine để sử dụng. Bị cáo đi xe khách đến nơi gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Thái bị cáo không rõ lai lịch 01 gói Heroine được gói trong 01 mảnh nilon trong suốt với giá 800.000 đồng. Mua được Heroine, bị cáo cất trong túi quần đang mặc rồi ra đường bắt xe khách quay về xã M huyện M. Về đến lán công trình, bị cáo lấy ra một ít sử dụng, số Heroine còn lại bị cáo lại cất vào túi quần mặc trên người rồi đi làm việc. Khoảng 21 giờ 50 phút ngày 30/6/2024, bị cáo ra khu vực đường mòn thuộc bản M 3, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên lấy gói Heroine chuẩn bị sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện M phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 01 gói Heroine có khối lượng 3,78 gam.
Cáo trạng số 55/CT-VKS-MN ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Quàng Văn Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên phạt bị cáo Quàng Văn Đ từ 05 đến 06 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng của vụ án.
Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Quàng Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện M tỉnh Điện Biên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về chứng cứ phạm tội:
Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 22 giờ 00 phút ngày 30/6/2024 bút lục 01, 02 chứng minh bị cáo Quàng Văn Đ bị bắt khi đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác Công an huyện M đã tạm giữ của bị cáo 01 gói nilon trong suốt, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, và niêm phong vật chứng gửi giám định hồi 08 giờ 45 phút ngày 01/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M bút lục số 05 thì khối lượng vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Quàng Văn Đ là 3,78 gam nghi là Heroine gửi toàn bộ đi giám định.
Kết luận giám định số 1197/KL-KTHS ngày 07/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên bút lục số 07 đã kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Quàng Văn Đ là 3,78 gam chất bột màu trắng thể rắn là chất ma túy, loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bị cáo Quàng Văn Đ có tội. Bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Chứng cứ xác định bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Quàng Văn Đ có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
[2] Về tính chất mức độ phạm tội:
Khối lượng gói Heroine thu giữ của Quàng Văn Đ là 3,78 gam. Khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ ở trong khoảng từ 0,1 đến dưới 05 gam. Tuy nhiên, ngày 08/7/2019, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cao Bằng xử phạt bị cáo Quàng Văn Đ 21 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tiếp theo, ngày 24/9/2021, Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo chấp hành hình phạt tù đến ngày 14/11/2023 ra trại. Bản án này áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm đối với bị cáo. Ngày 30/6/2024, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian chưa đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại khoản 1 Điều 70 của Bộ luật hình sự. Đây là tình tiết định khung hình phạt về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự (tái phạm nguy hiểm). Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo trở nên rất nghiêm trọng với khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù.
[3] Về nhân thân của bị cáo:
Bị cáo Quàng Văn Đ sinh ra và lớn lên ở huyện T, tỉnh Sơn La, tuổi đời của bị cáo còn rất trẻ nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân đã sớm thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật và nhiều lần bị Tòa án xét xử. Cũng từ lối sống buông thả bị cáo sử dụng ma túy nhiều năm mà chưa từ bỏ được. Đây cũng là nguyên nhân chính bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối chiếu các quy định tại khoản 1 của Điều 52 Bộ luật hình sự thì bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Nhận định trên đây là cơ sở để chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn phải nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cai nghiện ma túy đồng thời cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
[6] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về hình phạt bổ sung:
Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, tài sản trong gia đình không có gì giá trị, bị cáo không giữ chức vụ gì trong xã hội, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Quàng Văn Đ.
[8] Về vật chứng: Vật chứng là 3,78 gam Heroine, gửi toàn bộ đi giám định và được hoàn lại 3,63 gam là vật cấm tàng trữ, lưu hành và 01 mảnh nilon trong suốt không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điểm a Khoản 1 Điều 23; khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
[10] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
[11] Các vấn đề khác: Nguồn gốc ma túy bị thu giữ bị cáo khai nhận mua một người đàn ông dân tộc Thái bị cáo không rõ lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không đủ cơ sở để xác minh làm rõ đối tượng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Quàng Văn Đ 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 30/6/2024.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 3,63 gam Heroine và 01 mảnh nilon trong suốt là vật chứng còn lại sau giám định. Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng hồi 09 giờ 00 phút ngày 09/10/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M.
4. Án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo Quàng Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Quàng Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 24/10/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Mạnh Huấn |
Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 01/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Quàng Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
